Quan hệ giữa doanh nghiệp với tổ chức tín dụng - Pdf 27

TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
Mục lục
Nội dung Trang
1. Tiền tệ 2
2. Tín dụng và lãi suất tín dụng 6
3. Quan hệ giữa doanh nghiệp với tổ chức tín dụng 15
4. Phân tích hoạt động của ngân hàng thương mại 29
5. Tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế 31
Written byNguyễn Duy Đào 1/32
TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
1. Tiền tệ
Định nghĩa: Tiền là bất kỳ một phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho
việc giao hàng và thanh toán công nợ. Nó là một phương tiện trao đổi.
Chức năng của tiền tệ
Theo Karl Marx và các trường phái kinh tế học cổ điển: Tiền tệ có 5 chức năng:
- Thước đo giá trị: Thước đo giá trị là chức năng cơ bản thứ 1 của tiền tệ thông qua giá
trị của tiền tệ để đo lường và biểu hiện giá trị cho các hàng hoá khác và chuyển giá trị
của hàng hoá thành giá cả.
- Phương tiện lưu thông: Đây là chức năng cơ bản thứ 2 của tiền tệ. Với chức năng này
tiền được dùng làm trung gian môi giới cho quá trình trao đổi hàng hoá, là phương
tiện để thực hiện giá trị của hàng hoá, là phương tiện để tạo sự chuyển hoá CT H-T-
H’.
- Phương tiện thanh toán: Tiền trong chức năng phương tiện thanh toán xuất hiện như 1
phương tiện để thanh toán các khoản nợ. Đặc điểm của tiền trong chức năng thanh
toán là sự vận động của tiền độc lập tương đối với sự vận động của hàng hoá và dịch
vụ, giữa chúng có sự tách rời cả về không gian và thời gian.
- Phương tiện cất trữ: Phương tiện cất trữ là chức năng xã hội vốn có của tiền tệ. Trong
chức năng này, tiền được rút ra khỏi lưu thông để cất trữ để thoả mãn các nhu cầu
mua hàng sau này.
- Tiền tệ thế giới: Tiền tham gia với tư cách là thước đo chung, phương tiện mua hàng
và thanh toán chung đồng thời là phương tiện để di chuyển của cải.

TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
 Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng
 Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: Để đảm bảo số lượng của nó đủ
dùng trong trao đổi
 Có tính đồng nhất: Các đồng tiền cùng mệnh giá phải có sức mua ngang
nhau
• Chức năng là đơn vị đánh giá:
- Nội dung chức năng:
Chức năng thứ 2 của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị
để do giá trị các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Qua việc thực hiện chức năng này,
giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối lượng
bằng Kg, đo độ dài bằng m …. Nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diền ra thuận
tiện hơn.
- Ý nghĩa:
Nếu giá trị hàng hoá không có một đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được định
giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt ahngf trong nền
kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng
hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dnàh cho việc đọc giá hàng hoá. Khi giá của các
hàng hoá, dịch vụ được thể hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng
hoá mà việc đọc bảng giá hàng hoá cũng sẽ đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian
ít hơn sử dụng cho các giao dịch.
Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm phương tiện
trao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỷ
lệ trao đổi được hình thành theo tập quán – tức là ngay khi mới ra đời, việc sử dụng tiền
làm phương tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá.
Đầu tiên những phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hoá cũng
có giá trị như các hàng hoá khác. Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hoá
khác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các hàng hoá khác ( Theo phân tích của
Marx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị hàng hoá: giá trị hàng hoá được
biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá

hoá vừa đơn giản, thuận lợi vừa thống nhất làm cho sự vận động hàng hoá trong lưu
thông được tiến hành 1 cách trôi chảy, giúp người SXKD hạch toán được chi phí và kết
quả SX, thực hiện tích luỹ để mở rộng quy mô SX.
- Thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế: Tiền tệ trở thành phương tiện cho việc thực
hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Nhờ đó mà các mối quan hệ nhiều mặt giữa các
quốc gia trên TG được hình thành và phát triển làm cho xu thế hoà nhập trên các lĩnh
vực: kinh tế, kỹ thuật, tài chính, tiền tệ,… có cơ hội phát triển.
Khái quát về ổn định tiền tệ
- Ổn định tiền tệ chính là ổn định giá trị của đồng tiền, theo nghĩa rộng bao gồm ổn định
giá trị đối nội và giá trị đối ngoại của tiền tệ.
Trong chế độ lưu thông tiền tệ có đầy đủ giá trị, tiền giấy và tiền vàng có giá trị như
nhau. Tiền tệ có giá trị nội tại, có khả năng tự điều hoà số lượng tiền tệ cần thiết trong
lưu thông. Khi tiền lên giá, dự trữ tiền của các cá thể tăng trong lưu thông và ngược lại.
Giá trị của tiền tệ thường ngang bằng với sức mua. Tuy nhiên sự thống nhất này chỉ là
tương đối. Sự ổn định của tiền tệ phụ thuộc vào sự ổn định của chính kim loại tiền tệ.
Vai trò can thiệp của Nhà nước chủ yếu là tăng khối lượng vàng bạc dự trữ để sẵn sàng
đáp ứng nhu cầu lưu thông tiền tệ.
Trong chế độ lưu thông tiền dấu hiệu, giá trị danh nghĩa của tiền tệ bị tách rời khỏi giá
trị nội tại của nó và được thể hiện dưới hình thức sức mua: nó có khả năng tự phát điều
hoà số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông như tiền đầy đủ giá trị. Vì vậy ổn định
tiền tệ chính là ổn định sức mua của tiền tệ. Vai trò can thiệp của Nhà nước hết sức to
lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – chính trị – xã hội.
- Ổn định tiền tệ thể hiện qua việc kiểm soát lạm phát. Lạm phát xảy ra khi chỉ số giá của
một năm tăng lên so với năm trước, sức mua của đồng tiền giảm sút. Việc kiểm soát
lạm phát và duy trì lạm phát ở mức độ thấp, tiền lương thực tế của người lao động được
đảm bảo, góp phần ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân. Lạm phát ở mức thấp
cũng tạo ra sự tin tưởng của các nhà đầu tư, người tiêu dùng vào giá trị của đồng tiền,
qua đó thúc đẩy mở rộng và chi tiêu đầu tư, tiêu dùng, làm tăng tổng cầu, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Ngược lại, khi lạm phát ở mức độ cao, sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng
trưởng kinh tế.

cao hiệu quả cơ chế quản lý và kiểm soát tài chính.
. Cân đối ngân sách một cách tích cực, ưu tiên khai thác nội lực
+ Chính sách tiền tệ: Sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ:
Trong điều kiện nền kinh tế và hệ thống tài chính chưa phát triển, NHTW chủ yếu sử
dụng các công cụ trực tiếp như trực tiếp ấn đinh lãi suất, giới hạn KL tín dụng cung
cấp:
. Ấn định lãi suất: bao gồm việc ấn định lãi suất tiền gửi, ấn định khung lãi suất tiền
gửi và cho vay: tăng lãi suất
. Ấn định hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng để giảm việc cấp tín dụng cho
người vay
. Phát hành tín phiếu NHTW: để làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông
Với những nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, hệ thống NH đã phát triển ở
mức độ cao, NHTW chủ yếu sử dụng các công cụ gián tiếp:
. Dự trữ bắt buộc: Là số tiền mà các TCTD phải duy trì theo quy định của NHTW. Nó
được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi trong một khoảng
thời gian nhất định.
Dự trữ bắt buộc =
Tổng số tiền gửi phải
tính dự trữ bắt buộc
x Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Khi lạm phát cao, NHTW quy định tăng dự trữ bắt buộc. Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, làm giảm khả năng cho và đầu tư của Tổ chức TD. Do đó làm giảm
tiền trong lưu thông.
. Lãi suất chiết khấu: giảm lãi suất chiết khấu
. Phát triển thị trưởng mở: NHTW bán giấy tờ có giá trên thị trường tài chính, nhằm
mục tiêu giảm lượng tiền trong lưu thông.
+ Chính sách thu nhập: là tập hợp các chính sách về giá cả vàtiền lương của Chính phủ.
Đẻ chống lạm phát cao, Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát về tiền lương và giá
cả. Chính phủ xây dựng hệ thống giá áp dụng cho thị trường và kiểm soát chặt chẽ việc
tăng tiền lương. Thực tế cho thấy biện pháp kiểm soát trực tiếp giá cả và tiền lương ko

. Nghiệp vụ thị trường mở: mua các giấy tờ có giá trên thị trường để tăng lương tiền
trong lưu thông
+ Chính sách kinh tế đối ngoại: Tăng cường đầu tư trực tiếp, đầy mạnh xuất khẩu, hạn
chế nhập khẩu
2. Tín dụng và lãi suất tín dụng
Định nghĩa: Tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa
các tác nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hoá.
Chức năng của tín dụng (2):
• Tập trung và phân phối lại tiền tệ nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả
Các tác nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hoá luôn ở trong 2 trạng thái : Tạm thời
thừa và tạm thời thiếu vốn. Hai thái cực này là mâu thuẫn vốn có của nền kinh tế hàng hoá.
Mẫu thuẫn này được giải quyết bằng hoạt động của các laọi hình tín dụng. Việc diều hoà
này của tín dụng hoặc trực tiếp từ nơi thừa sang nơi thiếu tài sản hoặc gián tiếp qua các
trugn gian tài chính như qua hoạt động của hệ thống NH. Song sự điều hoà này mang tính
chất tạm thời (phải hoàn trả sau một thời gian) và thông thuờng phải trả giá - đây cũng là
nguyên tắc cao nhất của tín dụng.
Như vậy quá trình tập trung và phân phối lại vốn của tín dụng là quá trình tập trung và
phân phối lại nguồn hàng hoá - vật tư, thiết bị.. và sức lao động trong toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Với chức năng phân phối lại của cải trong xã hội, tín dụng có tác động mạnh mẽ đến đời
sống kinh tế – xã hội xét cả về mặt tích cực cũng như tiêu cực. Nếu việc phân phối lại này
phù hợp với nhu cầu khách quan cuỉa đời sống kinh tế – xã hội sẽ góp phần thúc đẩy sx
kinh doanh phát triển và ngược lại nó sẽ hoặc kìm hãm sản xuất kinh doanh hoặc đẩy sx
kinh doanh phát triển quá mức, tiêu dùng vượt quá khả năng hiện thực góp phần tạo ra lạm
phát hoặc thiểu phát.
• Giám đốc bằng tiền đối với các hoạt động kinh tế xã hội:
Written byNguyễn Duy Đào 6/32
TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
Trong quá trình phân phối lại của cải xã hội, các chủ thể tín dụng sẽ thực hiện sự kiểm
tra,giám sát lẫn nhau nhằm trước hết là bảo vệ lợi ích của mình. Đồng thời sự kiểm tra

quốc tế.
• Góp phần nâng cao đồi sống vật chất – văn hoá của người lao động
Các hình thức tín dụng
Căn cứ vào chủ thể tín dụng người ta phân biệt các laọi tín dụng thành: Tín dụng thương
mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng.
• Tín dụng thương mại:
Định nghĩa: Tín dụng thương mại là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh
nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua, bán chịu hàng hoá.
Đặc điểm của TDTM: 3 đặc điểm
- Thứ nhất: Đối tượng của TDTM là hàng hoá. Nghĩa là vốn cho vay còn tồn tại dưới
đạng hàng hoá, là một bộ phận của vốn sản xuất được chuyển hoá thành tiền (H’ – T’)
chứ chưa phải là tiền nhàn rỗi.
- Thứ hai: Người đi vay và cho vay là các doanh nghiệp đang trực tiếp tham gia vào
quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong quan hệ này người cho vay là người
bán chịu, người chủ nợ. Còn người đi vay là người mua chịu, là con nợ.
Written byNguyễn Duy Đào 7/32
TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
- Thứ ba: Quá trình vận động và phát triển của tín dụng thương mại gắn liền với sự vận
động của quá trình tái sản xuất xã hội. Bởi vì khối lượng TDTM lớn hay nhỏ tuỳ thuộc
và tổng giá trị của khối lượng hàng hoá được đưa ra mua bán chịu.
TDTM là khâu không thể thiếu được của quá trình tái sx xh. Nó giúp cho quá trình tái sx xh
không bị gián đoạn, bởi vì các đơn vị vay chưa có tiền nhưng vẫn có hàng hoá để tiếp tục
quá trình sản xuất. Còn các đơn vị bán không sợ hàng hoá ứ đọng, vì chúng được tiêu thụ
ngay khi chu kỳ sx chưa kết thúc. Như vậy mua bán chịu làm cho quá trình sx xh đảm bảo
được tính liên tục.
Hạn chế của TDTM:
- Thứ nhất : TDTM bị giới hạn về quy mô tín dụng, nghĩa là nó bị giới hạn bởi khối
lượng hàng hoá bán chịu. Đơn vị cho vay không thể bán quá số hàng mà mình có, và
đơn vị đi vay không thể mua quá số hàng mà mình muốn mua. Như vậy mâu thuẫn giữa
nhu cầu và khả năng cung cấp hàng hoá bán chịu – cho vay trong TDTM là hiện tượng

+ Thương phiếu đích danh: Ghi rõ tên người hưởng số tiền trên thương phiếu. Loại này
không được ký chuyển nhượng, người mặc nợ chỉ chấp nhận thanh toán cho người có
tên trên thương phiếu
+ Thương phiếu ký danh: Cũng ghi tên người được hưởng, nhưng nó khác thương
phiếu đích danh ở chỗ người sở hữu có quyền ký chuyển nhượng cho người khác. Loại
thương phiếu này được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế thị trường
Dựa trên cơ sở ngưòi lập thương phiếu:
Written byNguyễn Duy Đào 8/32
TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
+ Lệnh phiếu thương mại: Do người mua chịu lập, cam kết sau một thời gian sẽ thanh
toán toàn bộ số nợ cho người bán chịu.
+ Hối phiếu: Do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu khi đến hạn, phải thanh
toán tiền ngay cho người bán chịu hay cho bất cứ người nào xuất trình hối phiếu này.
Phân biệt hối phiếu và lệnh phiế u
“Thương phiếu” là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh
toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu
gồm hối phiếu và lệnh phiếu.
Lệnh phiếu Hối phiếu
“Lệnh phiếu” là chứng chỉ có giá do người phát
hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một
số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời
gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
“Hối phiếu” là chứng chỉ có giá do người ký
phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán
không điều kiện một số tiền xác định khi có
yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định
trong tương lai cho người thụ hưởng.
Lệnh phiếu phải có đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Từ “Lệnh phiếu” được ghi trên mặt trước của
lệnh phiếu;

bị ký phát để chấp nhận. Người bị ký phát
thực hiện việc chấp nhận ngay khi hối phiếu
được xuất trình. Hối phiếu được coi là bị từ
chối chấp nhận, nếu không được người bị ký
phát ký chấp nhận ngay khi xuất trình.
2. Người thụ hưởng phải xuất trình hối phiếu
cho người bị ký phát để đề nghị chấp nhận
trước khi chuyển nhượng hoặc trong trường
hợp hối phiếu được thanh toán sau thời hạn
xác định, kể từ ngày hối phiếu được chấp
nhận.
. Hình thức chấp nhận
1. Việc chấp nhận phải được thể hiện bằng
việc người bị ký phát ghi trên tờ hối phiếu từ
“chấp nhận”, số tiền đã ghi trên hối phiếu,
ngày ký chấp nhận và chữ ký của mình.
2. Trong trường hợp chỉ chấp nhận một phần
số tiền đã ghi trên hối phiếu, người bị ký phát
phải ghi rõ từ “chấp nhận”, số tiền chấp nhận,
ngày ký chấp nhận và chữ ký của mình.
Cam kết chấp nhận
- Việc chấp nhận của người bị ký phát là
không điều kiện.
Written byNguyễn Duy Đào 9/32
TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
- Khi đến hạn thanh toán, người chấp nhận có
nghĩa vụ thanh toán số tiền đã chấp nhận ghi
trên hối phiếu.
Nghĩa vụ của người chấp nhận
Bằng việc chấp nhận một hối phiếu, người

Hoạt động TDNH bao gồm 2 nghiệp vụ độc lập tương đối : Huy động vốn và cho vay.
Thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, NH là người đi vay. Sử dụng nguồn đầu tư cho các tác
nhân và thể nhân, NH là người cho vay. Như vậy, NH là người đóng vai trò là tổ chức kih
tế trung gian: Đi vay để cho vay
- Quá trình vận động và phát triển của TDNH độc lập tương đối với ự vận động và phát
triển của quá trình tái sx xh
Vốn TD là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình tái sx xh. Như vậy nếu khối
lượng hàng trong lưu thông tăng lên, thì nhu cầu vốn trong đó có vốn TDNH cũng tăng lên.
trường hợp này, vốn của TDNH vận động phù hợp với sự vận động và phát triển của quá
trình tái sx xh. Nhưng trong nhiều trường hợp, vốn TDNH khồng tham gia vào quá trình sx
và lưu thông hàng hoá. Màchúng được sử dụng vào mục đích phi sx như tái chiết khấu
hoặc tái cầm cố các thương phiếu ‘khống’ , các loại trái khoán chính phủ. Hoặc trong thời
kỳ kinh tế bị khủng hoảng, sx và lưu thông hàng hoá bị co hẹp, nhưng nhu cầu tín dụng vẫn
gia tăng nhưng không phải cho mục đích tái sx mà để trả nợ. Ngược lại trong thời kỳ kinh
tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sx, hàng hoá luân chuyển và tăng rất mạnh
nhưng TDNH lại không đáp ứng kịp.
Written byNguyễn Duy Đào 10/32
TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
Công cụ lưu thông của TDNH: rất đa dạng và phong phú. Để tập trung các nguồn tiền tệ
trong xã hội NH sử dụng các công cụ như kỳ phiếu NH, chứng chỉ tiền gửi, các số tiết
kiệm,…Để cung ứng tín dụng cho các DN, NH sử dụng công cụ chủ yếu là các khế ước
vay, hợp đồng tín dụng,…
Tác dụng của TDNH (ưu thế hơn so với TDTM)
- TDNH mở rộng cho mọi đối tượng xã hội, xâm nhập vào các ngành, các lĩnh vực với
các quy mô lớn, nhỏ khác nhau.
- TDNH có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế với số lượng rất lớn, với nhiều thời hạn
khác nhau đáp ứng vốn KD, nâng cao năng lực SX của các DN, đẩy nhanh tốc độ phát
triển của nền kinh tế
- Có tác động và ảnh hưởng lớn đối với tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước: nhờ
hoạt động TDNH vốn tiền tệ của xã hội được huy động và sử dụng tối đa cho nhu cầu

Tổng số vốn cho vay phát ra trong kỳ
• Các loại lãi suất:
 Dựa vào tiêu thức thời gian vay mượn: Lãi suất ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
 Dựa vào tiêu thức biến động của giá trị tiền tệ trong vay mượn: lãi suất danh nghĩa,
lãi suất thực.
- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất mà người cho vay được hưởng, không tính
đến sự biến động của giá trị tiền tệ.
- Lãi suất thực: Là lãi suất sau khi đã loại trữ sự biến động của giá trị tiền tệ,
như làm phát hoặc lên giá tiền tệ.
 Căn cứ vào tiêu thức loại tiền vay mượn: lãi suất nội tệ, lãi suất ngoại tệ
Written byNguyễn Duy Đào 11/32
TIỀN TỆ - TÍN DỤNG Nguyễn Duy Đào
 Căn cứ vào mức độ ưu đãi đối với người vay: lãi suất thương mại, lãi suất ưu đãi
 Căn cứ vào tiêu thức dao động của lãi suất trong thời hạn vay mượn: lãi suất cố
định, lãi suất khả biến
 Căn cứ vào tiêu thức quản lý: lãi suất chỉ đạo và lãi suất kinh doanh
- Lãi suất chỉ đạo do Ngân hàng Trung ương công bố dưới các dạng như lãi suất tái
chiết khấu, lãi suất trần, lãi suất sàn, lãi suất cơ bản,…Tác dụng của lãi suất chỉ đạo
dùng để điều khiển hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, làm căn
cứ cho việc xác định lãi suất kinh doanh.
+ Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTW dành cho các
NHTM, trong trường hợp tái cấp vốn cho NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết
khấu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc của các NHTM để từ
đó các NHTM ấn định nên lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung
lãi suất được phép.
+ Lãi suất sàn và lãi suất trần: Là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một khung lãi
suất nào đó mà NHTW ấn định cho các NHTM. Hoặc do NHTM quy định trong hệ
thống của mình nhằm thống nhất các hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
+ Lãi suất cơ bản: là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các NHTM và các
TCTD ấn định lãi suất kinh doanh

trường phân thành 2 cấp rõ rệt: NH quốc giá VN đóng vai trò là NHTW, các tổ chức
Written byNguyễn Duy Đào 12/32


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status