Lời mở đầu
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, quản trị tài
chính là công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý kinh tế cả về mặt vĩ mô
và vi mô. Hoạt động trong cơ chế thị trờng, việc tồn tại và phát triển là vấn đề
sống còn đối với doanh nghiệp, trong đó lợi nhuận là động lực chính hớng
dẫn và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn có
lợi nhuận, cơ chế thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thờng
xuyên quan tâm đến chi phí sản xuất. Do đó công tác quản lý chi phí là công
việc trọng tâm và luôn đợc xoay quanh trớc các quyết định quản trị tài chính.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trờng có điều tiết
và cạnh tranh, khi quyết định lựa chọn phơng án sản xuất một sản phẩm nào
đó doanh nghiệp luôn phải tính đến lợng chi phí bỏ ra và kết quả thu về.
Doanh nghiệp có tồn tại hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có đảm
bảo bù đắp đợc chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất hay không. Nghĩa là
doanh nghiệp phải tính toán hợp lý chi phí sản xuất và thực hiện quá trình sản
xuất theo đúng kế hoạch đã đặt ra.
Chi phí và giá thành là chỉ tiêu chất lợng quan trọng phản ánh kết quả
việc quản lý sử dụng vật t, lao động, tiền vốn. Phấn đấu tiết kiệm chi phí sản
xuất là mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp và cũng là vấn đề quan tâm
của toàn xã hội. Vì vậy, công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh là khâu
quan trọng đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời chính xác về kết quả hoạt
động sản xuất, đáp ứng cho việc ra quyết định quản lý, là yếu tố đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng, tăng trởng và phát triển nền
kinh tế nói chung.
Sau một thời gian thực tập tại xí nghiệp 24 - xí nghiệp thành viên của
Công ty 22 - TCHC - BQP, tìm hiểu đợc thực trạng quản lý kinh tế của xí
nghiệp kết hợp với những nhận thức của bản thân về tầm quan trọng cả công
tác quản lý chi phí sản xuất, em đã lựa chọn đề tài "Chi phí sản xuất kinh
doanh và các biện pháp quản lý chi phí x kinh doanh tại xí nghiệp 24" cho
luân văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đợc kết cấu theo 3 chơng.
cách tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm,
tăng chất lợng hàng hoá bán ra để tăng sức cạnh tranh, từng bớc chiếm lĩnh
thị trờng trong nớc và trên thế giới.
Vì vậy để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng, doanh nghiệp tất
yếu phải đặt công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh vào vị trí trọng tâm
then chốt. Bởi quản lý chi phí, giá thành sản phẩm sẽ tạo điều kiện để doanh
nghiệp đi vào hoạt động kinh doanh có lãi, thực hiện những mục tiêu đề ra.
1.1.2. Những tác động của môi trờng kinh doanh đến hoạt động của
doanh nghiệp
Trong xã hội nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói
riêng không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại biệt lập. Thực tế hiển nhiên
là khi muốn thành đạt, doanh nghiệp không chỉ phải nắm vững nguồn lực bên
trong mà còn phải nắm vững cả nguồn lực bên ngoài để có thể tận dụng đợc
các cơ hội kinh doanh. Các nguồn lực bên ngoài đó chính là môi trờng kinh
doanh.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trờng, tác động của môi tr-
ờng kinh doanh đến hoạt động của doanh nghiệp có những nét cơ bản sau:
* Theo pháp luật quy định, các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong
sản xuất kinh doanh, tự hạch toán đảm bảo lấy thu bù chi và không có sự
phân biệt các thành phần kinh tế. Điều đó một mặt tạo ra môi trờng kinh
doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, mặt khác gắn hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp với kết quả cuối cùng, khuyến khích các doanh nghiệp
năng động hơn trong khai thác triệt để khả năng tiềm tàng giảm thiểu chi phí,
nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh.
* Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn chịu sự chi
phối mạnh mẽ bởi các quy luật của nền kinh tế thị trờng nh quy luật giá trị,
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh.
Bản chất của quy luật giá trị là sự trao đổi ngang giá của sản phẩm
hàng hoá trên thị trờng, giá cả hàng hoá đợc xác định trên cơ sở hao phí lao
động xã hội cần thiết. Từ đó đòi hỏi ngời sản xuất muốn đạt đợc lợi nhuận
ờng. Lợi ích kinh tế trở thành động lực mạnh mẽ, là mục tiêu kinh tế hàng
đầu đối với doanh nghiệp kinh tế. Điều này nghĩa là doanh nghiệp càng tiết
kiệm chi phí bỏ ra bao nhiêu thì lãi thu về càng tăng bấy nhiêu. Do đó các
doanh nghiệp ngày nay không ngừng học hỏi áp dụng các biện pháp quản lý
kinh doanh tiên tiến hiện đại phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp mình.
* Phân phối lợi ích kinh tế không chỉ theo lao động mà còn theo giá
trị vốn góp.
Tiền lơng là giá cả hàng hoá sức lao động do đó việc thực hiện nguyên
tắc phân phối theo lao động căn cứ vào số lợng, chất lợng đóng góp để trả l-
ơng. Muốn giảm chi phí sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải quan tâm
tuyển chọn lao động đầu vào có trình độ tay nghề cao, nhiệt tình với công
việc. Mặt khác cơ chế phân phối lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp phải thể
hiện sự quan tâm tới ngời lao động qua trích lập và sử dụng quỹ khen thởng
phúc lợi nhằm tạo nguồn bổ sung cho ngời lao động.
Trong nền kinh tế thị trờng, vốn là một hàng hoá đặc biệt có giá trị và
giá trị sử dụng. Ngời có vốn có thể bán quyền sử dụng vốn cho ngời thiếu
vốn để hởng lãi. Do đó trong phân phối lợi ích kinh tế doanh nghiệp còn phải
căn cứ vào giá trị mức vốn góp của mỗi bên tham gia để phân chia lãi, đồng
thời tính toán đợc chi phí sử dụng mỗi đồng vốn từ đó các nguồn khác nhau
để c họn phơng án hiệu quả nhất. Đây là một đặc trng về môi trờng kinh
doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng, ngời có vốn không cần
tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh mà chỉ cần góp vốn đầu
t để kiểm lời.
Trên đây là một số tác động chủ yếu của môi trờng kinh doanh đến
hoạt động của doanh nghiệp, ngời quản lý càng nắm rõ những ảnh hởng đó
càng có cơ sở để đa ra những quyết định phù hợp với điều kiện của doanh
nghiệp mình.
1.2. Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của chi phí sản xuất kinh
doanh.
hoạt động trong môi trờng đầy tính cạnh tranh nh ngày nay, để sản phẩm đợc
ngời tiêu dùng chấp nhận, doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí để nghiên cứu thị
trờng, chi phí tiếp thị quảng cáo giới thiệu sản phẩm, thậm chí cả bảo hành
sản phẩm. Những khoản chi này liên quan đến việc lu thông sản phẩm nên
gọi là chi phí tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm để thực hiện đợc hoạt
động kinh doanh doanh nghiệp còn phải thực hiện nghĩa vụ với nhà Nhà nớc
nh nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. Đối
với doanh nghiệp, những khoản thuế trên là những chi phí mà doanh nghiệp
phải bỏ ra trong kinh doanh. Vì thế nó là khoản chi phí kinh doanh của doanh
nghiệp.
Nh vậy chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ chi
phí sản xuất, chi phí tiêu thụ và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp
phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất
định.
Chi phí sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, nó cho
thấy tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí cũng nh trình độ quản lý của
doanh nghiệp. Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động kinh doanh còn chi phí
ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận, vì vậy các doanh nghiệp phải luôn quan
tâm đến công tác quản lý chi phí, bởi mỗi đồng chi phí không hợp lý, hợp lệ
đều làm tăng giá thành giảm lợi nhuận. Do đó hạ thấp chi phí sản xuất kinh
doanh là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh, thực hiện tiết kiệm chi phí
hợp lý doanh nghiệp cần tiến hành phân loại chi phí.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng
của chúng trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng khác nhau. Để kiểm soát
quản lý hiệu quả chi phí sản xuất kinh doanh phải tiến hành phân loại chi phí
theo nhiều tiêu thức khác nhau.
ờng chi phí sản xuất của doanh nghiệp chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm các chi phí về nguyên vật liệu,
nhiên liệu trực tiếp dùng vào sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm các khoản trả cho ngời lao động
trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nh tiền lơng, tiền công và các khoản trích nộp
của công nhân mà doanh nghiệp phải nộp theo quy định.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất,
chế biến của phân xởng trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ nh chi phí vật
liệu, công cụ dụng cụ,KHTSCĐ, tiền lơng và các khoản trích theo lơng của
nhân viên phân xởng, chi phí dịch vụ mua ngoài. Chi phí khác bằng tiền ở
phân xởng.
- Chi phí bán hàng: là chi phí liên quan đến quá trình tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá dịch vụ nh tiền lơng, khoản phụ cấp trả cho nhân viên bán
hàng chi phí đóng gói vận chuyển sản phẩm và các chi phí khác.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là chi phí chi cho bộ máy quản lý và
điều hành doanh nghiệp nh chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, KHTSCĐ, chi
phí khác bằng tiền nh chi phí tiếp tân giao dịch và các khoản chi phí khác.
Cách phân loại này là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch
giá thành và định mức chi phí cho kỳ sau.
1.2.2.3. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh thành chi phí cố định
và chi phí biến đổi.
Căn cứ phân loại là dựa vào mối quan hệ giữa chi phí phát sinh và khối
lợng sản phẩm hoàn thành để chia thành chi phí cố định và chi phí biến đổi:
- Chi phí cố định là những khoản chi phí mà sự biến động của chúng
không đồng thời với sự biến động khối lợng sản xuất. Nó là những khoản tồn
tại và phát sinh ngay cả khi không sản xuất ra sản phẩm nh tiền KHTSCĐ,
tiền thuê đất, chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí biến đối là chi phí có mối tợng quan tỷ lệ thuận với sản lợng
sản xuất nh chi phí nguyên vật liệu, tiền lợng công nhân sản xuất
Phân loại theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
- Giá thành kế hoạch.
Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và
sản lợng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch đợc tiến hành trớc khi bắt
đầu quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm, giá thành kế hoạch là mục tiêu
phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình
hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành thực tế.
Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực
tế phát sinh và tập hợp trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ tính đợc sau khi kết
thúc quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong tổ chức và sử
dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật, là cơ sở xác định kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
* Phân loại giá thành theo phạm vi và chi phí cấu thành.
- Giá thành sản xuất: Là biểu hiện bằng tiền các hao phí vật chất và
tiền lơng trả cho công nhân viên mà doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thành
việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định. Giá thành tiêu thụ gồm
giá thành sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho
sản phẩm tiêu thụ.
Giá thành tiêu thụ là căn cứ để tính toán, xác định mức lợi nhuận trớc
thuế và lãi vay của doanh nghiệp.
1.2.4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành
sản xuất
Về bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm
giống nhau, chúng đều là các hao phí về lao động và các hao phí vật chất của
doanh nghiệp. Tuy vậy giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có
sự khác nhau trên các phơng diện sau:
- Về thời gian: Chi phí sản xuất gồm toàn bộ chi phí lao động sống và
lao động vật hoá do doanh nghiệp chi ra trong một thời kỳ nhất định, còn giá
xuất một loại mặt hàng lại trên cùng một địa bàn hoạt động nên để chiếm
lĩnh đợc thị trờng các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau về giá cả, chất
lợng và mẫu mã sản phẩm trong và ngoài nớc. Bởi sản phẩm chỉ đợc khách
hàng chấp nhận khi chất lợng đảm bảo, giá bán hợp lý. Do đó vấn đề đặt ra
cho các doanh nghiệp là phải giảm tối đa các khoản chi phí để hạ giá bán sản
phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo chất lợng cao, từ đó
tạo cơ sở cho doanh nghiệp tồn tại và đứng vững trên thơng trờng.
Thực tế cho thấy doanh nghiệp nớc ta hiện nay còn tình trạng theo
đuổi những mục tiêu trớc mắt, những hoạt động bề nổi mà cha đặt ra một
chiến lợc lâu dài vững chắc. Cụ thể nh: để giới thiệu một loại sản phẩm hoặc
tạo uy tín trên thị trờng các doanh nghiệp thờng mở các chiến dịch quảng cáo
rầm rộ, tiếp thị khuyến mại sản phẩm làm tăng chi phí tiêu thụ nhng thờng
không tìm cách cải tiến chất lợng sản phẩm bằng cách áp dụng công nghệ
mới. Nh vậy để hoạt động kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp phải so sánh
giữa chi phí bỏ ra với kết quả đạt đợc, phải tự bù đắp chi phí bằng chính
khoản thu nhập của mình đảm bảo có lợi nhuận tăng tích luỹ, mở rộng quy
mô kinh doanh.
Chính vì vậy, yêu cầu quản lý đối với chi phí sản xuất kinh doanh và
giá thành sản phẩm là cấp thiết tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động
trong nền kinh tế thị trờng.
1.3.2. Vai trò của công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và
giá thành sản phẩm
- Quản lý chi phí là hợp lý hoá các khoản chi phí trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp. Chi phí của doanh nghiệp phát sinh khách quan
nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đợc thờng xuyên liên tục. Nh
vậy quản lý chi phí giúp tăng cờng hiệu quả mỗi đồng chi phí bỏ ra hay chính
là việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Quản lý chi phí là chìa khoá quan trọng dể doanh nghiệp giảm đợc
hao phí cá biệt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận siêu
ngạch. Bởi muốn tồn tại trong môi trờng cạnh tranh của thị trờng, doanh
1.4. Các nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến chi phí sản xuất kinh
doanh và giá thành sản phẩm.
Để đa ra những biện pháp đúng đắn trong quản lý chi phí sản xuất kinh
doanh, nhà quản lý phải thấy đợc các nhân tố tác động đến sự phát sinh chi
phí. Có nhiều nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hởng đến sự tăng giảm chi
phí, song có thể quy lại ở một số nhân tố chủ yếu sau:
* Nhân tố tiến bộ khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng phát triển thì nó ngày càng
tác động mạnh mẽ tới chi phí sản xuất kinh doanh. Do sự phát triển của khoa
học kỹ thuật những máy móc thiết bị hiện đại ngày càng nhiều và cho năng
suất lao động tăng lên, làm giảm lợng chi phí cho một đơn vị sản phẩm với
trình độ chuyên môn hoá tự động hoá cao, không chỉ có chi phí tiền lơng đợc
hạ thấp mà còn hạ thấp cả mức tiêu hao nguyên vật liệu sản xuất ra sản
phẩm. Nhiều loại vật liệu mới ra đời với tính năng tác dụng lớn hơn, giá rẻ
hơn cũng làm cho chi phí nguyên vật liệu làm giảm đáng kể.
Thực chất nhân tố tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ là nhân tố
khách quan nhng xét theo góc độ nhà quản lý thì nó mang lại tính chủ quan.
Bởi lẽ nhân tố này có tác động tích cực tới việc giảm chi phí hay không hoàn
toàn phụ thuộc vào sự vận dụng nhanh nhạy của nhà quản lý. Vấn đề đặt ra
doanh nghiệp phải lựa chọn thành lựu khoa học nào và trong thời điểm nào
là phù hợp nhất với điều kiện doanh nghiệp Có nh vậy doanh nghiệp mới hạ
thấp chi phí và giá thành sản phẩm mà vẫn nâng cao chất lợng sản phẩm của
mình.
* Nhân tố tổ chức sản xuất và lao động.
Tổ chức sản xuất là khâu đầu tiên cần giải quyết khi doanh nghiệp đi
vào hoạt động. Doanh nghiệp phải trả lời đợc ba câu hỏi "sản xuất cái gì, sản
xuất cho ai, và sản xuất nh thế nào". Việc bố trí khâu sản xuất hợp lý, dây
chuyền sản xuất khoa học sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế sự lãng phí nguyên
vật liệu động lực, giảm thấp tỷ lệ phế phẩm và chi phí ngừng sản xuất.
Mặt khác, tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố
đấu. Khi sản xuất kinh doanh mục tiêu này luôn đợc doanh nghiệp cố gắng
thực hiện và đồng thời cũng đợc doanh nghiệp tìm tòi khai thác tiềm năng hạ
thấp chi phí và giá thành sản phẩm.
*Chú trọng tới trang thiết bị máy móc công nghệ của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải luôn theo dõi tình trạng máy móc thiết bị, dây
chuyền kỹ thuật. Đối mới máy móc đi đôi với tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết
kiệm điện năng, nâng cao năng suất lao động dẫn tới giảm chi phí hạ giá
thành. Tuy vậy doanh nghiệp phải cần xem xét một cách chiến lợc hiệu quả
của sự đầu t mang lại.
* Quản lý và sử dụng lao động hiệu quả.
Muốn giảm chi phí tiền lơng và tiền công cần tăng năng suất lao động
cải tiến tổ chức lao động, đào tạo nâng cao trình độ tay nghề, hoàn thiện định
mức lao động, tăng cờng kỷ luật lao động. Đồng thời áp dụng các hình thức
thởng phạt vật chất để ngời lao động gắn bó và có trách nhiệm với công việc.
Đặc biệt, để xem xét chi phí tiền lơng có hợp lý tiết kiệm hay không
doanh nghiệp cần nắm vững tình hình tăng năng suất lao động, mối quan hệ
giữa tăng năng suất lao động và tốc độ tăng tiền lơng bìnhg quân, sự tác động
của hình thức trả lơng với việc tăng năng suất lao động.
* Tổ chc bố trí các khâu sản xuất kinh doanh hợp lý.
Nhà quản lý cần tổ chức các khâu trong toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh từ khâu sản xuất đến lu thông tiêu thụ sản phẩm một cách nhịp
nhàng ăn khớp. Làm nh vậy nhằm tiết chi phí gián tiếp, hạn chế các chi phí
phát sinh không cần thiết, sử dụng mỗi đồng vốn bỏ ra một cách tiết kiệm và
đạt hiệu quả cao nhất.
* Tăng cờng phát huy vai trò của tài chính trong quản lý chi phí sản
xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm.
Quản lý chi phí sản xuất kinh doanh hiệu quả đòi hỏi sự quan tâm chú
ý vào tất cả các khâu trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp ở khậu sản
xuất, cần đặc biệt chú ý tới chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công vì bộ
phận này chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm sản phẩm. ở khâu tiêu
trang bị bếp ăn cho các đơn vị quân đội, sao vạch, hình quân, binh chủng.
Đây là ngành nghề xí nghiệp 24 đợc phép sản xuất kinh doanh.
Công ty có 2 xí nghiệp thành viênlà xí nghiệp 22 và xí nghiệp 24.
Trong đó xí nghiệp 24 có địa điểm hoạt động xa văn phòng Công ty, trụ sở
thị trấn Cầu Diễn - Hà Nội.
Qua 4 năm hoạt động, một khoảng thời gian không dài để đa ra một
đánh giá tuyệt đối với sự lỡn mạnh của Công ty, điều đó lại càng khó hơn đối
với xí nghiệp có đặc điểm đặc biệt nh xí nghiệp 24. Tuy nhiên xí nghiệp 24
đã bớc đầu khẳng định đợc mình là một xí nghiệp không ngừng vơn lên trên
đà tiến bộ chung của nền kinh tế trong thời kỳ mở cửa. Điều này đang đợc
chứng minh qua việc sản phẩm của xí nghiệp đang chiếm lĩnh chỉ phạm vi
quân đội mà trên cả toàn quốc.
2.1.2. Chức năng - nhiệm vụ - Đặc điểm sản xuất kinh doanh
xí nghiệp 24 - TCHC - BQP đợc tổ chức sản xuất kinh doanh theo chế
độ hạch toán phụ thuộc và quản lý tổ chức theo phân cấp của Công ty 22 -
BQP.
Chức năng chủ yếu của xí nghiệp là sản xuất các dụng cụ cấp dỡng nh
nồi nhôm, bát đĩa inox sản phẩm sản xuất chủ yếu phục vụ cho công tác hậu
cần quân đội, ngoài ra còn phục nhu cầu của các thành phần kinh tế khác
trong cả nớc.
Xuất phát từ đặc điểm chịu sự quản lý trực tiếp của Công ty về mọi
mặt. Xí nghiệp có quyền tự chủ trong mọi kế hoạch của Công ty, thực hiện
hạch toán phụ thuộc và chịu sự ràng buộc về nhiệm vụ và quyền lợi đối với
Công ty. Công ty chịu trách nhiệm cuối cùng về các nghĩa vụ tài chính phát
sinh do sự cam kết của các xí nghiệp thành viên. xí nghiệp thực hiện phơng
án sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của Công ty và tự khai thác lấy. Nếu
sản phẩm sản xuất hoặc gia công cho bên ngoài xí nghiệp sẽ thanh toán tiền
với bên ngoài thông qua Công ty. Phòng kế toán tài chính Công ty sẽ giúp xí
nghiệp trình bày vốn với ngân hàng do cục chuyên ngành thực hiện nghiệp vụ
thanh toán với khách hàng cho các doanh nghiệp.
trực tiếp quản lý phòng kỹ thuật.
- Phòng tài chính kế toán :có chức năng quản lý sử dụng nguồn vốn tài
sản của xí nghiệp, thực hiện tốt công tác hạch toán kinh doanh, thực hiện chế
độ tài chính kế toán theo quy định hiện hành của Nhà nớc, xây dựng kế
hoạch và phân tích hoạt động kinh tế
Phó GĐ Giám đốc
Phòng kỹ
thuật
Phòng tổ
chức SX - KD
Phòng tài
chính kế toán
Phòng kinh
doanh
Phòng hành
chính
Phân xởng
cơ khí
Phân xởng
đột dập
Phân xởng
đúc rèn
Phân xởng
sản xuất phụ,
dịch vụ
- Phòng tổ chức sản xuất kinh doanh: là trung tâm phối hợp điều hành
các hoạt động của xí nghiệp nh tổ chức thực hiện các lệnh sản xuất do Công
ty ban xuống :đôn đốc thực hiện kế hoạch sản xuất đàm phán, soạn thảo theo
dõi việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, các chỉ tiêu sản xuất của xí nghiệp.
- Phòng kinh doanh: có chức năng lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, tìm
nghiệp
xí nghiệp 24 có tổng số cán bộ công nhân viên là 180 ngời trong đó số
nhân viên quản lý là 41 ngời, lực lợng lao động trẻ chiếm khoảng 60% tổng
số cán bộ công nhân viên. xí nghiệp có u thế về nguồn lao động trẻ nhiệt tình
với công vệc nhng xí nghiệp cần tập trug đào tào nâng cao tay nghề công
nhân cũng nh bồi dỡng thêm trình độ chuyên môn cho lực lợng quản lý xí
nghiệp. Nh vậy xí nghiệp mới có thể phát huy hết khả năng tiềm tàng của
mình.
Về quy mô vốn, theo bảng cân đối tài sản ngày 31/12/2000 thì tổng tài
sản của xí nghiệp là 16 039 164 301 đồng.
Trong đó: TSLĐ và ĐTNH: 3.935.984.568 đồng
Cắt biên
Cắt phôi
Cắt băng
Cắt tấm
Lấy dầu
inox = 0,7
Chuẩn bị phôi
Tạo hình
Xén viền miết
Đánh bóng, điện hoá
Rửa sạch, lau khô
KSC + bao gói
Thành phần
Chuẩn bị phôi
Tạo hình
Đánh bóng, điện hoá
Rửa sạch, lau khô
Đánh bóng, điện hoá
TSCĐ và ĐTDH: 12.103.179.733
các doanh nghiệp khác cùng ngành.