A -MỞ ĐẦU
Chế độ tài chính và quyền tự chủ về tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu đến
nay không còn là một đề tài mới song trên thực tế nó còn rất nhiều bất cập mà các nhà
làm luật cũng như các cơ quan quản lý có thẩm quyền nghiên cứu và tìm ra giải pháp
để làm sao pháp luật vừa thống nhất, đồng bộ, có tính khả thi cao, tạo một cơ sở pháp
lý vững chắc cho các đơn vị sự nghiệp nói chung và các đơn vị sự nghiệp có thu nói
riêng thực hiện tốt các quy định về tài chính. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhóm
chúng em đi tìm hiểu đề tài: “ Chế độ tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu và
những nhận xét, đánh giá”.
B - NỘI DUNG
I. Khái quát chung về đơn vị sự nghiệp có thu và chế độ tài chính của đơn vị sự
nghiệp có thu
1. Khái niệm chung về đơn vị sự nghiệp có thu
cạnh sau đây:
Thứ nhất, những hoạt động của các đơn vị này có tổ chức xã hội, khác với
những loại hình dịch vụ thông thường nó phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội
để đảm bảo cho cuộc sống bình thường. Những loại dịch vụ thông thường được hiểu
là những hoạt động phục vụ không tạo ra sản phẩm mang hình thái hiện vật, còn dịch
vụ mà các đơn vị sự nghiệp cung cấp là là những hoạt động phục vụ các nhu cầu thiết
yếu của xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật.
Thứ hai, việc trao đổi dịch vụ công giữa các đơn vị sự nghiệp và các tổ chức ,
cá nhân không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ, nghĩa là nó không giống với họat
động kinh doanh của các doanh nghiệp. Có những dịch vụ mà người sử dụng chỉ phải
đóng phí hoặc lệ phí, có những dịch vụ thì phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí.
Tuy nhiên, việc cung ứng dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu không trực tiếp phục vụ cho
quản lý hành chính nhà nước, không mang tính quyền lực quản lý như hoạt động của
các cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ tư, các đơn vị sự nghiệp có thu có nguồn thu không thường xuyên từ hoạt
động sự nghiệp bởi vậy nó khác với các cơ quan quản lý hành chính ở chỗ mang lại
nguồn thu cho ngân sách nhà nước và được tự chủ về mặt tài chính, không phụ thuộc
vào cơ chế xin cho như trước.
1.3 . Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu
Theo điều 9 Nghị định 43/2006/NĐ – CP Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn
vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính như sau:
“a) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường
xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);
b) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường
xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo
đảm một phần chi phí hoạt động);
c) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí
hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm
điều 14 Nghị định 43/2006/NĐ – CP và khoản 1 mục VIII thông tư số 71/2006/TT –
BTC như: “ Kinh phí do nhà nước cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn viện
trợ tài trợ, quà biếu tặng…”, Ngoài ra đơn vị sự nghiệp được quyền huy động vốn từ
các tổ chức tín dụng, từ cán bộ viên chức trong đơn vị, sử dụng vốn liên doanh liên
kết các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Đây là
nguồn mà các cơ quan quản lý hành chính nhà nước không có quyền huy động và sử
dụng.
Các đơn vị sự nghiệp được tự chủ về các khoản thu, mức thu:Theo thông tư số
71/2006/ TT – BTC của Bộ tài chính, đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ trong việc
vay vốn và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay. Và theo điều 16 Nghị định 43/2006/NĐ –
CP, đơn vị sự nghiệp “ có quyền quyết định một số mức thu cụ thể cho phù hợp với
từng loại hoạt động” nhưng vẫn phải tuân thủ nghiêm các quy định về phí, lệ phí, và
không được vượt quá khung thu mà Nhà nước đã quy định. Tính tự chủ còn thể hiện
trong quá trình thực hiện dịch vụ của đơn vị, tuy nhiên vẫn có sự phân biệt giữa việc
thực hiện dịch vụ cho nhà nước và cho tổ chức cá nhân khác.
2.2.Các quy định về chi và tự chủ về chi
Các đơn vị phải chấp hành các chế độ chi mà Nhà nước đã quy định như danh
mục các khoản chi ( được quy định tại Điều 15 Nghị định 43/2006/NĐ – CP và khoản
2 mục VIII thông tư 71/2006/TT – BTC). Theo điều 17 Nghị định 34/2006/NĐ- CP
đơn vị sự nghiệp có thu được quyền : “quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt
động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định; quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc;
quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy
định của pháp luật và quy định tại Nghị định này” và những thẩm quyền này thuộc
về thủ trưởng đơn vị. Quy định này tạo nên sự chủ động của đơn vị đối với những yêu
cầu phát sinh ngoài dự đoán những quy định có sẵn, đảm bảo sự phù hợp với tình hình
thực tiễn để cuối cùng đơn vị đạt được những hiệu quả cao nhất trong hoạt động của
mình.
Để thực hiện quyền tự chủ về chi pháp luật quy định các đơn vị sự nghiệp có
thu phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ. Theo thông tư số 50/2003/TT- BTC ngày
thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay. Trường hợp đã trả đủ
nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn
lại (nếu có)”.
Bên cạnh đó theo số 115/2008/ QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày
27/8/2008: các đơn vị sự nghiệp có thu phải thực hiện công khai về quản lý và sử
dụng tài sản Nhà nước tại đơn vị mình. Về nguyên tắc, các đơn vị có trách nhiệm phải
cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin về quản lý, sử dụng tài sản công
khai qua các hình thức: Công bố trong các kỳ họp thường niên của đơn vị, phát hành
ấn phẩm, niêm yết công khai tại trụ sở làm việc, thông báo bằng văn bản đến các cơ
quan, tổ chức, cá nhân liên quan…
2.4. Các quy định về vấn đề trích lập các quỹ và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với
Nhà nước
Điều 19 Nghị định 43/2006/NĐ-CP và khoản 4 mục VIII thông tư số
71/2006/TT-BTC đã quy định rõ trình tự ưu tiên thành lập các loại quỹ, mức trích lập
và mục đích sử dụng từng loại quỹ. Đó là:
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác
theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng theo
trình tự như sau:
a) Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.Đối với 2
Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền
công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm.
Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết
định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
b) Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
18 Nghị định này;
quyết toán và dự toán hằng năm.
- Việc thực hiện cơ chế tự chủ còn gián tiếp mang lại một thành công nữa là phân
biệt rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, từ đó thay
đổi phương thức quản lý đối với đơn vị sự nghiệp.
- Việc trao ba quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ
máy, biên chế và tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị sự nghiệp không ngừng
tìm kiếm biện pháp mở rộng hoạt động dịch vụ, mở rộng nguồn thu, chi tiêu tiết kiệm
để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hạn chế :
- Văn bản pháp lý chưa có sự đồng bộ, thiếu văn bản hướng dẫn, đồng thời nhiều
vấn đề pháp lý cần tiếp tục xây dựng hoàn thiện. ví dụ như khung giá viện phí để đảm
bảo cân đối thu chi, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
- Việc trao quyền tự chủ về tài chính cũng là bài toán tương đối nan giải đối với các
đơn vị sự nghiệp có htu trong điều kiện kinh tế thị trường luôn biến động. Nhiều đơn
vị còn lúng túng khi sử dụng quyền được trao vì vốn dĩ quen với cơ chế xin cho mà
không quen với việc tự ra quyết định. Thêm vào đó là việc xây dựng quy chế chi tiêu
nội bộ như thế nào là tiết kiệm chống lãng phí, căn cứ để xây dựng quy chế chi tiêu
nội bộ là tiêu chuẩn, định mức ban hành nhưng chưa đầy đủ.
- Đội ngũ cán bộ tài chính, kế toán của các đơn vị như “ một số thuộc nghành giáo
dục cán bộ tài chính, kế toán kiêm nhiệm nhiều (trên 40%), chưa qua trường lớp đào
tạo chuyên môn.
- Về vấn đề tiền lương, hiện nay, các đơn vị sự nghiệp có thu đang thực hiện tự chủ
tài chính theo nghị định 43 của chính phủ, khi mà Nghị định khống chế số lương cơ
bản thì việc tăng lương này cũng sẽ có nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn chi bù.
- Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi giao quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính; thực hiện bao
trùm toàn bộ đơn vị sự nghiệp công lập. Nhưng các cơ quan vẫn đang vận hành theo
cơ chế cũ, trong khi “bầu sữa mẹ” từ ngân sách bị giảm, khung giá thu nhiều loại phí
quá thấp và lạc hậu (như viện phí, lệ phí ), giá thấp và lạc hậu là thách thức không
nhỏ đối với các đơn vị thực hiện hạch toán theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP.Làm thế
Hoàn thiện các quy định về quyền sở hữu các nguồn lực tài chính của đơn vị sự
nghiệp có thu:
- Xác lập quyền sở hữu của đơn vị đối với các nguồn lực tài chính( ví dụ: tài sản
nào là hàng viện trợ, quà biếu tặng… cần xác định phần nào đơn vị có quyền sở hữu.
phần nào nộp lại cho Nhà nước).
- Xác lập cơ chế bảo đảm và hỗ trợ thực hiện quyền tự chủ tài chính của các cơ
quan cấp trên có quyền can thiệp đến đâu đối với hoạt động tài chính của đơn vị, khi
cần thiết các đơn vị sẽ được hỗ trợ như thế nào từ phía các cơ quan có thẩm quyền.
- Xác lập quyền chủ động sử dụng các nguồn lực tài chính của đơn vị.
Bổ sung sửa đổi các quy định về cơ sở thực hiện kiểm soát chi và thanh toán các
khoản chi: Quy chế chi tiêu nội bộ là cơ sở pháp lý để kho bạc nhà nước thực hiện
kiểm soát chi và thanh toán các khaonr chi cho các đơn vị, đồng thời còn là căn cứ để
thủ trưởng đơn vị thực hiện sự quản lý, điều hành đối với các khoản kinh phí.Căn cứ
xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ là chế độ, định mức, tiêu chuẩn của nhà nước. vì
vậy, khi chế độ, định mức, tiêu chuẩn của nhà nước thay đổi thì nhất thiết phải xây
dựng lại quy chế hoặc quy chế bổ sung theo trình tự, thủ tục sửa đổi bổ sung nhất
định. Các quy định của Luật hiện nay hướng dẫn xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn
chưa rõ ràng chi tiết bởi vậy rất cần sự sửa đổi để làm sao những quy định ấy trở nên
chặt chẽ và phù hợp với từng đơn vị cụ thể trong từng hoàn cảnh cụ thể. Từ khi đó
Kho bạc mới có cơ sở chính xác kiểm soát các khoản chi.
Sửa đổi, bổ sung các quy định về tiền lương và tiền thưởng trong đơn vị sự nghiệp có
thu: Đổi mới việc chi trả thu nhập cho người lao động trên cơ sở đánh giá đúng đắn sự
đóng góp của mỗi người. Tuy nhiên, hiện nay tai hầu hết các đơn vị sự nghiệp có thu
việc đánh giá vẫn mang nặng cảm tính và có phần cào bằng, việc xây dựng hệ thống
đánh giá công việc dựa trên kết quả thực thi đang là yêu cầu quan trọng đặt ra ở tất cả
các cơ quan, đơn vị. Qúa trình này đòi hỏi đơn vị phải xác định được các kết quả đầu
ra, đổi mới dựa trên kết quả thực thi và có phương pháp đo lường sự đóng góp của
mỗi người vào kết quả của bộ phận và của toàn đơn vị.
Từng bước hoàn thiện quá trình thực thi pháp luật về chế độ tài chính của các đơn vị
sự nghiệp có thu:
nhất nguồn kinh phí thì không chỉ đòi hỏi đơn vị sự nghiệp có thu có những kế hoạch
tự chủ tài chính cho phù hợp mà còn đòi hỏi trách nhiệm quản lý cao của người đứng
đầu các đơn vị sự nghiệp có thu này.