luận văn quản trị tài chính Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại điện cơ Hoàng Mai . - Pdf 27

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
MỤC LỤC
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
LỜI MỞ ĐẦU
Để chuẩn bị cho mình hành trang tốt nhất để bước vào cuộc sống , bản
thân mình là một sinh viên trước khi rời khỏi ghế nhà trường thì một bước đi
không thể bỏ qua đó chính là giai đoạn thực tập . Có thể nói đây là quá trình
quan trọng nhất trong suốt những năm học đại học , đây là quá trình mà em
cũng như các bạn snh viên khác được đến thực tập tại các đơn vị thực tập
chính là một bước đệm giúp em và các bạn được cọ sát trong môi trường làm
việc thực tế ,qua đó trau dồi tích lũy kinh nghịêm để có thể xác định được
phương hướng cuộc sống và tìm kiếm công việc phù hợp với năng lực và ước
muốn của bản thân sau khi tốt nghiệp. Chính vì vậy trong quá trình thực tập
em luôn tạo cho bản thân mình thói quen ham tìm tòi học hỏi với thái độ
nghiêm túc và nhiệt tình, chỉ có như vậy em mới có thể tiến gần với mục tiêu
tạo dựng công việc tốt đẹp trong tương lai.
Trong những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận hành theo định hướng XHCN, nền kinh tế nước ta đã có
sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ. Nước ta đang tiến hành công cuộc
công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì nhu cầu về vốn càng trở nên cấp bách hơn.
Nhưng khi đã có vốn rồi thì việc sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả
cũng là vấn đề rất quan trọng. Việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được
coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Ngày nay một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi
doanh nghiệp đó phải biết sử dụng vốn triệt để và không ngừng nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh mà đặc biệt là vốn lưu động. Vốn lưu động là bộ
phận rất quan trọng trong vốn sản xuất kinh doanh và nó thuờng chiếm tỷ

Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty
TNHH Sản Xuất và Thương Mại điện cơ Hoàng Mai .
Chương III: Các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại điện cơ
Hoàng Mai
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Chương I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI
I. VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm về vốn lưu động
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ giá trị tài sản lưu động và vốn lưu thông để đảm bảo quá trình sản
xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp đuợc tiến hành bình thường.
Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những tài sản tiền tệ hoặc có thể
chuyển thành tiền tệ trong chu kỳ kinh doanh. Nó bao gồm:
- Vốn bằng tiền, bao gồm:
+ Tiền mặt tại quỹ (gồm cả ngân phiếu)
+ Tiền gửi ngân hàng
+ Tiền đang chuyển
- Hàng tồn kho: Các loại tài sản hàng tồn kho được phân loại theo vật tư
của quy trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại bao gồm:
+ Hàng tồn kho
+ Hàng đang đi trên đường
+ Hàng gửi bán
Trong nền kinh tế thị trường tài sản hàng tồn kho còn bao gồm cả phần
dự phòng giảm giá hàng hoá tồn kho.

Trong cùng một thời điểm vốn lưu động tồn tại dưới cả hai hình thái.
Cũng do vốn lưu động luôn vận động nên kết cấu của vốn lưu động luôn biến
đổi và phản ánh sự vận động không ngừng của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh

Để phân loại vốn lưu động ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau:
a) Dựa vào sự vận động của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:
VLĐ được chia làm 3 phần: Vốn lưu động trong khâu dự trữ, VLĐ trong khâu
lưu thông, VLĐ trong khâu sản xuất.
- VLĐ trong khâu dự trữ: Đối với các doanh nghiệp dịch vụ VLĐ trong
khâu dự trữ bao gồm: Vốn dự trữ vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế nhằm
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
thường xuyên, liên tục.
- VLĐ trong khâu sản xuất: Trong doanh nghiệp thương mại và doanh
nghiệp dịch vụ không mang tính chất sản xuất thì không có vốn lưu động vận
động ở khâu này. Đối với các doanh nghiệp dịch vụ mang tính chất sản xuất
VLĐ này bao gồm:
+ Vốn về sản phẩm dở dang đang chế tạo: là giá trị sản phẩm dở dàng
dùng trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm
việc đợi chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang
+ Vốn bán thành phẩm tự chế: cung là giá trị các sản phẩm dở dang
nhưng khác sản phẩm đang chế tạo ở chỗ đa hoàn thành giai đoạn chế biến
nhất định.
+ Vốn và phí tổn đợi phân bổ (chi phí trả truớc) là những phí tổn chi ra
trong kỳ, nhưng có tác dụng cho nhiều kỳ sản xuất vì thế chưa tính hết vào giá
thành mà sẽ tính vào giá thành các kỳ sau:
- VLĐ trong khâu lưu thông bao gồm:

tượng liên quan. Một phần khác được bổ sung vào vốn kinh doanh mà chủ
yếu là vốn lưu động và đây là một bộ phận của vốn chủ sở hữu.
+ Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỉ giá chưa xử
lý và các quỹ được hình thành trong hoạt động sản xuất kinh doanh như quỹ
phúc lợi , quỹ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Những doanh nghiệp nhà nước vốn hoạt động là do nhà nước cấp ngay
từ khi mới thành lập trên cơ sở bảo toàn và phát triển vốn.
- Vốn vay: Với điều kiện kinh tế như hiện nay, quy mô kinh doanh ngày
nay có xu hướng mở rộng, nhu cầu sử dụng vốn ngày càng phát triển.
Do vậy nguồn vốn chủ sở hữu chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu vốn kinh
doanh. Để có đủ vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp
phải chủ động tạo ra cho mình nguồn vốn để kinh doanh. Một biện pháp hữu
hiệu nhất là đi vay vốn. Hình thức đi vay của doanh nghiệp là: Vay ngân hàng,
vay các tổ chức kinh tế hoặc của các cá nhân hay vay của các tổ chức tín dụng
nhằm tạo ra một luợng vốn cao hơn để đáp ứng nhu cầu về vốn khi thực hiện
hợp đồng phù hợp với lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp mà không trái với
pháp luật.
Với mỗi hình thức vay vốn lại có những điều kiện xây dựng ràng buộc
khác nhau. Nếu doanh nghiệp vay của tổ chức tín dụng ngân hàng thì điều
kiện để xét vốn vay là doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, có tài sản thế chấp mà
số tài sản này chưa đem ra thế chấp. Sau 1 chu kỳ hoặc một khoảng thời gian
nhất định doanh nghiệp phải hoàn trả tiền vay vốn.
Ngoài việc vay vốn của tổ chức tín dụng, của ngân hàng, cá nhân qua
việc phát hành cổ phiếu, còn xuất hiện việc vay vốn lẫn nhau mà thực chất là
chiếm dụng vốn lẫn nhau. Như vậy việc vay vốn sẽ tạo điều kiện thuận lợi,
nắm bắt đuợc cơ hội kinh doanh và phát triển lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Vốn liên doanh: Ngoài vốn tự có, vốn vay doanh nghiệp có thể huy

trọng VLĐ bỏ vào khâu dự trữ.
Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng nhất định đến kết cấu VLĐ.
Khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi lần nhiều hay ít, khoảng cách giữa các
doanh nghiệp với các đơn vị mua hàng dài hay ngắn đều trực tiếp ảnh hưởng
tới tỷ trọng thành phẩm và hàng hoá xuất ra nhờ ngân hàng thu hộ.
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
- Nhóm nhân tố về mặt thanh toán: Nếu sử dụng phương thức thanh toán
hợp lý, giải quyết thanh toán kịp thời thì tỉ trọng vốn trong khâu lưu thông sẽ
thay đổi. Đặc biệt trong xây lắp việc sử dụng các thể thức thanh toán khác
nhau tổ chức thủ tục thanh toán, tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán có ảnh
hưởng nhiều đến tỷ trọng vốn bỏ vào khâu sản xuất và khâu lưu thông.
Ngoài các nhân tố nêu trên, kết cấu VLĐ còn lệ thuộc vào tính chất thời
vụ sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp. Tìm hiểu thành phần
cũng như nghiên cứu kết cấu nội dung vốn lưu động là rất cần thiết đối với
việc sử dụng chính xác và có hiệu quả số vốn đó trong mỗi doanh nghiệp.
2. Vai trò của vốn lưu động
Vốn lưu động được coi là nguồn lực quan trọng nhất trong doanh nghiệp.
Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu đối với sự ra đời và phát triển của
doanh nghiệp. Trước hết vốn là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp thực hiện
thủ tục pháp lý thành lập. Tiếp theo khi bắt đầu sản xuất kinh doanh phải có
vốn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và VLĐ phục vụ cho quá trình sản
xuất kinh doanh.
Với sự cạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng khốc liệt thì vốn là yếu tố
quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Nếu thừa nhận
vốn doanh nghiệp không thể chủ động trong sản xuất kinh doanh, cũng như
không thể mở rộng quy mô và khi đó doanh nghiệp sẽ bị cạnh tranh bởi các
đối thủ khác mạnh hơn, như vậy quy mô kinh doanh sẽ bị thu hẹp thậm chí
dẫn tới phá sản.

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trên hai khía cạnh
sau:
Hiệu quả xã hội: Thể hiện sự đóng góp của doanh nghiệp trong việc
thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội như tăng cường các khoản phúc lợi
tạo công ăn việc làm cho nền kinh tế quốc dân.
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Hiệu quả kinh doanh: là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của
hoạt động kinh doanh. Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà
doanh nghiệp đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Hiệu quả kinh
tế là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh mối quan hệ
đạt được giữa kết quả về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó:
Hiệu quả kinh tế = Giá trị sản lượng*100%
Chi phi tài chính
Kết quả của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông
thường là đạt được doanh thu hoặc lợi nhuận trong kỳ. Chi phí tài chính cho
hoạt động kinh doanh là số lượng vốn đầu tư để đạt được kết quả đó.
2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại
Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là phải thường xuyên nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động phản ánh tình hình sử dụng VLĐ
trong doanh nghiệp, được thể hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả hoạt động
kinh doanh với số vốn lưu động đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh
trong kỳ.

Hiệu quả sử dụng VLĐ= Lãi ròng .
Vốn lưu động bình quân trong năm
Như ta đã biết VLĐ tiếp diễn không ngừng, lặp đi lặp lại có tính chất chu

động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy mà vấn đề đặt ra là đòi hỏi đồng
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
vốn sử dụng vào kinh doanh phải có hiệu quả và hiệu quả tối đa. Trên góc độ
tài chính doanh nghiệp phải quan tâm đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn từ đó
xem xét tình hình sử dụng VLĐ của doanh nghiệp để có các biện pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
Các chỉ tiêu hiệu quả bao gồm:
3.1. Hệ số thanh toán:
Hệ số này dùng để xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối
với khoản phải trả ngắn hạn, gồm hệ số thanh toán hiện tại và hệ số thanh
toán nhanh.
- Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là thước đo khả năng có thể trả nợ
của doanh nghiệp, nó chỉ ra phạm vi quy mô mà các yêu sách của dư nợ được
trang trải bằng tài khoản lưu động có thể chuyển thành tiền trong kỳ phù hợp
với thời hạn nợ phải trả:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản/ Nợ ngắn hạn và nợ
dài hạn
Đây là tỷ lệ giữa TSLĐ và nợ ngắn hạn. Đó là một trong những thước đo
tốt nhất được sử dụng thường xuyên trong đo lường về sức mạnh tài chính.
Hệ số đó trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp có đủ tài sản lưu động để trả các
khoản nợ ngắn hạn không?
- Hệ số thanh toán nhanh: là thước đo khả năng trả nợ ngay, không được
dựa vào bán vật tư hay hàng hoá (kể cả sản phẩm) là một đặc trưng tài chính
quan trọng của doanh nghiệp.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = (TSLĐ và đầu tư ngắn hạn - Hàng
tồn kho) / Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này trả lời câu hỏi: Nếu thu thập bán hàng không còn nữa thì
doanh nghiệp có thể trả được nợ ngắn hạn không? Căn cứ vào các nguồn tiền

chuyên môn tổ chức của cán bộ từ khâu mua đến khâu bán.
Thời gian của vòng chu chuyển VLĐ được quyết định bằng tổng số thời
gian lưu thông từ kỳ tuần hoàn này đến kỳ tuần hoàn tiếp theo. Thời gian của
vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì tốc độ chu chuyển vốn càng nhanh và
nguợc lại.
Tốc độ chu chuyển VLĐ đuợc thể hiện thông qua 2 chỉ tiêu sau:
- Số vòng chu chuyển VLĐ
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
M
GV

L
=________________LD
V
Trong đó:
L : Số vòng chu chuyển VLĐ trong kỳ
M
GV
: Tổng mức doanh thu trong kỳ theo giá vốn
LD
V
: Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ rằng số vốn lưu động chu chuyển càng
nhanh, hoạt động kinh doanh đuợc đánh giá là tốt.
- Số ngày chu chuyển vốn lưu động phản ánh độ dài một vòng quay của

đến kỳ kiểm tra VLĐ của doanh nghiệp vẫn đảm bảo tương ứng với số tài sản
lưu động ban đầu theo thời giá hiện tại.
Bảo toàn và phát triển VLĐ là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối
với từng doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển VLĐ trong
doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, những nhân tố xấu
có thể làm giảm VLĐ và làm ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh. Chính vì
điều này mà việc bảo toàn và phát triển vốn trở thành nguyên tắc bắt buộc các
doanh nghiệp phải thực hiện. Đối với doanh nghiệp nhà nước bảo toàn vốn là
yêu cầu của chế độ hạch toán và là chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nuớc.
Để đánh giá mức độ bảo toàn VLĐ ta cần xác định số VLĐ hiện có và số
VLĐ phải bảo toàn đến cuối kỳ. Trong đó số VLĐ hiện có ở cuối kỳ trên sổ
sách kế toán của doanh nghiệp sau khi đã điều chỉnh chênh lệch giá của tài
sản lưu động theo thời giá. Các khoản chênh lệch giá đó được xác định trong
mọi trường hợp thay đổi giá trị vật tư hàng hoá do Nhà nước quy định hoặc
vật tư hàng hoá mua theo giá thoả thuận trên thị trường.
Vốn lưu động phải bảo toàn đến cuối kỳ được xác định như sau:
Sau khi xác định đuợc VLĐ hiện có cuối kỳ và VLĐ phải bảo toàn cuối
kỳ ta so sánh chúng với nhau:
Hệ số bảo toàn VLĐ: H = Vốn lưu động
Tổng tài sản
Nếu hệ số H > 1 thì doanh nghiệp đã bảo toàn và phát triển VLĐ.
H = 1 Công ty bảo toàn được VLĐ ;
Nếu hệ số H < 1 doanh nghiệp không bảo toàn đuợc VLĐ nghĩa là sau
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
khi loại trừ ảnh hưởng của giá VLĐ của doanh nghiệp bị thâm hụt.
Khi sử dụng hệ số bảo toàn VLĐ thì chưa thể đánh giá được mức độ hiệu
quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp mà chỉ đánh giá được tổng quát về hiệu
quả sử dụng vốn lưu động.

Nếu hệ số vòng quay các khoản phải thu cao thể hiện doanh nghiệp thu
hồi nhanh các khoản nợ. Trong khi kinh doanh doanh nghiệp nên đánh giá
nghiên cứu kỹ những khoản phải thu thông qua việc đánh giá khả năng tài
chính của khách hàng hoặc uy tín của họ nhằm đưa ra phương thức kinh
doanh thích hợp.
- Vòng quay các khoản phải trả :
Số vòng quay các khoản phải trả = Giá vốn/ khoản phải trả bình quân
Kỳ trả tiền bình quân = 12 tháng /vòng quay khoản phải trả
Số ngày phân tích trong kỳ thuờng tính bằng 1 năm bằng 360 ngày. Nếu
vòng quay các khoản phải trả thấp doanh nghiệp đa tận dụng đuợc một số vốn
tạm thời để bổ sung cho vốn kinh doanh:
Chỉ tiêu này cho ta biết tỷ lệ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp chiếm
dụng vốn càng nhiều và ngược lại.
- Hệ số phục vụ vốn công cụ, dụng cụ, nguyên vật liệu: Hệ số này phản
ánh một đồng vốn công cụ, dụng cụ, nguyên vật liệu bỏ ra thì hoạt động kinh
doanh sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu.
-Tỷ suất lợi nhuận ròng của vốn kinh doanh. Nó phản ánh mỗi đồng vốn
sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất
quan tâm, hệ số này đo luờng mức lợi nhuận thu được lên mỗi đồng vốn chủ
sở hữu trong kỳ.
Ngoài bốn chỉ tiêu chung phân tích trên để thấy rõ được hiệu quả sử
dụng vốn lưu động ta xem xét các chỉ tiêu sau:
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
- Hệ số vòng quay vốn hàng hoá dự trữ: hàng hoá dự trữ được coi là bộ
phận chủ yếu của VLĐ trong doanh nghiệp, do vậy tốc độ chu chuyển hàng
hoá tồn kho có ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của toàn bộ VLĐ và ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Tốc độ lưu chuyển hàng tồn kho

trong kỳ thấp thì hiệu quả sử dụng VLĐ là kém. Từ đó có thể thấy rằng việc
tăng doanh thu hay tăng mức lưu chuyển hàng hoá là mục tiêu phân đấu của
mọi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên
việc tăng mức lưu chuyển hàng hoá có thể kéo theo chi phí kinh doanh tăng.
Nhưng nếu tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng chi phí thì vẫn đảm bảo
có lãi tức là việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả.
- Chi phí kinh doanh: Có thể hiểu chi phí kinh doanh là đảm bảo tốt nhất
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở sử dụng hợp lý tiết
kiệm mọi nguồn vật tư, tiền vốn, sức lao động của doanh nghiệp để đạt được
lợi nhuận tối đa trong khuôn khổ pháp luật, nâng cao năng suất lao động và
hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
Để quản lý tốt chi phí kinh doanh, các doanh nghiệp lập kế hoạch chi phí
sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch tài chính là hình thức hoá tiền tệ tính toán
các chỉ tiêu về chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế hoặch, cùng các biện pháp phấn đấu
thực hiện kế hoạch đó, kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh là những mục
tiêu phấn đấu của đon vị, đồng thời cũng là căn cứ để đơn vị cải tiến công tác
quản lý kinh doanh, thực hiện chế độ tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh, hạ
giá thành sản phẩm hàng hoá, tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh
nghiệp trong kỳ.
Chi phí kinh doanh là nhân tố tương quan tỉ lệ nghịch với hiệu quả sử
dụng vốn ta nhận thấy từ chỉ tiêu:
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Nếu tổng số vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ là một số cố định.
Khi tổng chi phí thực tế đã chi trong kỳ tăng (giảm) sẽ trực tiếp làm cho hệ
số sinh lời của VLĐ trong kỳ đó giảm (tăng) tức là hiệu quả sử dụng VLĐ
giảm (tăng).
- Lượng tiền mặt tồn quỹ trong doanh nghiệp có thể ảnh hưởng tới hoạt

a) Xét về mặt khách quan
Hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của một số
nhân tố sau:
+ Lạm phát: Do tác động của nền kinh tế thị trường có lạm phát là cho
sức mua của đồng tiền sụt giảm hay giá cả của các loại vật tư hàng hoá tăng
lên Vì vậy nếu doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá trị của các loại
tài sản đó thì sẽ làm cho VLĐ giảm dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ.
+ Rủi ro: Do rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh mà
các doanh nghiệp thường gặp phải trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế, cùng cạnh tranh Khi kinh tế thị
trường không ổn định, sức mua có hạn thì càng làm tăng khả năng rủi ro của
doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải gặp nhiều rủi ro do thiên tai
gây ra như: hoả hoạn, bão lụt mà các doanh nghiệp khó có thể tránh được.
+ Yếu tố sản xuất tiêu dùng: chu kỳ, tính thời vụ của sản xuất và tiêu
dùng ảnh hưởng trực tiếp tới mức lưu chuyển hàng hoá.
Những hàng hoá có chu kỳ sản xuất dài vốn hàng hoá lớn sẽ làm cho tốc
độ chu chuyển VLĐ chậm và ngược lại bên cạnh sự phân bổ hàng hoá giữa
nơi sản xuất và tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển hàng hoá.
Nếu sự phân bố này là hợp lý sẽ tạo điều kiện rút ngắn thời gian lưu thông
hàng hoá, tăng tốc độ chu chuyển tăng hiệu quả sử dụng VLĐ.
+ Nhu cầu thị trường, giá cả hàng hoá dịch vụ. Trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo, nhu cầu về thị trường và giá cả hàng hoá và dịch vụ là những
biến số rất khó xác định. Sự thay đổi của cung cũng ảnh hưởng đến hiệu quả
SV: Đàm Thị Ngọc Tú
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
việc sử dụng vốn hay lợi nhuận thu được của doanh nghiệp.
Chẳng hạn, có sự biến động lớn về sức mua đối với một hàng hoá nào đó
mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Nếu sức mua mặt hàng này giảm doanh
nghiệp sẽ đạt mức doanh thu và lợi nhuận thấp làm cho hiệu quả sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status