1
1 LÝ LUN CHUNG V DÒNG TIN VÀ QUN TR
DÒNG TIN NGN HN TRONG DOANH NGHIP
1.1. Dòng tin
1.1.1 Khái niệm về dòng tiền
Trước hết, cần phân biệt được lợi nhuận và dòng tiền, thực tế thì rất nhiều
người bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm lợi nhuận và dòng tiền nhưng đây là hai khái
niệm hoàn toàn độc lập. Lợi nhuận( Income) chỉ là khoản chênh lệch giữa tổng doanh
thu và tổng chi phí, trong khi đó dòng tiền( Cash Flow) đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp
tới hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn, giúp cho doanh nghiệp giải quyết được các
vấn đề về đầu tư hay hoạt động kinh doanh tài chính một cách hiệu quả. Vậy dòng tiền
là sự lưu chuyển của tiền (dòng tiền vào và dòng tiền ra) trong một thời kỳ. Dòng tiền
gắn liền với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, do đó phân tích dòng tiền của
doanh nghiệp rất quan trọng đối với người quản lý doanh nghiệp cũng như các đối
tượng bên ngoài quan tâm đến doanh nghiệp
Dòng tiền vào( số tiền nhận được) trong doanh nghiệp bao gồm: tiền từ các
khoản bán hang và các dịch vụ, từ các khoản đầu tư tài chính,
Dòng tiền ra( số tiền phải chi ) trong doanh nghiệp bao gồm: tiền mua hàng
hóa nguyên vật liệu, tiền lương và các khoản chi phí theo hợp đồng đã ký với nhân
công,…
1.1.2 Phân loại dòng tiền
Dòng tiền trên thực tế được phần ra rất nhiều loại tùy theo mục đích và cách
thức sử dụng của doanh nghiệp, nhưng có 3 cách thức phân loại dòng tiền chính.
Thứ nhất, dòng tiền được phân theo mối quan hệ giữa dòng tiền và dòng vật
chất vận động trong doanh nghiệp, dòng tiền sẽ được chia làm hai loại dòng tiền đối
trọng và dòng tiền đối lập:
Dòng tiền đối trọng: là dòng tiền vào ra tương ứng với dòng hàng hóa vào ra
trong doanh nghiệp, dòng tiền đối trọng được chia làm ba loại
Dòng tiền đối trọng trực tiếp: là dòng tiền chỉ xuất hiện đối trọng với dòng
hàng hóa, dịch vụ. Đây là trường hợp đơn giản nhất trong doanh nghiệp- thanh toán
trữ tài sản thực của doanh nghiệp A bị giảm đi, nhưng đổi lại, doanh nghiệp A có một
khoản trái quyền đối với doanh nghiệp B trong thời gian t
1
- t
2
cho tới lúc dòng tiền
xuất hiện tại thời điểm t
2
. Đối với doanh nghiệp B, việc giữ một tài sản thức đã làm
phát sinh một khoản nợ cho đến khi dòng tiền xuất hiện ở thời điểm t
2
, cặp Trái quyền-
Nợ được giải quyết một cách trọn vẹn.
Dòng tiền đối trọng đa dạng: để khắc phục sự mất cân đối ngân quỹ, đảm bảo
khả năng chi trả thong qua thiết lập ngân quỹ tối ưu, doanh nghiệp có thể chiết khấu,
nhượng bán trái uyền cho một tổ chức tài chính trung gian hoặc dung trài quyền như
một tài sản thế chấp cho một khoản vay tùy theo những điểu kiện cụ thể. Như vậy, tài
sản tài chính- trái quyền- có thể là đối tượng giao dịch. Đây là một hiện tượng quan
trọng và phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Dòng tiền đối lập: đây là dòng tiền phát sinh từ các nghiệp vụ tài chính thuần
túy(chứng khoán, ngoại tệ).Như vậy, sự ra đời, vận hành và phát triển của doanh
nghiệp làm phát sinh một hệ thống các dòng hàng hóa, dịch vụ và các dòng tiền,
chúng thường xuyên làm thay đổi khối lượng, cơ cấu tài sản thực và tài sản tài chính(
trái quyền và nợ) của doanh nghiệp.( dòng tiền và dòng vật chất không liên quan đến
nhau)
Thứ hai, phân loại dòng tiền theo thời gian của tiền, dòng tiền được chia thành
dòng tiền dài hạn và dòng tiền ngắn hạn
Dòng tiền ngắn hạn:là dòng tiền thường xuyền ra vào, có thời gian luân
chuyển nhỏ hoặc bằng một chu kì sản xuất kinh doanh. Thời gian luân chuyển của
dòng tiền nhỏ hơn 12 tháng. Doanh nghiệp có thể đi vay một khoản tiền với thời hạn là
1.2.1 Khái niệm quản trị dòng tiền
Các vấn đề về dòng tiền cũng tiềm ẩn những nguy cơ tương tự như những vấn
đề về huyết áp, tim mạch của cơ thể con người. Những nguy cơ tiềm ẩn này có thể dẫn
đến tai biến, đột quỵ bất kỳ lúc nào, kế cả đối với những cơ thể đang rất khỏe mạnh,
cường tráng.
Cash flow, tức dòng tiền, về bản chất là dòng chuyển động tiền tệ đi vào và đi
ra của doanh nghiệp, là dòng chảy tiền vào (cash inflow) và tiền ra (cash outflow), tạo
nên khả năng thanh toán (solvency) hoặc tình trạng mất khả năng thanh toán
(insolvency) của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có hoạt động quản trị tài chính
chuyên nghiệp không bao giờ dám bỏ qua hoặc xem nhẹ khâu quản trị dòng tiền (cash
flow management), nếu không muốn gặp phải “cái chết bất ngờ”.
Việc quản trị dòng tiền rất quan trọng đối với doanh nghiệp chính vì vậy, các
nhà quản trị doanh nghiệp cần tổ chức thực hiện thường xuyên việc phân tích và hoạch
định dòng tiền.
Phân tích dòng tiền (cash flow analysis) là hoạt động nghiên cứu chu kỳ của
các khoản tiền vào và ra của doanh nghiệp, nhằm mục đích xác định việc dư hay thiếu
của dòng tiền tại các thời điểm cùng với nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của
việc dư hay thiếu này. Phân tích dòng tiền bao gồm việc phân tích các hoạt động của
4
doanh nghiệp có ảnh hưởng đến dòng tiền ra, vào, chẳng hạn như các khoản phải thu,
các khoản vay, các khoản phải chi, thời hạn phải trả các khoản nợ
Hoạch định dòng tiền là hoạt động điều khiển dòng tiền ra vào trong tương lai
theo ý doanh nghiệp nhằm tạo ra và duy trì trạng thái tiền mặt phù hợp với hoạt động
của doanh nghiệp, thông thường là vừa đủ, cộng với số phần trăm dự phòng tùy theo
tình hình thực tế từng doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích các chu kỳ tiền vào, tiền ra
và xác định được những vấn đề tiềm ẩn đối với dòng tiền, các chuyên gia sẽ có những
điều chỉnh thích hợp để tiền vào, tiền ra được hài hòa, không bị thiếu hụt nghiêm trọng
hoặc dư thừa quá mức cần thiết.
Có thể quản trị dòng tiền theo thời gian theo ngắn hạn và dài hạn thông qua
đề này. Thông thường, dòng tiền thu - chi đến từ 3 khoản mục lớn: tồn kho, khoản phải
trả và khoản phải thu. Khoản phải trả liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của bộ phận
cung ứng - mua hàng. Khoản phải thu là trách nhiệm của bộ phận kinh doanh, còn tồn
kho là sự phối hợp giữa bộ phận sản xuất và kinh doanh.
Phải trả là các khoản thanh toán cho nhà cung cấp đầu vào của công ty. Thời
gian phải trả, tức thời gian nợ nhà cung cấp, càng dài thì càng có lợi cho dòng tiền. Ví
dụ, bộ phận cung ứng đã đàm phán kéo dài được thời gian thanh toán thêm 15 ngày
với một nhà cung cấp lớn, nhờ đó làm giảm đáng kể áp lực chi tiền mặt cho công ty.
Nếu bộ phận tài chính chậm nắm bắt điều này, sẽ dẫn đến việc duy trì quá nhiều tiền
mặt hơn mức cần thiết và gây lãng phí, gia tăng chi phí sử dụng vốn.
Ngược lại với khoản phải trả, khoản phải thu là phần doanh thu khách hàng
mua chịu của công ty. Bộ phận kinh doanh thường có xu hướng lơi lỏng đối với các
khoản bán hàng trả chậm để đạt mục tiêu doanh số. Điều này dẫn đến doanh thu cao,
nhưng khả năng tiền mặt kém do thời hạn trả chậm bị kéo dài. Việc áp dụng quy tắc
80/20 đối với khoản phải thu cũng tương tự như khoản phải trả. Nếu bộ phận kinh
doanh điều chỉnh chính sách bán hàng trả chậm đối với 20% số lượng khách hàng
nhưng chiếm đến 80% doanh số thì dòng tiền sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh. Một lần nữa,
có thông tin kịp thời từ bộ phận kinh doanh sẽ giúp bộ phận tài chính có sự ứng phó
phù hợp.
Lượng hàng tồn kho liên quan đến trách nhiệm của bộ phận sản xuất và kinh
doanh. Bộ phận sản xuất sẽ căn cứ vào kế hoạch sản xuất để tính toán trữ nguyên vật
liệu và bán thành phẩm cần thiết cho quy trình sản xuất. Bộ phận kinh doanh thì phải
đảm bảo lượng thành phẩm trong kho đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Công ty
nào cũng muốn duy trì được lượng tồn kho vừa đủ, nhưng rà soát theo nguyên tắc
80/20 có thể thấy một thực tế trái ngược. Đó là sẽ có những mặt hàng đem lại doanh
thu ít nhưng tồn kho nhiều. Hay có một vài khâu sản xuất nào đó đang duy trì lượng
bán thành phẩm, nguyên liệu quá cao so với các khâu còn lại. Vì thế, việc tinh gọn
những hạng mục chiếm tồn kho lớn sẽ đem lại một dòng tiền đáng kể.
Nguyên lý 80/20 luôn phải được xem xét một cách linh hoạt. Một khoản mục
trong quá khứ chiếm giá trị nhỏ, nhưng năm sau có thể tăng vọt đột biến và làm phá
không những tránh bị mất khả năng thanh toán, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi vay mà còn có
rất nhiều lợi ích khác như:
Bảo đảm uy tín với nhà cung cấp, nhà thầu: Nếu doanh nghiệp luôn thanh toán
đầy đủ và đúng hạn thì nhà cung cấp sẽ rất yên tâm để cung cấp hàng hóa và dịch vụ
cho doanh nghiệp. Sẽ có rất nhiều lợi ích mà doanh nghiệp nhận được từ việc này như:
được ưu tiên cung cấp hàng hóa, ưu đãi về giá, ưu đãi về bảo hành, được nới rộng điều
khoản thanh toán,… Tất cả những lợi ích đó sẽ làm cho doanh nghiệp luôn có đầu vào
ổn định, không mất chi phí tìm nguồn cung mới, tăng khả năng cạnh tranh và từ đó
tăng lợi nhuận, tăng dòng tiền.
Bảo đảm uy tín với bên cho vay: Một công ty quản lý tốt là công ty sử dụng
chi phí bình quân thấp nhất và mức độ an toàn tài chính cao nhất. Để có được điều kiện
vay tốt thì trước hết doanh nghiệp phải chứng tỏ được khả năng trả nợ gốc và lãi vay
bằng cách quản trị dòng tiền hiệu quả. Từ việc phải quản trị dòng tiền tốt doanh nghiệp
sẽ chú ý đến toàn bộ các mặt hoạt động khác: hướng vào thị trường tốt, thu tiền tốt,
quản trị chi phí tốt, dự án đầu tư khả thi, tính thanh khoản cao các tài sản thế chấp,…
Thang Long University Library
7
Công ty có nợ nhiều cũng không quá lo so với việc bên cho vay không tiếp tục hỗ trợ,
do vậy việc quản trị dòng tiền là mấu chốt của vấn đề.
Bảo đảm cho cán bộ công nhân an tâm làm việc: Nhân lực là nguồn vốn rất
quý đối với công ty, họ là những người trực tiếp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, doanh
nghiệp có đội ngũ tốt sẽ tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường. Sản phẩm làm ra chất
lượng tốt hơn, năng suất cao hơn, giá thành hạ hơn…Như vậy dòng tiền sẽ tốt hơn.
Nếu công ty có được đội ngũ tốt thì phải giữ và phát triển hơn bằng cách trả thù lao
xứng đáng, bảo đảm đời sống vật chất cho họ, đối xử tốt với họ. Để làm được điều đó
thì phải quản trị tốt dòng tiền. trả đủ, kịp thời lương và các nghĩa vụ xã hội khác. Điều
đó không những tốt cho họ mà còn tốt cho công ty cả về năng lực cạnh tranh và hình
ảnh công ty trên thị trường lao động.
Sử dụng tối ưu, hiệu quả nguồn vốn: Kiểm tra sự hợp lý trong việc huy động
Trong thực tế, doanh thu của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố, cụ thể:
Thứ nhất là kết cấu mẫu mã hàng hóa: Mỗi doanh nghiệp có thể sản xuất
nhiều sản phẩm khác nhau, giá cả của chúng cũng khác nhau. Những sản phẩm có vai
trò quan trọng, có tính chất chiến lược đối với nền kinh tế quốc dân, nhà nước sẽ định
giá, còn lại căn cứ vào tính hình cung cầu trên thị trường mà doanh nghiệp xây dựng
giá bán sản phẩm. Việc thay đổi kết cấu mẫu mã hàng hóa cũng ảnh hưởng lớn đến
doanh thu, tuy nhiên cũng cần thấy rằng mỗi loại sản phẩm đều có tác dụng nhất định
trong việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung, cho nên phấn đấu tăng doanh thu các
doanh nghiệp cũng nên chú ý đến việc thực hiện đảm bảo kế hoạch sản xuất những mặt
hàng mà doanh nghiệp đó đã lý hợp đồng.
Thứ hai là chất lượng hàng hóa: Việc sản xuất kinh doanh gắn liền với việc
đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Chất lượng sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến giá cả sản phẩm và dịch vụ, do đó ảnh
hưởng trực tiếp đến doanh thu. Ở các doanh nghiệp sản xuất, số sản phẩm được sản
xuất ra có thể phân loại thành những sản phẩm khác nhau về giá bán và chất lượng.
Sản phẩm có chất lượng tốt hơn thì giá sẽ cao hơn vì vậy chất lượng chính là giá trị
được tạo thêm. Nâng cao chất lượng sản phẩm còn tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm dễ
dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng.
Thứ ba là giá cả hàng hóa: Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi,
thì việc thay đổi giá bán có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu. Việc thay đổi giá bán
(giá bán cao hay thấp) một phần quan trọng do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết
định. Để đảm bảo được doanh thu, doanh nghiệp phải có những quyết định về giá cả,
giá cả phải bù đắp chi phí đã tiêu hao và tạo nên lợi nhuận thỏa đáng để thực hiện tái
sản xuất mở rộng. Doanh nghiệp phải luôn bám sát tình hình thị trường để quyết định
mở rộng hay thu hẹp nguồn hàng hóa mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh, tùy
thuộc vào quan hệ cung cầu mà doanh nghiệp có thể rơi vào ba trạng thái: lãi, lỗ hoặc
hòa vốn.
Thứ tư là thể thức thanh toán: Việc lựa chọn phương thức tiêu thụ và thanh
toán tiền hàng cũng có ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm
dịch vụ như : Khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, công cụ, năng lượng
Bộ phận này được gọi là hao phí vật chất.
Chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia quá trình
sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ, được gọi là hao phí lao động cần thiết.
Giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất ra giá
trị sản phẩm, dịch vụ.
1.3.1.3. Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền mặt là tài sản có tính lỏng nhất ( tính thanh khoản) cao nhất nên doanh
nghiệp cần dự trữ tiền để thực hiện một số mục đích như: đảm bảo hoạt động thường
nhật như trả tiền khi mua hàng, thanh toán nợ cho người bán, trả lương, thưởng,
thuế,… luôn được duy trì đều đặn; hay để đối phó với các nhân tố bất thường có thể
xảy ra trong tương lai như tích trữ cho mùa, đồng thời sẵn sang nắm bắt những cơ hội
10
đầu tư thuận lợi trong kinh doanh như mua nguyên liệu dự trữ khi thị trường giảm giá,
hoặc tỷ giá biến động thuận lợi.
Quản lý tiền mặt là một quá trình bao gồm việc thu hồi nợ, kiểm soát chi tiêu,
bù đắp thâm hụt ngân sách, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, đầu tư những
khoản tiền nhàn rỗi và trả tiền cho các ngân hàng. Vì vậy mục tiêu của quản trị tiền
mặt là tối thiếu hóa một phần hay toàn bộ chi phí giao dịch, gồm phí chuyển tiền, hoa
hồng môi giới và chi phí cơ hội của số tiền mặt tồn quỹ không sinh lời.
Để lựa chọn phương thức thu tiền tối ưu, ta cần đánh giá hiệu quả các phương
thức thu tiền đó, phương thức thu tiền đề xuất và phương thức thu tiền hiện tại trên cơ
sở so sánh lợi ích sau thuế tăng thêm và chi phí thuế tăng thêm. Ngoài ra, để thúc đẩy
tiền được thu hồi nhanh hơn, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán,
tăng tốc độ bán hàng hoặc thay đổi phương thức thu nợ,…
Đối với quản lý chi tiền, điều khoản chiết khấu tiền mặt cũng đối với khoản
thanh toán sớm cũng là một điều khoản thường gặp trong các điều kiện mua hàng. Với
tư cách người mua chịu, công ty nên quyết định thanh toán sớm để nhận chiết khấu
Thang Long University Library
11
Trên cơ sở so sánh B và C để rút ra kết luận:
Nếu B > C: lựa chọn phương thức thu tiền đề xuất
B < C: lựa chọn phương thức hiện tại.
B = C: bàng quan.
1.3.1.4. Quản lý phải thu khách hàng
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ công ty do mua chịu hàng hoá hoặc
dịch vụ. Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với
mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi. Kiểm
soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Nếu không
bán chịu hàng hoá thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó, mất đi lợi nhuận. Nếu bán chịu
hàng hoá quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng và nguy cơ phát sinh các khoản
nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng. Vì vậy, công ty cần có
chính sách bán chịu phù hợp.
Khoản phải thu của công ty phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố
như
tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách
bán chịu của công ty. Trong các yếu tố này, chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất
đến khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính. Giám đốc tài chính có thể
thay đổi mức độ bán chịu để kiểm soát khoản phải thu sao cho phù hợp với sự đánh đổi
giữa lợi nhuận và rủi ro. Hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu có thể kích thích được nhu cầu
dẫn tới gia tăng doanh thu và lợi nhuận, nhưng vì bán chịu sẽ làm phát sinh khoản phải
thu, và do bao giờ cũng có chi phí đi kèm theo khoản phải thu nên giám đốc tài chính
cần xem xét cẩn thận sự đánh đổi này. Liên quan đến chính sách bán chịu sẽ có các
vấn đề như tiêu chuẩn bán chịu ,điều khoản bán chịu và chính sách và quy trình thu nợ.
Tiêu chuẩn bán chịu:
Tiêu chuẩn bán chịu là tiêu chuẩn tối thiểu về mặt uy tín tín dụng của khách
hàng để được công ty chấp nhận bán chịu hàng hoá hoặc dịch vụ. Tiêu chuẩn bán chịu
công ty phải đối mặt hiện nay là quản lý danh sách khách hàng một cách có chiến lược
nhằm tối ưu hóa hiệu suất thu hồi nợ. Quản lý danh sách khách hàng hiệu quả sẽ giúp
các công ty phân loại được khách hành dựa trên mức độ rủi ro. Đối với những khoản
nợ có độ rủi ro thấp và khách hàng không thường xuyên thanh toán nợ đúng hạn, công
ty cần có thông báo nhắc nhở hoặc thực hiện một cuộc gọi cho khách hàng qua hệ
thống trả lời điện thoại được điện toán hóa để nắm được thông tin về việc thanh toán.
Điều này sẽ giúp tiết kiệm được nhiều thời gian và nhân lực để các nhân viên có thể
tập trung vào những khoản nợ có rủi ro cao hơn.
Ghi nhận và thông báo công nợ: Kế toán công nợ có nhiệm vụ thực hiện kiểm
tra trên hệ thống xem khách hàng có đủ điều kiện thực hiện công nợ hay không, giao
dịch đúng chưa ( xem khách hàng đã từng vay nợ công ty hay chưa, có thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ công nợ hay không,…). Sau đó kế toán công nợ xác định chứng từ, theo
dõi công nợ trên hệ thống.
Thu tiền: Kế toán công nợ thực hiện lập giao dịch thu tiền trên hệ thống, xác
nhận công nợ, thực hiện in phiếu thu và lấy các xác nhận có liên quan, sau đó thực
hiện thu hồi công nợ công ty.
Bù trừ công nợ: Kế toán công nợ kiểm tra giấy tờ công nợ, thực hiện giao dịch
bù trừ công nợ trên hệ thống cho khách hàng, theo dõi chứng từ. Bộ phân kế toán sẽ
Thang Long University Library
13
thực hiện duyệt chứng từ cho khách hàng rồi sau đó tiếp tục theo dõi công nợ trên hệ
thống của doanh nghiệp.
1.3.1.5. Quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho là tất cả những nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng cho nhu cầu hiện
tại hoặc tương lai. Hàng tồn kho không chỉ có tồn kho thành phẩm mà còn có tồn kho
sản phẩm dở dang, tồn kho nguyên vật liệu/linh kiện và tồn kho công cụ dụng cụ dùng
trong sản xuất…Trong một doanh nghiệp, hàng tồn kho bao giờ cũng là một trong
những tài sản có giá trị lớn nhất trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp đó. Thông
thường giá trị hàng tồn kho chiếm 40% - 50% tổng giá trị tài sản của một doanh
của từng loại hàng tồn kho nhân với chi phí tồn kho đơn vị. Tiêu chuẩn để xếp các loại
hàng tồn kho vào các nhóm là:
-Nhóm A: Bao gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 70 - 80% tổng giá trị tồn
kho, nhưng về số lượng chỉ chiếm 15 - 20% tổng số hàng tồn kho;
-Nhóm B: Gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 25 - 30% tổng giá trị hàng
tồn kho, nhưng về sản lượng chúng chiếm từ 30 - 35% tổng số hàng tồn kho;
- Nhóm C: gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, giá trị hàng năm chỉ
chiếm 5 -10% tổng giá trị tồn kho. Tuy nhiên về số lượng chúng lại chiếm khoảng 50 –
55% tổng số hàng tồn kho.
Bằng việc chia hàng lưu kho thành nhiều nhóm, công ty có thể tập trung vào
nhóm mà cần sự kiểm soát hiệu quả nhất, mà cụ thể ở đây là nhóm A, tiếp theo là
nhóm B và cuối cùng là nhóm C. Nếu như nhóm A được xem xét quản lý một cách
thường xuyên thì nhóm B sẽ ít được thường xuyên hơn , có thể là hàng tháng, hàng
quý còn nhóm C sẽ ít hơn nữa, có thể là hàng năm.
Ưu điểm của quản lý hàng tồn kho theo mô hình ABC đó là việc phân loại hàng
hóa theo giá trị để áp dụng cho mô hình là công việc đơn giản, dễ tiến hành, đồng thời
quản lý hàng tồn kho có hiệu quả do có thể sắp xếp các loại hàng hóa theo giá trị giảm
dần ( doanh nghiệp sẽ tập trung vào nhóm hàng tồn kho cần quản lý chặt chẽ nhất để
sau đó có hiệu quả kinh doanh tốt nhất). Tuy nhiên mô hình chưa giải quyết được việc
tối thiểu hóa chi phí lưu kho.
10%
30%
60%
15%
Nhóm A
Nhóm B
Giá trị tích lũy
% loại tồn kho
Nhóm C
50%
C
=(D/Q)*S=D*S/Q
Tổng chi phí lưu kho hàng năm (C
lk
):
C
lk
= (Q/2)*H
Tổng chi phí tồn kho trong năm (TC) là tổng của chi phí đặt hàng và chi phí lưu
kho:
TC = C
+ C
lk
= (D/Q)*S + (Q/2)*H 16
Sơ đồ 1. 2. Mô hình EOQ Qua đồ thị trên, ta thấy lượng đặt hàng tối ưu (Q*) khi tổng chi phí đạt giá trị nhỏ
nhất. Tổng chi phí nhỏ nhất tại điểm đường cong chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng cắt
nhau.
Do đó, lượng đặt hàng tối ưu sẽ được xác định như sau:
thanh toán công nợ của doanh nghiệp và xác định các giải pháp huy động vốn, đáp ứng
nhu cầu thanh toán góp phần ổn định tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.3.2. Quản trị dòng tiền từ hoạt động tài chính ngắn hạn
Dòng tiền trong hoạt động tài chính bao gồm các khoản thu từ phát hành cổ
phiếu, góp vốn hay chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu; tiền vay ngắn hạn, dài hạn mà
doanh nghiệp nhận được như chi trả nợ gốc vay, trả nợ thuê tài chính,… Về phương
diện quản trị dòng tiền từ hoạt động tài chính ngắn hạn gồm các khoản mục sau:
1.3.2.1. Nợ ngắn hạn
Có hai chính sách quản lý nợ ngắn hạn mà các doanh nghiệp đang sử dụng đó là
chính sách cấp tiền và chính sách thận trọng.
Chính sách quản lý nợ ngắn hạn theo trường phái thận trọng là chính sách duy trì
mức nợ ngắn hạn thấp và có các đặc điểm:
Mức nợ ngắn hạn cao: Cách tiếp cận quản lý cấp tiến tăng phải trả người đến hết
mức có thể và thanh toán chúng chậm cũng đến hết mức có thể miễn sao không gây
mất uy tín tín dụng Vay ngắn hạn cũng được sử dụng rộng rãi.
Thời gian quay vòng tiền ngắn: Thông qua việc tăng giá trị khoản phải trả người
bán và các khoản nợ đọng khác mà làm giảm vòng quay các khoản phải trả, tăng thời
gian trả nợ trung bình và làm giảm thời gian quay vòng của tiền.
Chi phí lãi thấp hơn nếu lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn: Thông
thường thì lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn do đó, lợi ích dự kiến của chính
sách quản lý nợ cấp tiến là cho phép vay vốn với mức lãi suất thấp hơn so với công ty
phải trả cho tài trợ dài hạn. Nếu chi phí lãi thấp hơn, trong khi các yếu tố khác không
đổi thì thu nhập sẽ cao hơn.
Rủi ro và thu nhập yêu cầu: Theo đuổi việc duy trì tỷ trọng nợ ngắn hạn cao có
thể khiến các doanh nghiệp gặp rủi ro trong thanh toán do phải đáo hạn khi các khoản
nợ ngắn hạn đến hạn mà doanh nghiệp vẫn muốn có vốn. Và điều này đòi hỏi phải
được đánh đổi bằng thu nhập cao hơn.
Ngược lại, chính sách quản lý nợ ngắn hạn theo trường phái cấp tiến được thực
hiện khi doanh nghiệp duy trì nợ ngắn hạn ở mức cao, các doanh nghiệp theo trường
phái cấp tiến sẽ gặp ít rủi ro trong thanh toán hơn do có ít các khoản nợ ngắn hạn, tận
hoặc bằng 1. Khả năng thanh toán ngắn hạn càng nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của
doanh nghiệp càng xấu. Nếu chỉ số này < 0,5 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp
ở tình trạng rất xấu.
Khả năng thanh toán nhanh =
Tổng TS ngắn hạn – Hàng lưu kho
Tổng nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh cho ta biết một đồng nợ ngắn hạn đến hạn trả nợ,
doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng TSNH để chi trả mà không cần bán hàng
tồn kho. Hàng tồn kho thông thường có tính thanh khoản kém nhất trong các TSNH
của công ty, vì thế chúng là các tài sản có khả năng lớn nhất bị thiệt hại giá trị trong
trường hợp thanh lý. Do vậy, thước đo khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn không
cần đến việc bán hàng tồn kho.
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền + Các khoản tương đường tiền
Thang Long University Library
19
Nợ ngắn han
Khả năng thanh toán tức thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp
đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh
toán. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản có thể sử
dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn.
1.4.1.2. Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) =
Lợi nhuận ròng
Doanh thu thuần
Tỷ số này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu nhằm cho biết một đồng
doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất sinh lời trên tổng TS (ROA) =
Lợi nhuận ròng
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng giá vốn
hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ
mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn, thể hiện mặt hàng kinh doanh có lời
nhất, do vậy doanh nghiệp càng đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ. Chỉ tiêu này thường
phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh ngành nghề cụ thể. Thông thường doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ ăn uống chỉ tiêu này khá cao từ 35-50% nhưng các doanh nghiệp
gia công may mặc chỉ tiêu này thường từ 10-15%
Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng=
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
*100
Chí phí bán hàng
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí
bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức
lợi nhuận trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được cho chí phí
bán hàng.
Tỷ suất sinh lời của chi phí quản lý doanh nghiệp
=
Lợi nhuận thuần HĐKD
*100
Chi phí quản lý
CÔNG TY
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí
doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ
múc lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm
được cho quản lý.
Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí =
EBIT
*100
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí
trong các tổng phải thu dẫn đến khả năng thu hồi nợ khó khăn ảnh hưởng đến tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
Tỷ lệ phải thu quá hạn so với tổng tài sản =
Các khoản phải thu quá hạn
*100
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này mà cao chứng tỏ các khoản phải thu quá chiến chiếm tỷ trọng đáng
kể trong tổng tài sản, dẫn đến khản năng thu hồi nợ khó khăn, dấu hiệu rủi ro tài chính
xuất hiện, nguy cơ phá sản cao.
1.4.3. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền từ hoạt động tài
chính
Khả năng thanh toán lãi vay (TIE)=
EBIT
Lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng
trả lãi như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến gây sức
ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty.
Khả năng trả nợ =
Giá vốn hàng bán + Khấu hao+ EBIT
22
Nợ gốc + Chi phí lãi vay
Tỷ số khả năng trả nợ đo lường khả năng trả nợ gốc và lãi của doanh nghiệp từ
các nguồn như doanh thu, khấu hao và lợi nhuận trước thuế. Thông thường nợ gốc sẽ
được trang trải từ doanh thu và khấu hao, trong khi lợi nhuận trước thuế sử dụng để trả
lãi vay. Tỷ số này cho biết mỗi đồng nợ gốc và lãi có bao nhiêu đồng có thể sử dụng
để trả nợ.
Tỷ suất sinh lời của tiền vay =
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
*100
a ch giao dch: Khu tập thể Tổng cục 2, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành
phố Hà Nội.
n thoi: 04 22460089
Fax: 04 33639083
Mã s thu: 0101335355
Tài khon: 0021000537065 Ngân hàng Vietcombank Chi nhánh Thăng Long.
1.990.000.000 VND (Một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng).
Công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam được thành lập vào năm 2003, giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102007593 do phòng đăng ký kinh doanh Sở kế
hoạch đầu tư Hà Nội cấp, lần đầu ngày 21 tháng 01 năm 2003, đăng ký thay đổi lần 1
ngày 25 tháng 02 năm 2010.
Người đại diện pháp luật của công ty: Giám đốc Phạm Hồ Tuấn.
Năm 2008 – 2009, xây dựng Cơ sở sản xuất: Nhà máy tủ bảng điện VNTEC, tại
cụm Công nghiệp thị trấn Phùng, Đan Phượng, Hà Nội.
Công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam là một công ty TNHH tự chủ về tài
chính, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ tại
ngân hàng Vietcombank ở Việt Nam và có con dấu theo quy định của Nhà nước. 24
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Điện Kỹ Thuật Việt Nam
Sơ đồ 2. 1. Công ty
Kỹ
thuật
Phòng
Tài
chính
Kế toán
Phân
xưởng
Cơ khí
Phân
xưởng
Sơn mạ
Tổ tạp
vụ
Tổ bảo
vệ
Bộ
phận
Quản
lý kho
Bộ phận
Mua vật
tư
Bộ phận
Giao
nhận
tài chính, đặc biệt là hoạt động quảng cáo và tiêu thụ sản phẩm. Phó giám đốc Kinh
doanh là người trực tiếp quản lý các phòng: phòng Kinh doanh, phòng Tài chính Kế
toán, phòng Kế hoạch vật tư.
Phó Giám đốc Sản xuất
Phó Giám đốc Sản xuất là người quản lý các hoạt động sản xuất của công ty, có
trách nhiệm quản lý và điều hành các phòng: phòng Hành chính nhân sự, phòng Kỹ
thuật và nhà máy sản xuất. Đảm bảo chất lượng sản phầm, báo cáo kịp thời các khó
khăn trong khâu sản xuất, theo dõi việc quản lý nguyên liệu vật tư, nhập xuất các
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Phụ trách các vấn đề về nghiên cứu, thử nghiệm và
phát triển các sản phẩm mới có chất lượng cao hơn, mẫu mã đẹp hơn, tăng khả năng
cạnh tranh của sản phẩm.
Phòng Kinh doanh
Phòng Kinh doanh có chức năng tiêu thụ và theo dõi số hàng hóa được tiêu thụ
trong kỳ, từ đó đánh giá tình hình tiêu thụ của công ty để phòng Kế hoạch vật tư có các
biện pháp điều chỉnh phù hợp với thực tế. Đồng thời thăm dò ý kiến khách hàng về sản
phẩm để bộ phận sản xuất nghiên cứu và phát triển làm ra các sản phẩm có chất lượng
tốt hơn, đúng với thị hiếu của khách hàng.
Có chức năng lập ra các kế hoạch quảng cáo hay, hấp dẫn, thu hút được khách
hàng giúp công ty tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu cho công ty. Phụ
trách các bộ phân: bộ phận Bán hàng, bộ phận Quảng cáo.
Phòng Tài chính - Kế toán