Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam ngày nay đang bước vào công cuộc Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất
nước. Để thực hiện công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước thì việc nâng cao hiệu quả
kinh tế trên các mặt hoạt động kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của các doanh
nghiệp. Có nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại
và phát triển, qua đó mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên và
tạo sự phát triển vững chắc cho doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng
hợp. Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết
quả thu về với mục đích đã đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ bản của
nền kinh tế này: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Do đó việc
nghiên cứu và xem xét vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu đối
với mỗi doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hiện nay. Việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh đang là một bài toán khó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp đều phải quan tâm đến, đây là
một vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có độ nhạy bén, linh hoạt cao trong quá trình kinh
doanh của mình.
Trong quá trình toàn cầu hóa - khu vực hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng
thì cùng với nó sự trao đổi thông tin giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp cũng như
doanh nghiệp và người tiêu dùng ngày càng trở nên nhanh chóng, sự bùng nổ công nghệ
thông tin đang là xu thế chung của toàn cầu. Công nghệ thông tin đóng góp một phần to
lớn vào quá trình trao đổi thông tin và góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. Đi kèm
với nó là một lĩnh vực kinh doanh mới mang nhiều tiềm năng đó là dịch vụ cung cấp
phần mềm cho máy tính.
Ở Việt Nam lĩnh vực cung cấp dịch vụ phần mềm máy tính tuy còn mới nhưng
nó chứa đựng những tiện ích nhanh chóng cho người sử dụng. Vì thế việc tạo ra những
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 1
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
phần mềm này cũng mang lại nhiều khó khăn và thách thức đối với các doanh nghiệp.
Được nhận định những thập kỷ tiếp theo là thập kỷ của công nghệ thông tin và công
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 3
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHẦN MỀM MÁY TÍNH:
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Máy tính: Là những thiết bị hay hệ thống dùng để tính toán hay kiểm soát các
hoạt động mà có thể biểu diễn dưới dạng số hay quy luật lôgic.
Chương trình máy tính: Đơn giản chỉ là một danh sách các chỉ thị để máy tính
thực thi, có thể với các bảng dữ liệu. Rất nhiều chương trình máy tính chứa hàng triệu
chỉ thị và rất nhiều chỉ thị được lặp đi lặp lại. Một chiếc máy tính thông thường ngày
nay (năm 2003) có thể thực hiện 2-3 tỷ chỉ thị trong một giây. Máy tính không có các
khả năng đặc biệt thông qua việc thực thi các chỉ thị phức tạp mà cơ bản là nó chỉ thực
thi các chỉ thị đơn giản do lập trình viên đưa ra. Một số lập trình viên giỏi phát triển các
tập hợp chỉ thị dùng cho một số công việc chung (như vẽ một điểm trên màn hình) và
cung cấp các tập hợp chỉ thị đó cho các lập trình viên khác. Một số lập trình viên khác
chỉ phát triển các ứng dụng thực tế dựa trên các nền tảng mà các lập trình viên kia cung
cấp cho họ.
Lập trình máy tính: Là kỹ thuật cài đặt một hoặc nhiều thuật toán trừu tượng có
liên quan với nhau bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình để tạo ra một chương trình
máy tính. Lập trình có các thành tố nghệ thuật, khoa học, toán học và kỹ nghệ.
Phần mềm: Là một tập hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn
ngữ lập trình theo một trật tự xác định nhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ hoặc
chức năng hoặc giải quyết một bài toán nào đó.
Thiết kế phần mềm: Là một quá trình giải quyết vấn đề và lập kế hoạch cho một
giải pháp phần mềm. Sau khi các mục đích và đặc điểm kỹ thuật của phần mềm được
quyết định, lập trình viên sẽ thiết kế hoặc thuê người thiết kế để phát triển một kế hoạch
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 4
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
cho giải pháp phần mềm. Nó bao gồm các thành phần các vấn đề thuật toán cũng như
1.1.3 Quy trình xây dựng - Gia công - Thực hiện phần mềm máy tính:
1.1.3.1 Xây dựng phần mềm máy tính
Quy trình xây dựng phần mềm bao gồm :
Phân tích yêu cầu
Trong các ngành kỹ thuật hệ thống và kỹ nghệ phần mềm, phân tích yêu cầu là
công việc bao gồm các tác vụ xác định các yêu cầu cho một hệ thống mới hoặc được
thay đổi, dựa trên cơ sở là các yêu cầu (có thể mâu thuẫn) mà những người có vai trò
quan trọng đối với hệ thống, chẳng hạn người sử dụng, đưa ra. Việc phân tích yêu cầu
có ý nghĩa quan trọng đối với thành công của một dự án.
Việc phân tích yêu cầu bao gồm ba loại hoạt động sau:
- Làm rõ yêu cầu: Giao tiếp với khách hàng và người sử dụng để xác định các yêu
cầu của họ.
- Xem xét yêu cầu: xác định xem các yêu cầu được đặt ra có ở tình trạng không
rõ ràng, không hoàn chỉnh, đa nghĩa, hoặc mâu thuẫn hay không, và giải quyết các vấn
đề đó.
- Làm tài liệu yêu cầu: các yêu cầu có thể được ghi lại theo nhiều hình thức, chẳng
hạn các tài liệu ngôn ngữ tự nhiên, các tình huống sử dụng, câu chuyện sử dụng, hoặc
các đặc tả tiến trình.
Phân tích yêu cầu có thể là một quá trình dài và khó khăn, cần đến nhiều kỹ năng
tâm lý khéo léo. Các hệ thống mới làm thay đổi môi trường và các mối quan hệ giữa con
người, do đó điều quan trọng là phải xác định được tất cả những người có vai trò quan
trọng, xem xét tất cả các nhu cầu của họ và đảm bảo rằng họ hiểu được các hàm ý của
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 6
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
hệ thống mới. Các nhà phân tích có thể sử dụng một số kỹ thuật để làm rõ các yêu cầu
của khách hàng. Trong lịch sử, các kỹ thuật này bao gồm các cuộc phỏng vấn, thành lập
các nhóm trọng tâm với các cuộc họp bàn về yêu cầu, và tạo ra các danh sách yêu cầu.
Các kỹ thuật hiện đại hơn gồm có tạo phân tích và tình huống sử dụng. Khi cần thiết,
nhà phân tích sẽ kết hợp các phương pháp này để thiết lập các yêu cầu chính xác của
những người có vai trò quan trọng, nhằm mục đích xây dựng một hệ thống thỏa mãn các
mềm một số lần. Một phần mềm thông thường sẽ tương thích với một hay vài hệ điều
hành, tùy theo cách thiết kế, cách viết mã nguồn và ngôn ngữ lập trình được dùng.
1.1.3.2 Giá dự án phần mềm máy tính
Xác định giá trị phần mềm là việc xác định khối lượng công việc cụ thể, phương
thức tính toán, kiểm tra trên cơ sở nỗ lực giờ công để thực hiện các trường hợp sử dụng
quy định trong biểu đồ Use-case theo các chỉ dẫn có liên quan trên nguyên tắc tuân thủ
các tiêu chuẩn, quy định về ứng dụng công nghệ thông tin của Việt Nam.
Giá trị phần mềm được xác định là cơ sở cho việc lập chi phí ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, lập bảng khối lượng mời thầu khi
tổ chức lựa chọn nhà thầu, quản lý chi phí trong trường hợp chỉ định thầu hoặc tự thực
hiện.
Nguyên tắc cơ bản để xác định giá trị là tính năng tác dụng của phần mềm đó.
Phần mềm càng nhiều tính năng tác dụng thì giá trị càng cao.
Từ năm 2003 trở về trước, giá trị phần mềm trong khối cơ quan nhà nước được
hướng dẫn xác định và lập dự toán kinh phí xây dựng phần mềm ứng dụng theo văn bản
112 (thuộc đề án 112- PV). Tuy nhiên do những hạn chế của văn bản 112 nên phương
pháp tính giá trị phần mềm đã không còn được áp dụng.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 8
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
Văn bản 3364 được Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành tháng 10/2008
hướng dẫn định giá phần mềm áp dụng trong các dự án ứng dụng công nghệ thông sử
dụng ngân sách nhà nước, nhưng đến nay, các đơn vị vẫn chưa thể áp dụng được do văn
bản… quá phức tạp.
Thực tế, không phải lúc nào giá trị phần mềm cũng được xác định theo quy
trình, nghiệp vụ đơn giản thông thường mà phải qua các bước khảo sát, phân tích. Còn
nếu tách ra từng phần cụ thể rồi tính thì sẽ kéo dài quy trình đầu tư công nghệ thông tin
trong khi mức độ thay đổi lại thường xuyên, nhất là các văn bản trong ngành thuế.
Nhiều chuyên gia công nghệ thông tin cho rằng việc xây dựng đơn giá, định mức
và định giá cho phần mềm công nghệ thông tin là một vấn đề chưa có cách giải quyết từ
trước đến nay.
Các ngôn ngữ lập trình khác nhau hỗ trợ các phong cách lập trình khác nhau (còn
gọi là các phương pháp lập trình. Một phần của công việc lập trình là việc lựa chọn một
trong những ngôn ngữ phù hợp nhất với bài toán cần giải quyết. Các ngôn ngữ lập trình
khác nhau đòi hỏi lập trình viên phải xử lý các chi tiết ở các mức độ khác nhau khi cài
đặt các thuật toán. Thông thường, điều này dẫn tới thỏa hiệp giữa thuận lợi cho việc lập
trình và hiệu quả của chương trình (thỏa hiệp giữa "thời gian lập trình" và "thời gian
tính toán").
Ngôn ngữ lập trình duy nhất mà máy tính có thể thực thi trực tiếp là ngôn ngữ
máy còn gọi là "mã máy". Thời kỳ đầu, tất cả các lập trình viên viết chương trình toàn
bằng mã máy, nhưng hầu như không ai làm việc này nữa. Thay vào đó, các lập trình
viên viết mã nguồn, và một máy tính (chạy một trình biên dịch, một trình thông dịch)
dịch nó qua một hoặc vài bước để bổ sung đầy đủ các chi tiết, trước khi bản mã máy
cuối cùng được thực thi trên máy tính đích. Thậm chí khi cần điều khiển mức thấp của
máy tính đích, các lập trình viên viết bằng hợp ngữ. Các lệnh của ngôn ngữ này có tính
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 10
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
gợi nghĩa và tương ứng một-một với các lệnh trong ngôn ngữ máy.
Một số ngôn ngữ, thay vì được dịch ra mã máy, lại được dịch ra dạng nhị phân p-
code (hoặc byte-code). Có các trình thông dịch tương ứng để thực thi dạng nhị phân
này. Bytecode được sử dụng trong ngôn ngữ lập trình Java của Sun Microsystems cũng
như họ ngôn ngữ lập trình NET gần đây của Microsoft và Visual Basic trước phiên
bản .NET.
Biên dịch
Trình biên dịch còn gọi là phần mềm biên dịch là một chương trình máy tính làm
công việc dịch một chuỗi các câu lệnh được viết bằng một ngôn ngữ lập trình (gọi là
ngôn ngữ nguồn hay mã nguồn), thành một chương trình tương đương nhưng ở dưới
dạng một ngôn ngữ máy tính mới (gọi là ngôn ngữ đích) và thường là ngôn ngữ ở cấp
thấp hơn như ngôn ngữ máy. Chương trình mới được dịch này gọi là mã đối tượng.
Hầu hết các trình biên dịch sẽ chuyển dịch mã nguồn viết trong một ngôn ngữ
cấp cao thành mã đối tượng hay ngôn ngữ máy mà có thể được thi hành trực tiếp bởi
hàng, đặc điểm và phạm vi của phần mềm sẽ xây dựng.
- Mục đích và mục tiêu của dự án: Xác định mục đích tổng thể, Tin học hóa hoạt động
nào trong quy trình nghiệp vụ của khách hàng? Xác định mục tiêu của phần mềm: lượng
dữ liệu xử lý, lợi ích phần mềm đem lại.
- Phạm vi dự án: Những người liên quan tới dự án, các hoạt động nghiệp vụ cần tin học
hóa.
- Nguồn nhân lực tham gia dự án: Cán bộ nghiệp vụ, người phân tích, người thiết kế,
người lập trình, người kiểm thử, người cài đặt triển khai dự án cho khách hàng, người
hướng dẫn khách hàng sử dụng phần mềm, người bảo trì dự án phần mềm.
- Ràng buộc thời gian thực hiện dự án: Ngày nghiệm thu dự án, ngày bàn giao dự án.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 12
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
- Ràng buộc kinh phí: Kinh phí trong từng giai đoạn thực hiện dự án.
- Ràng buộc công nghệ phát triển: Công nghệ nào được phép sử dụng để thực hiện dự
án.
- Chữ kí các bên liên quan tới dự án.
Bảo trì
Bảo trì phần mềm: bao gồm điều chỉnh các lỗi mà chưa được phát hiện trong các
giai đoạn trước của chu kỳ sống của một phần mềm, nâng cấp tính năng sử dụng và an
toàn vận hành của phần mềm. Bảo trì phần mềm có thể chiếm đến 65%-75% công sức
trong chu kỳ sống của một phần mềm
Nhiệm vụ của giai đoạn bảo trì phần mềm là giữ cho phần mềm được cập nhật khi
môi trường thay đổi và yêu cầu người sử dụng thay đổi.
Theo IEEE (1993), thì bảo trì phần mềm được định nghĩa là việc sửa đổi một phần
mềm sau khi đã bàn giao để chỉnh lại các lỗi phát sinh, cải thiện hiệu năng của phần
mềm hoặc các thuộc tính khác, hoặc làm cho phần mềm thích ứng trong một môi trường
đã bị thay đổi. Bảo trì phần mềm được chia thành 4 loại:
- Sửa lại cho đúng: là việc sửa các lỗi hoặc hỏng hóc phát sinh. Các lỗi này có thể do lỗi
thiết kế, lỗi logic hoặc lỗi coding sản phẩm. Ngoài ra, các lỗi cũng có thể do quá trình
xử lý dữ liệu, hoặc hoạt động của hệ thống.
Bởi vậy cần có một khái niệm bao quát hơn: Hiệu quả kinh doanh là một phạm
trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ
khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh
doanh. Nó là thước đo ngày càng quan trọng để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế
của doanh nghiệp.
Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau song có thể khẳng định trong cơ chế thị
trường ở nước ta hiện nay mọi doanh nghiệp kinh doanh đều có mục đích là tối đa hóa
lợi nhuận. Nếu duy trì được lợi thế kinh doanh thì sẽ mang laị nhiều lợi nhuận hơn cho
doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp phải xác định chiến lược kinh
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 14
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
doanh trong mọi giai đoạn phát triển phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh
doanh; phải phân bổ và quản trị có hiệu quả các nguồn lực và luôn kiểm tra quá trình
đang diễn ra là có hiệu quả? Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh phải đánh giá được hiệu quả kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp cũng như ở
từng bộ phận .
Có thể nói rằng dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh
doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp song lại
khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh.
Theo nhà kinh tế học ManfredKulin thì “hiệu quả sản xuất kinh doanh là một
phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ lợi dụng và cung cấp các nguồn lực như thiết bị
máy móc nhằm đạt mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra”.
Lại có quan điểm cho rằng: “ Hiệu quả sản xuất diễn ra trong xã hội không thể
tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa
khác. Một nền kinh tế có hiệu quả là nằm trên giới hạn của khả năng sản xuất của nó”.
Thực chất quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực
của nền sản xuất xã hội.
Xét trên góc độ lý thuyết, hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên đường
giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đạt được mức hiệu quả kinh
doanh này sẽ cần rất nhiều điều kiện, trong đó đòi hỏi phải dự báo và quyết định đầu tư
Nâng cao hiệu quả kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng, nó được thể hiện
thông qua :
Thứ nhất: Là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị
trường mà hiệu quả kinh doanh lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời
mục tiêu của doanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do vậy việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 16
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do nhu cầu của sự tồn tại và phát
triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp không ngừng tăng
lên nhưng trong điều kiện vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của quá
trình sản xuất chỉ thay dổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các
doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy hiệu quả kinh doanh là điều
kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo ra hàng
hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội đồng thời tạo ra sự
tích lũy cho xã hội . Để thực hiện được như vậy thì mỗi doanh nghiệp đều phải vươn lên
để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình họat động kinh
doanh. Có như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục
trong mọi khâu của quá trình hoạt động kinh doanh như là một yêu cầu tất yếu.
Tuy nhiên sự tồn tại mới chỉ là yêu cầu mang tính chất giản đơn cùng sự phát
triển và mở rộng của doanh nghiệp mới là yêu cầu quan trọng. Bởi sự tồn tại của doanh
nghiệp luôn luôn phải đi kèm với sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải
có sự tích lũy đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển.
Như vậy để phát triển và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúc này không còn là đủ bù
đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích
lũy đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng, phù hợp với qui luật khách quan và một lần
nữa nâng cao hiệu quả kinh doanh được nhấn mạnh.
Thứ hai : Là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh. Chính
máy móc, nguyên vật liệu, lao động một cách không tính toán, không cần suy nghĩ cũng
chẳng sao nếu nguồn tài nguyên là vô tận. Nhưng thực tế mọi nguồn tài nguyên trên trái
đất như đât đai, khoáng sản, hải sản..là một phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm
cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng chúng không đúng cách. Trong khi đó một
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 18
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
mặt dân cư ở từng vùng, từng quốc gia và toàn thế giới ngày càng tăng và tốc độ tăng
dân số cao làm cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, không có giới hạn, nhu cầu tiêu
dùng vật phẩm của con người lại là phạm trù không có giới hạn. Do của cải khan hiếm
lại càng khan hiếm theo nghĩa tuyệt đối lẫn tương đối. Thực ra khan hiếm mới chỉ là
điều kiện cần của sự lựa chọn kinh tế nó buộc con người phải lựa chọn kinh tế. Quay
ngược lại ngày trước tổ tiên ta càng không phải lựa chọn kinh tế vì lúc đó dân cư còn ít
mà của cải trên trái đất lại phong phú đa dạng. Khi đó loài người chỉ chú ý đến phát
triển kinh tế theo chiều rộng. Tăng trưởng kết quả sản xuất theo cơ sở gia tăng các yếu
tố sản xuất, tư liệu lao động đất đai.
Như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các
nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong điều kiện khan
hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể
không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái
gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Dựa trên quan hệ cung cầu, giá cả thị
trường, cạnh tranh và hợp tác. Các doanh nghiệp phải tự đưa ra các quyết định kinh
doanh của mình, tự hạch toán lỗ lãi, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lãi
thì sẽ dẫn đến phá sản. Lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu
quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để
tồn tại và phát triển. Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận
ngày càng cao. Do vậy, đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống
còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
1.3.1.2 Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí
Công thức :
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng chi phí thì
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng
chi phí là tốt, góp phần tăng mức lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.3.2 Chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Đây là các chỉ tiêu phản ánh chính xác tình hình doanh nghiệp
nên thường được dùng so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau.
1.3.2.1 Chỉ tiêu lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ nhất định được tính bằng cách lấy
lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia cho doanh thu trong kỳ. Đơn vị
tính là : %
Công thức:
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một
đồng doanh thu. Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu,
giảm chi phí nhưng để đảm bảo có hiệu quả, tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng
chi phí.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 21
Tổng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = x 100%
Tổng doanh thu
Tổng lợi nhuận trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí = x 100%
Tổng chi phí kinh doanh trong kỳ
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
Chỉ tiêu này còn cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu,
tỷ suất này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh lãi, tỷ suất càng lớn nghĩa là
lãi càng lớn. Tỷ suất mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ.
quý, năm tùy theo đặc điểm kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau và thường
được xác định như sau:
1.3.4 Về mặt xã hội:
Khi phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngoài góc độ kinh tế là chủ
yếu ta còn xét trong mối quan hệ về hiệu quả xã hội, các vấn đề môi trường, xét trong
mối quan hệ thời gian và không gian.
1.3.3.1 Tăng thu ngân sách
Mọi doanh nghiệp khi tiến hành họat động sản xuất kinh doanh thì phải có nhiệm
vụ nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức là các loại thuế như : thuế doanh thu,
thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt…Nhà nước sẽ sử dụng những
khoản thu này để cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và lĩnh vực phi sản xuất,
góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân.
1.3.3.2 Tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động
Nước ta cũng giống như các nước đang phát triển, hầu hết là các nước nghèo tình
trạng kém về kỹ thuật sản xuât và nạn thất nghiệp còn phổ biến. Để tạo ra nhiều công ăn
việc làm cho người lao động và nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo lạc hậu đòi hỏi các
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 23
Lợi nhuận doanh nghiệp = ∑ doanh thu của doanh nghiệp - ∑ chi phí sản xuất kinh doanh
Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD:Nguyễn Thị Thu Hòa
doanh nghiệp phải tự tìm tòi đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuât kinh
doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
1.3.3.3 Nâng cao đời sống người lao động
Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho người lao động đòi hỏi các doanh nghiệp
làm ăn phải có hiệu quả để góp phần nâng cao mức sống của người lao động. Xét trên
phương diện kinh tế việc nâng cao mức sống của người dân được thể hiện qua chỉ tiêu
như gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức tăng trưởng
phúc lợi xã hội…
1.3.3.4 Tái phân phối lợi tức xã hội
Sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế xã hội giữa các vùng, các lãnh thổ
trong một nước yêu cầu phải có sự phân phối lợi tức nhằm giảm sự chênh lệch về mặt
nghiệp trong kinh doanh.
1.4.1.2 Lực lượng lao động
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp là
lực lượng nòng cốt có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử
dụng để tạo ra tiềm năng lớn cho cho doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra những sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp
với cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể bán
được tạo cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lực lượng lao động tác động trực tiếp
đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu …) nên cũng tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hằng - 06VQT1 Trang 25