ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM
HOẠT TÍNH CỦA MANGIFERIN
Phụ lục
I) Mục tiêu đề tài.
II) Nội dung.
1) Nguyên vật liệu.
2) Tổng quan thực vật.
3) Phương pháp nghiên cứu.
a) Quy trình tổng quát.
b) Quy trình chi tiết.
4) Hoạt chất Mangiferin.
a) Đặt tính hoạt chất.
b) Thuộc tính dược học.
c) Cơ chế tác dụng của Mangiferin.
d) Kết quả nghiên cứu thử nghiệm hoạt chất Mangiferin.
III) Kết luận .
IV)Tài liệu tham khảo.
Trang 1
Nghiên cứu chiết xuất và thử nghiệm hoạt tính Mangiferin.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM
HOẠT TÍNH CỦA MANGIFERIN
từ khóa:
I)LỜI MỞ ĐẦU.
Trong những năm gần đây,việc nghiên cứu sản xuất thuốc từ nguyên
liệu thiên nhiên ngày càng được chú trọng, thực tế cho thấy công nghiệp
đông dược mới chính lad tương lai và là xu hướng chung của nghành
dược VN & thế giới chứ không phải công nghiệp hóa dược mà chúng ta
đang theo đuổi bấy lâu nay.
Cây cỏ dùng làm thuốc ở Việt Nam rất nhiều và đa dạng . Trong mỗi cây dùng
làm thuốc có công dụng riêng góp phần làm giàu cho kho tàng dược điển Việt
•Bộ phận dùng : Lá được phơi khô hay sấy. Nhiều công trình nghiên
cứu cho ta thấy ở giai đoạn sau thu hái vài tháng, vào khoảng tháng 10 đến tháng
12, lá xoài chứa hàm lượng Mangiferin cao nhất. Lúc này cũng phù hợp với mùa
thu hoạch lá. Vì để bảo vệ quả, trong mùa thu hoạch quả người ta không
thu hái lá.
•Phân bố: Cây xoài được trồng ở hiều nước nhiệt đới như Việt nam,
Ấn độ,Campuchia, Philippin …Ở Việt Nam, Xoài được phân bố tự nhiên trên
mọi miền đất nước. Cây Xoài là loại cây ăn quả. Quả xoài có giá trị dinh dưỡng
cao, thịt quả có hàm lượng vitamin B, C chiếm từ 2 - 3%,đường chiếm 20%
(là loại đường đơn được hấp thu hoàn toàn), Axitsitric, Caroten (tiền
sinhtố A) 15%.
+ Tổng quan về hóa học: Mangiferin được sử dụng trong y học ở nhiều
nước trên thế giới như chống oxy hoá, khángviêm, kháng virus, tăng cường
miễn dịch, giảm đau. Thực tế cho thấy, Mangiferin có tác động kháng virus
Herpes, chống lão hoá tế bào thần kinh, tế bào gan, suy giảm trí nhớ, ức chế
chuyển glucogen thành gluco, giảm nguy cơ tiểu đường Mangifirine có thể
kiềm chế aldose độ hoạt động men khử bằng cách cản trở tấn cônghay phát
triển của biến chứng bịnh đái đường Thành phần polyphenol cấu thành của
thuốc nhuộm ,có thể góp phần đến việc chống tiêu chảy là đặc tính của cây .
-Tên khoa học hợp chất : 1,3,6,7-tetrahydroxy-2-
[(2S,3R,4R,5S,6R)-3,4,5-trihydroxy-6-(hydroxymethyl)oxan-2-
yl]xanthen-9-one.
-Công thức phân tử: C19H18O11
Công thức cấu tạo:
Trang 3
Nghiên cứu chiết xuất và thử nghiệm hoạt tính Mangiferin.
3) PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a) Quy trình tổng quát:
b)Quy trình chi tiết:
Lên men dịch chiết dùng vsv
2.Bơm nén cao áp.
3. Bộ điều nhiệt.
4. Bình chiết chịu áp.
5. Bình phân tách
6. V1, V2, V3, V4: van
Lá xoài được phơi khô nghiền thành bột ( đ ể tăng diện tích tiếp xúc bột lá
xoài v à CO2 ).
Áp suất: Pc = 73,79 bar
Tiến trình SFE :
+ Hệ thống SFE.
+ Nhiệt đ ộ : 500C – 800C.
+ Áp suất : 150- 350 bar
+ Tốc độ dòng: 45ml/ phút
+ Bước sóng: 350nm.
4) HOẠT CHẤT MANGIRERIN
a) Đặc tính của hoạt chất:
Mangiferin là một chất thuộc nhóm flavonoid, màu vàng nhạt, có
nhân xanthon, được sử dụng nhiều trong nền y học dân tộc của
nhiều nước trên thế giới với tác dụng chống oxy hoá và chống
virus mạnh.
Trang 5
Nghiên cứu chiết xuất và thử nghiệm hoạt tính Mangiferin.
Mangiferin là hoạt chất chiết xuất từ thiên nhiên có công thức
C19H16O11. Nó được chiết xuất từ cây Hedurasum alpinum L và
Hedurasum flavercens họ Cánh Bướm Fabaceae hoặc từ lá Xoài
(Mangiferin indica).
b)Thuộc tính dược học:
Mangiferin có hoạt tính chống virus đặc biệt là các dạng Herpes
loại đơn, Varicella zoster (virus gây bệnh giời leo) và Sitomegalo
virus.
viêm nhiễm virus. Việc sản sinh ra Inteferol góp phần ổn định
các cơ quan giúp chống chọi lại các bệnh có nguồn gốc virus và
khu trú nhanh chóng các ổ nhiễm.
Trong thử nghiệm Invitro cho thấy rằng Mangiferin với nồng
độ 10 và 100 microgam/ml kích thích sự tiết ra gama Inteferol
bởi tế bào máu của người khỏe và nồng độ 50 microgam/ml từ
máu của người bị nhiễm Herpes.
(4)Ảnh hưởng lên sự miễn dịch của dịch thể và tế bào:
Trong thử nghiệm lên chuột nhắt và chuột bạch được miễn dịch
bởi 1 liều tối ưu hồng cầu cừu thì Mangiferin khi được đưa vào
dạ dày 5 lần cách quảng theo liều 10-100-500 mg/kg, sẽ tăng
2,2-5 lần số lượng kháng thể có khả năng miễn dịch trong lá
lách và tăng 3-7 lần số lượng kháng thể có khả năng miễn dịch
trong máu.
Tác dụng của Mangiferin ở liều 10-100 mg/kg (dùng trong) lên
miễn dịch tế bào đuợc đánh giá theo ảnh hưởng lên phản ứng
làm tăng độ mẫn cảm dạng chậm và 'cấy ghép vào cơ thể'. Ở
liều nghiên cứu của chế phẩm không thể hiện ảnh hưởng lên
các chỉ số biểu hiện phản ứng miễn dịch tế bào. Trong thử
nghiệm invitro Mangiferin có tác dụng kích thích lên limpho
độc đối với tế bào, ở nồng độ 1 µg/ml Mangiferin làm tăng khả
năng sản sinh T-killer.
(5)Nghiên cứu chỉ số hoá dược của Mangiferin lên động vật
nhiễm virus:
Đối với viêm não do virus Herpes ở chuột bạch thấy tác dụng
chữa trị của Mangiferin khi tiêm bắp ở dạng vi liều 4-500
Trang 7
Nghiên cứu chiết xuất và thử nghiệm hoạt tính Mangiferin.
mg/kg, hiệu quả rõ rệt nhất của chế phẩm thấy được ở những
vết thương đang trong thời gian đầu chữa trị. Trong những điều
Trang 8
Nghiên cứu chiết xuất và thử nghiệm hoạt tính Mangiferin.
(8). Kết quả nghiên cứu lâm sàng:
- Những cơ quan tiến hành thử nghiệm:
Dược tính của Mangiferin và tác dụng của nó khi dùng cho
bệnh nhân được tiến hành theo qui định của Hội Đồng Dược
Học quốc gia thuộc Bộ Y tế Nga tại các địa điểm:
- Viện huyết học trung ương Nga
- Khoa các bệnh về da của Đại Học Y quốc gia Nga
- Khoa các bệnh về da của Đại Học Y Kiev, Ukraina
- Trung tâm tư vấn và điều trị các bệnh về da cho trẻ em tại
Moscow
- Khoa nhi trường Đại Học Y số 1, TP Moscow
- Phòng huyết học của Viện Ngiên Cứu VONS thuộc viện hàn
lâm khoa học Nga.
- Dạng thuốc:
Mangiferin được điều chế ở 3 dạng:
- Viên nén 0,1g - dùng để uống như một thuốc kháng virus dạng
hấp thụ.
- Mỡ 5% - dùng bôi da ở người lớn
- Mỡ 2% - dùng bôi da cho trẻ em và bôi lên màng nhầy niêm
mạc ở cả ngừơi lớn lẫn trẻ em.
Số liệu nghiên cứu:
Việc thử lâm sàng được tiến hành trên 562 bệnh nhân nhiễm virus ở
da và các vùng niêm mạc nhầy, trong số đó có 224 bệnh nhân lớn
tuổi và 338 bệnh nhi.
Trong 224 bệnh nhân lớn tuổi có thể phân thành các nhóm như sau:
Bệnh nhân từ 17-44 tuổi bị Herpes simplex tái phát với tần số 1-4
lần/tháng ở bộ phận sinh dục hoặc lân cận (vùng hông, háng) hoặc
bệnh nhân bị Giời leo. Về mặt vi sinh vật học và huyết thanh học