Mục lục.
A. Phần mở đầu.
B. Phần nội dung.
Chương 1. khái quát tình hình chung.
1. khái niệm giáo dục.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Vai trò nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục.
2.2 Vai tròcác trường.
2.3 Vai trò gia đình và xã hội.
2.4 Vai trò sinh viên.
3. Những khó khăn.
3.1 Quản lý giáo dục.
3.2 Phương pháp dạy học.
3.3 Đội ngũ giảng viên.
3.4 Sinh viên.
3.5 Trương trình học.
Chương 2. Thực trạng.
1. Thành tựu chung.
1.1 Đầu tư cho giáo dục.
1.2 Du học.
2. Nguyên nhân.
2.1 Cơ sở vật chất.
2.2 Quản lý.
2.3 Phương pháp đào tạo.
2.4 Đội ngũ giảng viên.
2.5 Sinh viên.
2.6 Chương trình học.
2.7 Nguyên nhân khác.
Chương 3. Gỉai pháp kiến nghị.
1.1 Cơ quan quản lý.
1.2 Phương pháp dạy.
củi giữa dòng nước xoáy”. Nếu như trước đó hàng trăm nghìn thí sinh ngày đêm
dùi mài kinh sử với hy vọng được bước vào giảng đường đại học thì ngay sau
đó lại cảm thấy chán trường với cảnh học đại học hiện nay. Có rất nhiều sinh
viên bỏ bê công việc chính là học tập mà cảm thấy hứng thú với các trò chơi
game trên mạng. có những người đủ tỉnh táo thì lại boăn khoăn với câu hỏi: học
xong ra trường mình sẽ làm gì? Câu hỏi đó không chỉ là nỗi lo lắng của các sinh
viên mà còn là lý do để em chọn làm đề tài này. Với mong muốn tất cả chúng
ta(dù là sinh viên hay giảng viên,cơ quan QLGD…)cùng bắt tay tháo gỡ những
thắc mắc đó đưa GD vào thực tế nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất.
Hiện nay đang có một cuộc đối mặt giữa thế hệ GD cũ với thế hệ mới. Có
một sự chứng minh âm thầm rằng, trong giai đoạn cũ, nền GD của chúng ta tốt
hơn, và những quan chức nhà nước cũ ở lứa tuổi cao, vì không thỏa mãn với
phong cách chính trị trong đời sống GD bây giờ, nên kéo nhau ra mở trường
tư.Tất cả những chuyện đó cũng mới chỉ giải quyết một cách tạm bợ những vấn
đề của GD Việt Nam.Lối thoát để giải quyết vấn đề GD Việt Nam, là phải học
những kinh nghiệm mở cửa về kinh tế như cách đây 20 năm. Phải có thái độ của
những người như Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thể hiện
với đầu tư nước ngoài trong giai đoạn trước thì đất nước mới đổi mới được.
Vấn đề cần quan tâm với hệ thống GD nước ta hiện nay là rất cấp thiết,
không chỉ xét từng bộ phận mà còn phải xét một cách tổng thể. Do đó ở đây em
chỉ dừng lại tìm hiểu thực trạng GD đại học hiện nay ở nước ta. Dựa trên cơ sở
là các phương pháp luận như tổng hợp,đánh giá,luận chứng và một số phương
pháp khác; trong đó có sử dụng phương pháp luận triết học duy vật biện chứng
để đánh giá. Nội dung bài viết này chia làm ba chương : chương 1,chương 2,
chương 3.
Trước hết em xin chân thành cảm ơn thầy (cô) đã giúp đỡ em hoàn thành
đề tài này.
B phần nội dung.
Chương 1. khái quát tình hình chung.
1. Khái niệm giáo dục.
đại học tại Việt Nam, trong đó một trong những mục tiêu quan trọng của việc đổi
mới giáo dục đại học tại Việt Nam là tăng cường “khả năng cung ứng” của các
cơ sở giáo dục, mở rộng tối đa cơ hội tiếp cận cho người học. Để đạt mục tiêu
này, trong vòng gần hai thập niên kể từ khi giáo dục đại học Việt Nam bắt đầu
đổi mới, rất nhiều biện pháp đã được thực hiện để đạt được mục tiêu nói trên,
mà kết quả là số lượng người học cũng như các cơ sở giáo dục đại học của Việt
Nam đã tăng lên một cách đột biến.
Nhìn chung hệ thống GD nước ta phát khá hoàn thiện với đủ các loại
hình:trường công lập, bán công, nội trú, các học viện, trung tâm giáo dục kết hợp
vừa học vừa làm. Các hình thức đào tạo cũng phong phú từ chính quy, cao học,
tại chức, liên thông, đào tạo từ xa, du học. mỗi năm có hàng chục trường được
xây dựng và nâng cấp thu hút hàng trăm nghìn SV theo học.
2.1 vai trò của nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục .
Trước hết phải nói đến vai trò của nhà nước Trong những năm qua, để thúc
đẩy giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà nước đã thực
hiện xã hội hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục
và đào tạo. Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15%
năm 2000 lên 18% năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm
của ngành như đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục
miền núi. hàng loạt các chính sách được ban hành. Cụ thể là, Triển khai nghiêm
túc trong toàn hệ thống Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướng
Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ về đổi mới quản lý giáo dục đại
học giai đoạn 2010-2012. Đến hết ngày 15/8/2010 đã có 311 trường đại học, cao
đẳng báo cáo tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị 296 (đạt tỷ lệ 76,4%), trong
đó, có 300 trường (đạt tỷ lệ 96,5% ) thành lập Ban chỉ đạo đổi mới công tác quản
lý giai đoạn 2010-2012; có 183 trường (đạt tỷ lệ 58,8%) xây dựng và công bố
chuẩn đầu ra ngành đào tạo; có 218 trường (đạt tỷ lệ 70,1%) tổ chức xây dựng,
rà soát, bổ sung các chỉ số trong chiến lược phát triến trường giai đoạn 2011-
2015, định hướng đến 2020. Đặc biệt là các chính sách ưu đãi cho SV. Đối với
SV có hoàn cảnh khó khăn thì có biện pháp hỗ trợ về vốn (vay vốn, miễn giảm
các bạn SV học tập. có rất nhiều SV đã đoạt giải cao trong các kỳ thi olimpic
quốc tế,chúng ta đã có bốn thí sinh xuất sắc đều đoạt giải Olimpic toán cũng như
các cuộc thi Robocon vừa qua Việt Nam đạt giải nhì(năm 2010)…
3. Những khó khăn.
Trên đây là những thánh tựu rất đáng tự hào củ chúng ta. Vì vậy để nâng
cao vị thế GD Việt Nam trên trường quốc tế và nâng cao chất lượng đào tạo, đòi
hỏi chúng ta không chỉ xem xét khía cạnh đã làm được mà còn phải dũng cảm
đối diện với những gì chưa làm được vì đó là vấn đề quan tâm của toàn xã hội
hiện nay. Nếu như một vài năm gần đây, cả nước bừng tỉnh với con số hàng
trăm nghìn thí sinh trượt đai học mỗi năm và phát hiện nguyên nhân chính là kết
quả của căn bệnh thành tích thì từ đó đến nay chúng ta lai quá quen thuộc với
nó. Hàng ngày chúng ta đã quá quen thuộc khi đề cập đến các căn bệnh trong
GD như“bệnh thành tích”, “bệnh đối phó”, “bệnh đấu đá”, “bệnh thiếu trung thực”
đang tràn lan khắp nơi, ở mọi người kể cả thầy lẫn trò mà hiện tượng quay cóp
đang hoành hành, trở thành quốc nạn. Đảng và nhà nước ta đã có chủ trương
rất đúng đắn: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và cũng đã có những biện pháp
cụ thể cải cách giáo dục. Tại sao ngành giáo dục vẫn loay hoay lúng túng, chưa
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục? Tại sao khi ta cởi
trói cho nông dân và cho các nhà doanh nghiệp, thì nông nghiệp và doanh
nghiệp phát triển? Tại sao chúng ta không cởi trói cho giáo dục để giáo dục phát
triển? nếu như một thầy thuốc thì cần chẩn đoán đúng bệnh và cho đúng thuốc,
thuốc đắng giã tật, bệnh nặng đến đâu cũng chữa được. Phải thẳng thắn nhìn
vào sự thật những căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam nói trên. Và phải
biết trị tận căn, mới mong chất lượng giáo dục của Việt Nam được cải thiện.
3.1 Trong quản lý giáo dục.
Thời đại hiện nay, thế kỷ XXI, khoa học quản trị, nhất là quản trị chất lượng
trở nên rất hệ trọng cho sự phát triển. Sau một thời gian đổi mới, tư tưởng bao
cấp, duy ý chí, quản trị theo cảm tính vẫn còn tàn dư, khoa học quản trị chất
lượng chưa thật sự đi vào nền nếp đời sống quản trị giáo dục từ cấp Bộ xuống
đến cấp cơ sở giáo dục. Nếp sống văn hóa chất lượng chưa được hình thành.
các thư viện chưa bố trí những phòng học nhóm, chưa có trường nào bố trí rất
nhiều bàn ghế để cho bất cứ sinh viên lúc chưa đến giờ học hay giờ trống đến
ngồi gặp gỡ nhau. Các giảng viên cũng không bắt buộc những bài tập làm theo
nhóm, chấm điểm theo nhóm.
3.3 Đội ngũ giảng viên.
Nếu học vị tiến sĩ là điều kiện chuẩn có khả năng dạy đại học thì hiện nay số
lượng giảng viên có học vị này còn quá thấp so với khu vực ASEAN cũng như
các nước phát triển trên thế giới. Dĩ nhiên cũng có các trường hợp ngoại lệ chỉ
có bằng cử nhân nhưng vẫn là người giảng viên đại học giỏi, đầu ngành, được
phong hàm giáo sư hay phó giáo sư. Đối với các nước trên thế giới, người có