Thực trạng GD đại học hiện nay ở nước ta - Pdf 27

Mục lục.
A. Phần mở đầu.
B. Phần nội dung.
Chương 1. khái quát tình hình chung.
1. khái niệm giáo dục.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Vai trò nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục.
2.2 Vai tròcác trường.
2.3 Vai trò gia đình và xã hội.
2.4 Vai trò sinh viên.
3. Những khó khăn.
3.1 Quản lý giáo dục.
3.2 Phương pháp dạy học.
3.3 Đội ngũ giảng viên.
3.4 Sinh viên.
3.5 Trương trình học.
Chương 2. Thực trạng.
1. Thành tựu chung.
1.1 Đầu tư cho giáo dục.
1.2 Du học.
2. Nguyên nhân.
2.1 Cơ sở vật chất.
2.2 Quản lý.
2.3 Phương pháp đào tạo.
2.4 Đội ngũ giảng viên.
2
2.5 Sinh viên.
2.6 Chương trình học.
2.7 Nguyên nhân khác.
Chương 3. Gỉai pháp kiến nghị.
1.1 Cơ quan quản lý.

nhìn thấy nhiều hơn những bất cập, tồn tại làm ảnh hưởng xấu tới GD nước ta hiện
nay. Nếu không nói là rơi vào tình trạng bế tắc thì cũng giống như ”cành củi giữa dòng
nước xoáy”. Nếu như trước đó hàng trăm nghìn thí sinh ngày đêm dùi mài kinh sử với
hy vọng được bước vào giảng đường đại học thì ngay sau đó lại cảm thấy chán
trường với cảnh học đại học hiện nay. Có rất nhiều sinh viên bỏ bê công việc chính là
học tập mà cảm thấy hứng thú với các trò chơi game trên mạng. có những người đủ
tỉnh táo thì lại boăn khoăn với câu hỏi: học xong ra trường mình sẽ làm gì? Câu hỏi đó
không chỉ là nỗi lo lắng của các sinh viên mà còn là lý do để em chọn làm đề tài này.
Với mong muốn tất cả chúng ta(dù là sinh viên hay giảng viên,cơ quan QLGD…)cùng
bắt tay tháo gỡ những thắc mắc đó đưa GD vào thực tế nhằm đem lại hiệu quả tốt
nhất.
Hiện nay đang có một cuộc đối mặt giữa thế hệ GD cũ với thế hệ mới. Có một sự
chứng minh âm thầm rằng, trong giai đoạn cũ, nền GD của chúng ta tốt hơn, và
những quan chức nhà nước cũ ở lứa tuổi cao, vì không thỏa mãn với phong cách
chính trị trong đời sống GD bây giờ, nên kéo nhau ra mở trường tư.Tất cả những
4
chuyện đó cũng mới chỉ giải quyết một cách tạm bợ những vấn đề của GD Việt
Nam.Lối thoát để giải quyết vấn đề GD Việt Nam, là phải học những kinh nghiệm mở
cửa về kinh tế như cách đây 20 năm. Phải có thái độ của những người như Tổng bí
thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thể hiện với đầu tư nước ngoài trong giai
đoạn trước thì đất nước mới đổi mới được.
Vấn đề cần quan tâm với hệ thống GD nước ta hiện nay là rất cấp thiết, không chỉ
xét từng bộ phận mà còn phải xét một cách tổng thể. Do đó ở đây em chỉ dừng lại tìm
hiểu thực trạng GD đại học hiện nay ở nước ta. Dựa trên cơ sở là các phương pháp
luận như tổng hợp,đánh giá,luận chứng và một số phương pháp khác; trong đó có sử
dụng phương pháp luận triết học duy vật biện chứng để đánh giá. Nội dung bài viết
này chia làm ba chương : chương 1,chương 2, chương 3.
Trước hết em xin chân thành cảm ơn thầy (cô) đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài
này.
5

dục đại học Việt Nam đã quan niệm quản lý chất lượng giáo dục đồng nghĩa với việc
kiểm soát đầu vào thông qua các kỳ thi tuyển mang tính cạnh tranh cao độ. Năm 1986
đánh dấu sự bắt đầu của công cuộc đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam, trong đó
một trong những mục tiêu quan trọng của việc đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam
là tăng cường “khả năng cung ứng” của các cơ sở giáo dục, mở rộng tối đa cơ hội
tiếp cận cho người học. Để đạt mục tiêu này, trong vòng gần hai thập niên kể từ khi
giáo dục đại học Việt Nam bắt đầu đổi mới, rất nhiều biện pháp đã được thực hiện để
đạt được mục tiêu nói trên, mà kết quả là số lượng người học cũng như các cơ sở
giáo dục đại học của Việt Nam đã tăng lên một cách đột biến.
Nhìn chung hệ thống GD nước ta phát khá hoàn thiện với đủ các loại hình:trường
công lập, bán công, nội trú, các học viện, trung tâm giáo dục kết hợp vừa học vừa
làm. Các hình thức đào tạo cũng phong phú từ chính quy, cao học, tại chức, liên
thông, đào tạo từ xa, du học. mỗi năm có hàng chục trường được xây dựng và nâng
cấp thu hút hàng trăm nghìn SV theo học.
2.1 vai trò của nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục .
Trước hết phải nói đến vai trò của nhà nước Trong những năm qua, để thúc đẩy
giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà nước đã thực hiện xã hội
hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo. Ngân
sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15% năm 2000 lên 18%
năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành như đổi mới
chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục miền núi. hàng loạt các chính
sách được ban hành. Cụ thể là, Triển khai nghiêm túc trong toàn hệ thống Chỉ thị số
7
296/CT-TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động
của Bộ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012. Đến hết ngày
15/8/2010 đã có 311 trường đại học, cao đẳng báo cáo tình hình triển khai thực hiện
Chỉ thị 296 (đạt tỷ lệ 76,4%), trong đó, có 300 trường (đạt tỷ lệ 96,5% ) thành lập Ban
chỉ đạo đổi mới công tác quản lý giai đoạn 2010-2012; có 183 trường (đạt tỷ lệ 58,8%)
xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo; có 218 trường (đạt tỷ lệ 70,1%) tổ
chức xây dựng, rà soát, bổ sung các chỉ số trong chiến lược phát triến trường giai

Bảo Châu đã đạt được giải thưởng toán học quốc tế Fields như một hiện tượng làm
vinh quang không chỉ cho đất nước mà còn lá tấm gương cho các bạn SV học tập. có
rất nhiều SV đã đoạt giải cao trong các kỳ thi olimpic quốc tế,chúng ta đã có bốn thí
sinh xuất sắc đều đoạt giải Olimpic toán cũng như các cuộc thi Robocon vừa qua Việt
Nam đạt giải nhì(năm 2010)…
3. Những khó khăn.
Trên đây là những thánh tựu rất đáng tự hào củ chúng ta. Vì vậy để nâng cao vị
thế GD Việt Nam trên trường quốc tế và nâng cao chất lượng đào tạo, đòi hỏi chúng
ta không chỉ xem xét khía cạnh đã làm được mà còn phải dũng cảm đối diện với
những gì chưa làm được vì đó là vấn đề quan tâm của toàn xã hội hiện nay. Nếu như
một vài năm gần đây, cả nước bừng tỉnh với con số hàng trăm nghìn thí sinh trượt đai
học mỗi năm và phát hiện nguyên nhân chính là kết quả của căn bệnh thành tích thì
từ đó đến nay chúng ta lai quá quen thuộc với nó. Hàng ngày chúng ta đã quá quen
thuộc khi đề cập đến các căn bệnh trong GD như“bệnh thành tích”, “bệnh đối phó”,
“bệnh đấu đá”, “bệnh thiếu trung thực” đang tràn lan khắp nơi, ở mọi người kể cả thầy
lẫn trò mà hiện tượng quay cóp đang hoành hành, trở thành quốc nạn. Đảng và nhà
nước ta đã có chủ trương rất đúng đắn: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và cũng đã
có những biện pháp cụ thể cải cách giáo dục. Tại sao ngành giáo dục vẫn loay hoay
lúng túng, chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục? Tại sao
khi ta cởi trói cho nông dân và cho các nhà doanh nghiệp, thì nông nghiệp và doanh
nghiệp phát triển? Tại sao chúng ta không cởi trói cho giáo dục để giáo dục phát
9
triển? nếu như một thầy thuốc thì cần chẩn đoán đúng bệnh và cho đúng thuốc, thuốc
đắng giã tật, bệnh nặng đến đâu cũng chữa được. Phải thẳng thắn nhìn vào sự thật
những căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam nói trên. Và phải biết trị tận căn, mới
mong chất lượng giáo dục của Việt Nam được cải thiện.
3.1 Trong quản lý giáo dục.
Thời đại hiện nay, thế kỷ XXI, khoa học quản trị, nhất là quản trị chất lượng trở
nên rất hệ trọng cho sự phát triển. Sau một thời gian đổi mới, tư tưởng bao cấp, duy ý
chí, quản trị theo cảm tính vẫn còn tàn dư, khoa học quản trị chất lượng chưa thật sự

dưỡng tượng trưng từng giờ hay từng buổi phụ việc).
Các trường đại học ở Việt Nam chưa quan tâm đến phương pháp học nhóm, các
thư viện chưa bố trí những phòng học nhóm, chưa có trường nào bố trí rất nhiều bàn
ghế để cho bất cứ sinh viên lúc chưa đến giờ học hay giờ trống đến ngồi gặp gỡ
nhau. Các giảng viên cũng không bắt buộc những bài tập làm theo nhóm, chấm điểm
theo nhóm.
3.3 Đội ngũ giảng viên.
Nếu học vị tiến sĩ là điều kiện chuẩn có khả năng dạy đại học thì hiện nay số
lượng giảng viên có học vị này còn quá thấp so với khu vực ASEAN cũng như các
nước phát triển trên thế giới. Dĩ nhiên cũng có các trường hợp ngoại lệ chỉ có bằng cử
nhân nhưng vẫn là người giảng viên đại học giỏi, đầu ngành, được phong hàm giáo
sư hay phó giáo sư. Đối với các nước trên thế giới, người có học vị cử nhân chỉ có thể
làm trợ giảng mà không được phép dạy lý thuyết. Điều này ta chưa làm được, rõ ràng
đã phản ánh chất lượng yếu kém của đội ngũ giảng viên đại học ở Việt Nam.
Đội ngũ giảng viên đại học tại Việt Nam còn rất yếu kém về nghiên cứu sáng tạo,
hiện chỉ mang tính đối phó, mang tính phong trào, làm lấy lệ, rất ít người say mê
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status