Thực trạng vấn đề CPH các DNNN ở nớc ta hiện nay.
1. Tình hình tiến triển.
CPH-DNNN đợc bắt đầu từ những năm 90, đã trải qua các thời kỳ thí điểm đến
thực hiện một cách bình thờng đối với các DNNN nằm trong danh mục cần tién hành
CPH và đa dạng hoá các hình thức sở hữu, mô hình tổ chức quản lý.
1.1 Thời kỳ thí điểm.
Thời kỳ này, thực hiện quyết định số 202/CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trởng
(nay là Thủ tớng Chính phủ), các bộ, các ngàng đã hớng dẫn DNNN đăng ký thực
hiện thí điểm chuyển sang Công ty cổ phần. Trên cơ sở số lợng DNNN đã đăng ký,
chủ tịch Hội đồng bộ trởng đã ra quyết định số 203/CT ngày 8-6-1992 chọn 7
DNNN do Chính phủ chỉ đạo thí điểm chuyển thành Công ty cổ phần:
- Nhà máy xà bông (Thuộc liên hiệp Công ty bột giặt miền Nam, Tổng Công hoá chất
II, Bộ công nghiệp nặng).
- Nhà máy diêm Thống Nhất (thuộc liên hiệp sản xuất xuất nhập khẩu giấy gỗ
diêm, Bộ công nghiệp nhẹ).
- Xí nghiệp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc (thuộc Công ty chăn nuôi và thức ăn
gia súc I, Bộ Nông nghiệp và công nghệ thực phẩm).
- Xí nghiệp chế biến gỗ Long Bình (thuộc Tổng Công ty dịch vụ, sản xuất và xuất
nhập khẩu lâm sản 3, Bộ lâm nghiệp).
- Công ty vật t tổng hợp Hải Hng (thuộc Tổng Công ty kinh doanh và chế biến lơng
thực Hà Nội, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội).
- Xí nghiệp may mặc (thuộc Công ty dệt da may Legamex, UBND TP. Hồ Chí
Minh).
Tuy nhiên sau thời gian làm thử, 7 doanh nghiệp Nhà nớc Chính phủ chọn
thí điểm đều xin rút lui hoặc không đủ điều kiện để tiến hành CPH nh Nhà máy xà
bông miền Nam, Xí nghiệp may mặc (thuộc Công ty dệt da may Legamex)
Trong số hơn 30 DNNN đăng ký với Bộ Tài chính để thực hiện CPH thì sau
hơn bốn năm thực hiện Quyết định số 202/CT có năm DNNN chuyển thành Công
ty cổ phần là:
- Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (Bộ giao thông vận tải).
- Công ty cổ phần cơ điện lạnh (TP. Hồ Chí Minh)
phần, 17 công ty còn lại nhà nớc nắm giữ cổ phần ít nhất là 18%, cao nhất là 51%, cổ
phần còn lại do cổ đông ngoài xã hội chiếm giữ.
So với yêu cầu cải cách doanh DNNN và số lợng doanh nghiệp nhà nớc trong
diện CPH thì kết quả đạt đợc trong các năm 1992 1998 là quá ít, tốc độ cổ phần hoá
rât chậm.
Từ năm 1998 đến nay là giai đoạn thực hiện bình thờng và phổ biến đối với tất
cả các DNNN tthuộc danh sách cần phải CPH. CPH DNNN có chuyển biến rõ rệt và
đáng khích lệ từ khi có nghị định số 44/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ về
việc chuyển DNNN thành Công ty cổ phần. Riêng 6 tháng cuối năm 1998 đã cổ phần
hoá đợc 90 DNNN. Năm 1999 cổ CPH đợc 250 DNNN, gấp 7 lần so với 6 năm trớc đó
(1992 1997) cộng lại. Đến đầu năm 2000 cả nớc đã CPH đợc 370 DNNN, và đến
cuối năm 2000 cả nớc đã có 523 DNNN chuyển thành Côn ty cổ phần chiếm 8,5%
tổng số DNNN hiện có. Tính đến tháng 9/2001 thì cả nớc đã có khoảng 700 DNNN đ-
ợc CPH. Con số này quả là đáng khích lệ. Tốc độ thực hiện CPH một bộ phận DNNN
ở nớc ta gần đây đang gia tăng. nhng so với kế hoạch đợc duyệt từ 150 200 doanh
nghiệp đợc CPH trong năm 1998; 400 500 doanh nghiệp trong năm 1999 là 1000
doanh nghiệp cho năm 2000 thì tốc độ CPH hiện nay vẫn còn quá chậm.
2. Kết quả thực hiện
Bên cạnh những chuyển biến về mặt số lợng nh trên, bớc đầu quá trình CPH
DNNN đã tạo ra một số kết quả tích cực sau:
2.1 Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đã kế thừa đợc nhiều nội dung tốt nếu trong các
quy định của nghị định 28/CP, đồng thời bổ sung sửa đổi và phát triển đợc nhiều điểm
mới để đáp ứng yêu cầu CPH. Đặc biệt nghị định 44/1998/NĐ-CP đã quy định cụ thể
các chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp và ngời lao động trong doanh
nghiệp CPH thể hiện ở nhiều cơ chế u đãi đồng thời có phân cấp cụ thể đối với các cấp
trong quá trình triển khai thực hiện CPH, do đó tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và
các cấp quản lý triển khai thực hiện quy trình kế hoạch CPH.
2.2 Công tác hớng dẫn phổ biến, tuyên truyền các chủ trơng, chính sách của Đảng
và Nhà nớc về CPH đã đợc chú trọng triển khai tích cực hơn. Thông qua các lớp tập
huấn cho cán bộ, các văn bản hớng dẫn thì các chủ trơng chính sách và chính sách và
công ty cơ điện lạnh đạt 353 tỷ đồng so với 78 tỷ đồng, công ty cổ phần đại lý liên
hiệp vận chuyển đạt 163 tỷ đồng so với 16 tỷ đồng.
Số lao động không bị giảm mà còn tăng bình quân 10%, có công ty tăng trên
20%. Ví dụ công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An từ 900 ngời lên 1280
ngời, công ty cổ phần cơ điện lạnh từ 334 ngời tăng lên 739 ngời, công ty cổ phần đại
lý liên hợp vận chuyển từ 85 ngời tăng lên 350 ngời.
Thu nhập của ngời lao động tăng bình quân 20%(cha kể thu nhập cổ tức), điển
hình là công ty liên hiệp vận chuyển, trớc khi CPH thu nhập là 1.1 triệu đồng/ng-
ời/tháng, nay đạt 4.4 triệu đồng/ngời/tháng. công ty cổ phần chế biến thức ăn gia súc
từ 524 ngàn đồng tăng lên 1.3 triệu đồng.
Lợi nhuận trớc thuế hàng năm tăng lên 26%, có công ty đạt tổng lợi nhuận gấp
hai ba lần so với trớc khi CPH. Ví dụ: Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển lãi
từ 4.1 tăng lên 37 tỷ đồng, công ty cổ phần cơ điện lạnh lãi từ 8.8 tỷ đồng tăng lên 34
tỷ đồng.
Nộp ngân sách hàng năm tăng bình quân trên30%, một số công ty đạt gấp đôi
so với trớc khi CPH. Chẳng hạn năm 1998, công ty CP Cơ điện lạnh nộp ngân sách 68
tỷ đồng so với 3,7 tỷ đồng trớc khi CPH; Công ty CP đại lý Liên hiệp vận chuyển nộp ngân
sách 40 tỷ đồng so với 5,1 tỷ đồng trớc khi CPH.
Vốn điều lệ tăng bình quân trên 25%/năm, có một số tăng lên 2 lần.
Lãi cổ tức đạt cao hơn lãi tiết kiệm bình quân đatẹ 12% /tháng, Công t CP sửa chữa
và đóng tàu thuyền Bình Định đạt 20% trong năm 98, các Côngty CP sơn Bạch Tuyết ,
chế biến thức ăn gia súc, chế biến hàng xuất khẩu Long An đều đạt cổ tức 2% /tháng.
3. Tình hình CPH- DNNN ở một số địa phơng.
3.1. CPH-DNNN ở thành phố Hà Nội.
Hà Nội là một trong số các địa phơng có nhiều DNNN đợc CPH. Trong số 880
DNNN trên địa bàn Hà Nội có 320 DN do địa phơng quản lý. Qua khảo sát cho thấy,
phần lớn số doanh nghiệp Nhà nớc do địa phơng quản lý có quy mô nhỏ bé, trong đó
87 DN quy mô vốn chỉ dới 1 tỷ đồng(chiếm 26,5%). Xét về hiệu quả trong số 320 DN
có 219 DN làm ăn có lãi, gần 1/3 kinh doanh chỉ hoà hoặc lỗ vốn, trong đó 33 DN thua
lỗ kéo dài. Do vậy CPH - DNNN ở Hà Nội là một vấn đề cấp thiết. Trong thời gian 5
DNNN đợc CPH cũng chỉ dừng lại ở con số 17.
Trong năm 2000, Hải Phòng tiến hành chuyển đổi hình thức sở hữu cho khoảng
80 DNNN và áp dụng một số biện pháp mạnh mẽ để đẩy nhanh quá trình CPH-
DNNN, tập trung vào các DN làm ăn có hiệu quả.
3.4. CPH - DNNN ở TP Đà Nẵng.
So với các thành phố lớn khác trong cả nớc, tiến độ CPH-DNNN ở Đà Nẵng
trong các năm qua diễn ra một cách chậm chạp. Đến nay, sau 3 năm kể từ ngày chia
cách địa giới hành chính, toàn thành phố đã chuyển đợc 4 DNNN sang công ty CP là: