THỰC TRẠNG CPH CÁC DNNN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
I. THỰC TRẠNG DNNN TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH CPH..
1.Đánh giá tình hình DNNN trước khi CPH.
Các DNNN ở Việt Nam được hình thành từ năm 1954 ở miền Bắc và năm
1975 ở miền Nam. Do hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau và được xây
dựng trên cơ sở của nhiều quan điểm nên các DNNN ở Việt Nam còn tồn tại
nhiều mặt yếu kém . Biểu hiện:
- Quy mô DN phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán, biểu hiện ở số lượng lao
động và mức độ tích luỹ vốn. Theo báo cáo của Bộ Tài chính về các chỉ tiêu chủ
yếu năm 1992 thì cả nước có trên 2/3 tổng số DNNN có số lượng lao động
dưới 200 người, chỉ có 4% so với DN có số lao động trên 100 người. Số lao
động trong khu vực DNNN chiếm một tỷ trọng khá nhỏ trong tổng số lao động
xã hội – khoảng 5 đến 6%.
- Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu. Trừ một số rất ít ( 18% ) số
DNNN được đầu tư mới đây ( sau 1986 ), phần lớn các DNNN được thành lập
khá lâu, có trình độ kỹ thuật thấp. Theo báo cáo điều tra của Bộ Khoa học –
Công nghệ và môi trường thì trình độ công nghệ trong các DNNN của Việt Nam
kém các nước từ 3 đến 4 thế hệ. Các DN còn sử dụng trang bị kỹ thuật từ 1939
và trước đó. Mặt khác, đại bộ phận DNNN được xây dựng bằng kỹ thuật của
nhiều nước khác nhau nên tính đồng bộ của các doanh nghiệp thấp. Vì vậy khi
chuyển sang kinh tế thị trường, các DNNN khó có khả năng cạnh tranh cả
trong nước và quốc tế.
- Việc phân bố còn bất hợp lý về ngành và vùng.
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, các DNNN không còn được bao cấp
mọi mặt như trước nữa. Đã thế lại bị các thành phần kinh tế khác cạnh tranh
quyết liệt nên nhiều DNNN không trụ nổi, buộc phải phá sản, giải thể, đặc biệt
trong những năm gần đây chúng ta đã tiến hành cải cách DNNN. Chuyển đổi
cơ chế đã làm cho DNNN năng động hơn, hiệu quả hơn. Số lượng DNNN trước
1989 là 12.084 đến ngày 1/4/1994 còn 6.264 DNNN nhưng tỷ trọng GDP của
khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân lại tăng lên, từ 37,6%
năm 1986 tăng lên 43,3% năm 1995, năm 2000 khoảng 39%; đồng thời mức
mức lương tối thiểu ).
2. Nguyên nhân của thực trạng.
Do sự ảnh hưởng nặng nề của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ
trong điều kiện chiến tranh kéo dài, của tư tưởng không đúng của mô hình
CNXH trước đây. Trong tư duy cũng như trong thực tiễn xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của CNXH trước đây, người ta thường xem nhẹ các quy luật kinh
tế khách quan của thị trường, coi kinh tế thị trường là riêng có của CNTB. Từ
đó dẫn đến hậu quả là việc hạch toán kinh tế ở các DN mang tính hình thức,
các DN thực chất chỉ là người sản xuất, “gia công” cho Nhà nước chứ không
phải là một cơ sở kinh doanh, không có quyền tự chủ kinh doanh. Trong điều
kiện như vậy rõ ràng DNNN rất xa lạ với mô hình DN theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước.
Do sự yếu kém của nền kinh tế, chủ yếu là LLSX. Sự yếu kém của LLSX ở
nước ta hiện nay biểu hiện rõ nhất là sự thấp kém lạc hậu của kết cấu hạ tầng
của toàn bộ nền kinh tế cũng như của mỗi DN. Đây là lực cản hàng đầu đối với
sự cất cánh mỗi DN cũng như của cả nền kinh tế. Trình độ kết cấu hạ tầng và
dịch vụ của nước ta chỉ ở dưới mức trung bình so với các nước đang phát
triển. Sự yếu kém của nến kinh tế còn thể hiện ở chỗ chưa có tích luỹ nội bộ,
chưa có khả năng chi trả số nợ đến hạn và quá hạn. Khả năng vay vốn nước
ngoài cũng không phải là thuận lợi bởi lẽ ta còn nợ lớn, khó có khả năng trả
trong thời gian nhất định. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh của các DN còn quá
thấp, lãi suất kinh doanh còn quá cao trong khi khả năng cạnh tranh của sản
phẩm và kinh nghiệm kinh doanh của DN Việt Nam trên thị trường thế giới
còn yếu kém.
Trình độ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nói chung, đối với DN nói
riêng nhìn chung còn nhiều yếu kém. Hệ thống pháp luật , chính sách quản lý
chưa hoàn chỉnh, phần lớn vẫn là các văn bản pháp quy dưới luật, có nhiều quy
định mâu thuẫn nhau. Chưa tổ chức kịp thời hệ thống toà án kinh tế nhằm
đảm bảo nghiêm chỉnh pháp luật kinh tế . Trong hoạt động quản lý Nhà nước,
tệ cửa quyền, thủ tục quản lý hành chính quá phiền hà đối với DN và công dân
một bộ phận cán bộ quản lý,đặc biệt là giám đốc trong các DNNN không thạo
kinh doanh , không có đủ kiến thức và kinh nghiệm cần thiết về quản lý nền
kinh tế thị trường, thiếu năng động và không dám mạo hiểm trong kinh doanh.
Bởi vì họ chưa bao giờ được đào tạo một cách có hệ thống . Việc trao cho giám
đốc nhiều quyền lực , đặc biệt là quyền lực của chủ sở hữu trong khi không có
cơ chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu những hoạt động của họ đã là một trong
những nguyên nhân cơ bản của tình hình lãng phí, tham nhũng nghiêm trọng
tài sản , tiền vốn của Nhà nước.
Tóm lại, các DNNN ở nước ta do yếu tố lịch sử để lại đã và đang đóng
góp vai trò to lớn gần như tuyệt đối trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân nhưng lại hoạt động kém hiệu quả và phát sinh nhiều tiêu cực. Quá trình
chuyển đất nước sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước tất yếu phải đổi mới căn bản
DNNN. Đây là một mâu thuẫn lớn song bắt buộc phải kiên quyết đổi mới, phải
có giải pháp và bước đi phù hợp với trình độ thực tế cơ sở. Do đó với mục tiêu
và quan điểm đổi mới DNNN, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương chuyển một
số DNNN sang CTCP và coi giải pháp đẩy nhanh tiến trình CPH là để nâng cao
hiệu quả hoạt động của các DNNN.
II. TÌNH HÌNH CPH CÁC DNNN TỪ 1991 ĐẾN NAY.
1. Mục tiêu cổ phần hoá.
Mục tiêu CPH DNNN là một vấn đề luôn luôn được Đảng và Chính phủ
quan tâm nghiên cứu xác định. Đại hội Đảng lần thứ VIII chủ trương “Triển
khai tích cực và vững chắc việc CPH DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm
động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản Nhà nước
ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá”.
Nghị định 28/ CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ về “Chuyển một số
DNNN thành CTCP” khẳng định: “CPH DNNN là huy động vốn của công nhân
viên chức trong DN , cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước để đổi mới đầu
tư công nghệ, phát triển doanh nghiệp và tạo điều kiện cho những người góp
vốn và công nhân viên chức trong doanh nghiệp có cổ phần được nâng cao vai
Nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh
tế của đất nước.
Qua những văn bản cơ bản trên có thể khẳng định các mục tiêu của CPH
đã được xác định một cách rõ ràng và nhất quán. Song phải chăng coi huy
động vốn để phát triển doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu, nâng cao vai trò
làm chủ thực sự, tạo điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả
là mục tiêu hàng thứ, hay hai mục tiêu ở vị trí ngang bằng nhau.
Huy động vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một trong những
điều kiện quan trọng hàng đầu để đẩy nhanh công cuộc CNH- HĐH đất nước.
Đó cũng là điều kiện tối quan trọng để nâng cao hiệu quả cạnh tranh, mở rộng
sản xuất kinh doanh của các DN. Hiện nay vốn kinh doanh đang là một trong
những vấn đề nan giải của các DN. Để huy động vốn, doanh nghiệp phải đảm
bảo nhiều điều kiện, trong đó khả năng kinh doanh có hiệu quả được coi là
điều kiện tiên quyết. Đặt việc huy động vốn cho phát triển DN như một mục
tiêu hàng đầu sẽ gây cảm nhận việc CPH xuất phát từ yêu cầu giải quyết khó
khăn của Nhà nước trong việc đảm bảo vốn DN. Điều đó đến lượt mình, có thể
lại gây trở ngại cho việc thực hiện chính mục tiêu ấy, người lao động không
thấy được động lực kinh tế trực tiếp trong việc góp vốn của mình. Trong cơ chế
thị trường, để thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN nằm ở
sự gắn bó mật thiết giữa quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng tài sản
của DN, xác định rõ người chủ đích thực của các tài sản đó. Việc huy động thêm
vốn từ CPH là điều kiện xác lập người chủ một bộ phận tài sản của DN, người
chủ ấy cùng với người đại diện Nhà nước ở DN quản lý điều hành hoạt động
kinh doanh một cách có hiệu quả nhất. Hơn nữa, việc huy động thêm vốn chỉ là
phương tiện thiết yếu để đạt tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế mà thôi.
Nếu không được quản lý sử dụng tốt số vốn được huy động đó mà cũng không
thể mang lại hiệu quả mong muốn.
Theo những lập luận trên, mục tiêu hàng đầu CPH là thúc đẩy nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo vai trò làm chủ thực sự của
những người chủ sở hữu tài sản . Huy động thêm vốn bằng bán cổ phần và
- Tư nhân hóa là chuyển sở hữu Nhà nước vào tay tư nhân.
Thứ hai, mục tiêu của việc CPH trong giai đoạn thí điểm là:
- Chuyển một phần sở hữu Nhà nước thành sở hữu các cổ đông nhầm
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh .
- Phải huy động được khối lượng vốn lớn nhất định ở trong và ngoài
nước.
- Tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp .
Thứ ba, DN được chọn làm thí điểm CPH là những doanh nghiệp:
- Có quy mô vừa.
- Đang kinh doanh có lãi hoặc trước mắt đang gặp khó khăn nhưng có
triển vọng sẽ hoạt động tốt.
- Không thuộc diện những DNNN cần phải giữ 100% vốn.
Thứ tư, đối tượng bán cổ phần theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp .
- Các tổ chức kinh tế xã hội trong nước.
- Các cá nhân trong nước.
Thứ năm, việc xác định giá trị doanh nghiệp được tiến hành trên cơ sở
số liệu của văn bản giao vốn và hệ số bảo toàn vốn qua các năm và giá trị tăng
thêm do các yếu tố lợi thế mang lại. Các khoản thua lỗ, nợ nần, hàng hoá tồn
kho kém, mất phẩm chất…không được đưa vào giá trị doanh nghiệp bán cổ
phần và giao cho doanh nghiệp tự xử lý trước khi tiến hành thí điểm CPH.
Thứ sáu, doanh nghiệp thí điểm CPH được ưu đãi giảm 50% thuế lợi tức
trong hai năm kể từ khi thực hiện CPH.
Thứ bảy, người lao động trong DNNN chuyển sang CTCP được ưu đãi
trong việc mua cổ phần trả chậm không quá 12 tháng và được chia phúc lợi,
khen thưởng ( nếu còn dư tại thời điểm CPH ) để mua cổ phần trên nguyên tắc
công bằng và tương xứng với mức độ đóng góp.
c) Quá trình thực hiện CPH.
Thực hiện Quyết định số 202/CT, các bộ, ngành đã hướng dẫn DNNN
đăng ký thực hiện thí điểm chuyển sang CTCP. Trên cơ sở số lượng DNNN đã
phân loại DNNN để CPH.
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tháng
6/1996 nêu phương hướng chỉ đạo : “Tổng kết kinh nghiệm hoàn chỉnh khuôn
khổ pháp lý đẻ triển khai tích cực, vững chắc việc CPH DNNN nhằm tạo thêm
động lực mới trong quản lý , huy động thêm vốn theo yêu cầu phát triển và
điều chỉnh cơ cấu DNNN”.
- Theo thông báo số 63-TB/TW ngày 4/4/1997 của Bộ Chính trị là: “CPH
phải xuất phát từ yêu cầu phát triển của DNNN, nhằm huy động thêm vốn, của
cải bên trong và bên ngoài để DN đầu tư mở rộng ngành nghề, hiện đại hoá
công nghệ, tạo thêm việc làm, phân công lại lao động phát triển sản xuất , tăng
thêm khả năng cạnh tranh, tích luỹ cho DN, đóng góp cho ngân sách và thu
nhập của người lao động. CPH phải làm cho tiềm lực kinh tế của Nhà nước
ngày càng tăng lên, hiệu quả hoạt động của DN ngày càng cao, góp phần đẩy
mạnh CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN. CPH DNNN phải gắn liền
với cơ chế quản lý để tạo động lực, phát huy mạnh hơn vai trò làm chủ và tính
năng động, sáng tạo của người lao động trong quản lý DN, đồng thời phải đảm
bảo vai trò quản lý của Nhà nước trên cơ sở giữ số cổ phần cần thiết chi phối
của Nhà nước tại DN”.
Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 về việc chuyển một số DNNN thành
CTCP thay cho Quyết định 202/CT ( năm 1992 ) với các quy định cụ thể, rõ
ràng, đầy đủ hơn.
Nghị định 25/CP ngày 26/3/1997 sửa đổi một số điều của Nghị định
28/CT và Chỉ thị 658/TTg ngày 20/8/1997 của Thủ tướng Chính phủ về thúc
đẩy triển khai vững chắc công tác CPH.
b) Nội dung của các chủ trương.
Thực hiện CPH đối với DNNN có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động sản xuất
kinh doanh có hiệu quả và không thuộc đối tượng Nhà nước cần giữ 100%
vốn.
Đối tượng bán cổ phần như trước song xoá bỏ trình tự ưu tiên bắt buộc.
CPH được tiến hành theo 3 hình thức:
Thực hiện Nghị định số 28/CP, công tác CPH DNNN đã được quan tâm
hơn, các ngành , các cấp đã thực hiện được một số việc như sau:
- Củng cố tổ chức, bổ sung thành viên vào Ban chỉ đạo CPH ở địa
phương. Tính đến tháng 3/1998 đã có:
+ Ban chỉ đạo Trung ương về CPH do Bộ trưởng Bộ Tài chính làm
trưởng ban và một số ngành làm thành viên: Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Lao