luận văn chuyên ngành bảo hiểm Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Định hướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020 - Pdf 27

MỤC LỤC
b. Tình hình đào tạo chuyên ngành bảo hiểm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở Việt
Nam: 18
a. Tổ chức đào tạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 19
DANH MỤC BẢNG BIỂU
b. Tình hình đào tạo chuyên ngành bảo hiểm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở Việt
Nam: 18
a. Tổ chức đào tạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 19
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới cho thấy, chính sách xã
hội luôn chiếm vị trí quan trọng song song với chính sách phát triển kinh tế,
trong đó, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là một khâu không thể
thiếu, một bộ phận hợp thành hệ thống chính sách xã hội của một quốc gia. Ở
Việt Nam, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội lớn của
Đảng và Nhà nước, là trụ cột chính của an sinh xã hội, góp phần ổn định đời
sống cho người lao động, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc.
Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm từ ngay sau khi nước ta giành độc lập nhưng hệ thống Bảo hiểm
xã hội Việt Nam với tư cách là cơ quan chuyên trách thực hiện chính sách
mới chính thức đi vào hoạt động trên phạm vi toàn quốc từ giữa thập kỷ 1990.
Từ đó đến nay, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện vai trò phục vụ
đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ngày một mở
rộng theo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: tiến tới bảo hiểm xã hội cho mọi
người lao động và tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Sau hơn 18 năm
thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đã có gần 2/3 dân số cả
nước được thụ hưởng quyền lợi. Có được kết quả ấy trước hết là do đường lối
lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự phối hợp giúp đỡ của
các bộ, ngành, các cơ quan Trung ương và địa phương. Đó còn là kết quả của
sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, công chức, viên chức ngành Bảo hiểm
xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội của đất nước.

định 12/CP ngày 26/01/1995 điều lệ tạm thời về BHXH, đồng thời thành lập
hệ thống BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ thu, chi,
quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ chính sách BHXH thống nhất
trong phạm vi toàn quốc. Quá trình triển khai thực hiện sau đó đã khẳng định
sự đúng hướng về cải cách BHXH ở nước ta và ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ
9 Quốc hội khoá XI, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua
Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 với BHXH bắt
buộc, từ ngày 1/1/2008 với BHXH tự nguyện và từ ngày 1/1/2009 với bảo
3
hiểm thất nghiệp. Việc ban hành Luật BHXH là cơ sở pháp lý cao nhất để
nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, pháp điển hoá các quy
định về BHXH, bổ sung các loại hình BHXH cho phù hợp với quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá hành chính tập trung sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đáp ứng nguyện vọng của
người lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và hội nhập với kinh tế thế
giới.
1.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức theo ngành dọc, tập trung,
thống nhất từ Trung ương đến địa phương và chia thành 3 cấp: ở Trung ương
là BHXH Việt Nam; ở địa phương là BHXH tỉnh và BHXH huyện.
1.2.1 Về cơ cấu tổ chức:
a) Cơ quan BHXH Việt Nam
Thành lập năm 1995 theo Quyết định số 606/QĐ- TTg ngày 26/9/1995
của Thủ tướng Chính phủ, cơ cấu tổ chức của cơ quan BHXH ở Trung ương
có 8 đơn vị trực thuộc, trong đó, 7 đơn vị giúp việc và 1 Trung tâm thông tin -
khoa học. Biên chế gần 80 người;
Năm 2002, sau khi sáp nhập BHYT Việt Nam về BHXH Việt Nam, theo
Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002, cơ cấu tổ chức của cơ quan
BHXH ở Trung ương có 17 đơn vị trực thuộc trong đó có 11 đơn vị giúp việc
và 06 đơn vị sự nghiệp. Biên chế 385 người, tăng 4,8 lần, bằng 481% so với

có 4.634 người, bằng 183% so với giai đoạn 1995-2002; giai đoạn năm 2008-
2011 có 10.697 người, bằng 230% so với giai đoạn 2003-2008.
5
1.3 Kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Bảng 1 - Một số kết quả hoạt động của ngành BHXH những năm qua
cho thấy số đối tượng tham gia, tổng số tiền thu và chi, giải quyết chế độ
BHXH, BHYT cũng không ngừng tăng và tăng với tốc độ cao qua từng thời
điểm.
Bảng 1 Một số kết quả hoạt động của ngành BHXH những năm qua
Năm 1995 Năm 2005 Năm 2011
Tốc độ tăng trưởng
Năm 2005
so với năm
1995 (%)
Năm 2011
so với năm
2005 (%)
Năm 2011
so với năm
1995 (%)
Đối tượng tham
gia BHXH
(người)
2.276.000 6.127.000 10.180.000 169 66 347
Đối tượng tham
gia BHYT
(người)
7.100.000 23.160.000 57.107.000 226 256 704
Số lượt người
KCB BHYT

hội thuộc hai hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Liên đoàn Lao
động. Từ tháng 02/1995, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập
từ Trung ương tới địa phương và đi vào hoạt động. Cơ cấu tổ chức của Bảo
hiểm xã hội Việt Nam gồm 8 đơn vị trực thuộc cơ quan Bảo hiểm xã hội
Trung ương và 53 Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tại Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố có 5 phòng chuyên môn, nghiệp vụ và
514 Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh với hơn 4.000
cán bộ, công chức, viên chức.
Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần
thứ 7 khóa VIII và Chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, ngày
24/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg
chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Tính đến
cuối năm 2004, bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam bao gồm: Tại
Trung ương có 20 đơn vị trực thuộc, tại địa phương có 64 Bảo hiểm xã hội
cấp tỉnh và 656 Bảo hiểm xã hội cấp huyện với gần 12.000 người. Quá trình
phát triển đến nay, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam có biên chế hơn
17.000 người làm việc theo cơ cấu ngành dọc từ Trung ương xuống Bảo hiểm
8
xã hội 63 tỉnh, thành phố và 695 Bảo hiểm xã hội cấp huyện. Như vậy, số cán
bộ, công chức, viên chức hiện tại đã tăng gần gấp 2 lần so với năm 2003 là
năm tiếp nhận hệ thống Bảo hiểm y tế và tăng gấp 4,5 lần so với năm 1995 là
năm mới thành lập Ngành, trung bình mỗi năm tăng khoảng 1500 cán bộ,
công chức, viên chức.
Sự gia tăng về tổ chức và biên chế xuất phát từ số người tham gia và
thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng nhanh do
chế độ, chính sách quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nói chung của
Nhà nước có những thay đổi, mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của
thời kỳ mới và việc quản lý kinh tế, xã hội đất nước.
Để có thể thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao với

triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Quá trình hội nhập quốc tế gắn với
sự hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm giữa các quốc gia, tổ chức về an
sinh xã hội… cũng là những nhân tố tác động đến sự phát triển đội ngũ và
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức, viên chức Bảo hiểm
xã hội Việt Nam.
Sự phát triển toàn diện của kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ… trên
thế giới, gắn với xu hướng hội nhập cũng tác động tích cực đến chính sách và
nguồn nhân lực làm công tác an sinh xã hội trong đó có các chế độ, chính
sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và nguồn nhân lực ngành Bảo hiểm xã
hội.
b. Những nhân tố trong nước
- Chế độ chính sách quy định về bảo hiểm xã hội nói chung của Nhà
nước có những thay đổi đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển và quản
10
lý kinh tế, xã hội của Quốc gia;
- Quy mô phát triển của ngành Bảo hiểm xã hội tương ứng với chức
năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao;
- Số người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp ngày càng gia tăng;
- Định hướng phát triển nhân lực, phát triển đào tạo sau đại học và các bậc
học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước.
- Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế tạo ra nhiều
cơ hội việc làm, thu nhập nhưng cũng xảy ra tình trạng công chức, viên chức
có chất lượng rời bỏ việc làm tại khu vực công để ra làm việc ở bên ngoài,
tình trạng này cũng xảy ra đối với ngành Bảo hiểm xã hội khi tiền lương, thu
nhập không tương xứng với khối lượng, giá trị công việc giao cho người lao
động (từ năm 2007-2011 có 1353 người rời bỏ khỏi Ngành).
2.3 Thực trạng công tác tuyển dụng lao động.
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của ngành Bảo hiểm
xã hội mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công việc trong thời

Chuyên viên cao cấp và
tương đương
21 0,1% 13 61,9% 8 38,1%
Chuyên viên chính và tương
đương
690 4,0% 112 16,2% 578 83,8%
Chuyên viên và tương
đương
10401
60,4
% 363 3,5% 10038 96,5%
Cán sự và tương đương
3713
21,6
% 12 0,3% 3701 99,7%
Còn lại
2402
13,9
% 28 1,2% 2374 98,8%
Cộng
17227 100% 628 3,1% 16699 96,9%
2. Chia theo độ tuổi
Dưới 30 tuổi
5874
34,1
% 171 2,9% 5703 98,7%
Từ 30 đến 50 tuổi
9885 57,4% 268 2,7% 9617 97,3%
Trên 50 tuổi
1468 8,5% 89 6,1% 1379 93,9%

Trình độ được đào tạo
Số lượng
(người)
Tỷ lệ
( %)
1 Tiến sĩ 4 0,02
2 Thạc sĩ 167 0,97
3 Đại học 11.029 64,02
4 Cao đẳng 855 6,12
5 Trung cấp 2.503 17,47
6 Sơ cấp 1.962 11,40
Tổng cộng 17.227 100,00
Số liệu tại Bảng 3 cho thấy cơ cấu về trình độ đào tạo của đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống Bảo hiểm xã hội
Việt Nam, trong đó, công chức, viên chức có trình độ đại học và cao đẳng
chiếm tỷ lệ cao nhất (70,1%) với rất nhiều loại hình đào tạo như chính quy, tại
chức, chuyên tu, từ xa, vừa học vừa làm và chủ yếu tập trung tại các tỉnh và
thành phố lớn. Đây là lực lượng lao động có trình độ đào tạo cơ bản có thể đáp
ứng, tiếp cận và đảm nhận được các nghiệp vụ của ngành nếu họ được đào tạo
bổ sung hợp lý các kiến thức bổ trợ và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về bảo
13
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp một cách bài bản. Tuy vậy, lực
lượng này cũng cần được bố trí, sử dụng hợp lý để tránh lãng phí nguồn nhân lực
của Ngành. Tiếp đến là số công chức, viên chức có trình độ cao đẳng, trung cấp
(23,6%), lực lượng lao động này có khả năng thực hiện các kỹ năng chuyên môn
đơn thuần của một nhân viên bảo hiểm nếu được đào tạo bài bản các kỹ năng
nghiệp vụ mà họ được đảm nhận. Có 11,4 % người lao động có trình độ sơ cấp,
đây là lực lượng lao động cần có sự đào tạo nâng cao để đáp ứng nhiệm vụ, tuy
nhiên cũng cần có sự phân công hợp lý cho đối tượng này theo khả năng của mỗi
người vào các vị trí công việc giản đơn.

xã hội cơ bản được đào tạo qua 6 nhóm khối ngành chính, trong đó tỷ lệ cao
14
nhất là ở khối ngành kinh tế (72,9%) với trình độ đại học chiếm 61,2%; tiếp
đến là khối Y-Dược chiếm tỷ lệ 12,4% (trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 6,0%);
khối Khoa học xã hội (6,1%); Công nghệ thông tin (5,0%), khối Luật (2,9%).
Như vậy, cơ cấu ngành đào tạo cho thấy nguồn nhân lực chủ yếu của Bảo
hiểm xã hội được đào tạo từ 5 khối chuyên ngành: Kinh tế, Y- Dược, Khoa
học xã hội, Công nghệ thông tin, Luật. Đây là những chuyên ngành có chuyên
môn đào tạo mà ngành Bảo hiểm xã hội đang có nhu cầu sử dụng.
Theo thống kê cho thấy tỷ lệ nhân lực được đào tạo ở khối ngành kinh
tế là tương đối cao, đảm nhiệm ở hầu hết các mảng công việc của Ngành,
nhân lực được đào tạo khối y dược, công nghệ thông tin còn thấp, số có
chuyên ngành chuyên môn bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế rất ít. Điều này cho
thấy cơ cấu ngành nghề còn chưa cân đối, tình trạng làm việc trái chuyên môn
còn diễn ra ở mức độ nhất định. Mặc dù vậy, do yêu cầu cấp bách để đáp ứng
ngay việc thực hiện nhiệm vụ được giao ngày càng tăng, kể từ khi thành lập
Ngành đến nay, ngoài số cán bộ tại chỗ có kinh nghiệm lâu năm về bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải tuyển dụng
nguồn nhân lực được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng, trung học có
các chuyên ngành gần với nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, chủ yếu lấy từ các khối
ngành kể trên, đặc biệt là khối kinh tế và với bảo hiểm y tế là trình độ y, dược.
Nguồn nhân lực được tuyển dụng mới, để có thể đáp ứng được yêu cầu công
việc đều phải được bồi dưỡng, tập huấn các kiến thức chuyên sâu về bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế và cập nhật các quy định mới của Ngành.
Về cơ cấu biên chế và khối lượng công việc: Với số đối tượng tham gia
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thụ hưởng các chế độ ngày một tăng, dẫn
đến khối lượng công việc ở Bảo hiểm xã hội mỗi cấp, mỗi đơn vị phải triển
khai thực hiện rất lớn. Theo số liệu thống kê, từ năm 2005 đến 2011, khối
lượng công việc của Ngành tăng lên gấp từ 3 đến 4 lần với tính chất ngày
15

2. Trung du Miền núi phía Bắc 14 2888 15 1681 203 603 386
- Tỷ lệ % 16.8 0.5 58.2 7.0 20.9 13.4
3. Bắc Tr bộ & Duyên hải M.Trung 14 4092 32 2871 215 589 358
- Tỷ lệ % 23.8 0.8 70.2 5.3 14.4 9.4
4. Tây Nguyên 5 1185 563 84 361 177
- Tỷ lệ % 6.9 47.5 7.1 30.5 14.9
5. Đông Nam Bộ 6 2258 22 1449 149 395 243
- Tỷ lệ % 1.0 64.2 6.6 17.5 10.8
6. Đồng Bằng Sông Cửu Long 13 2574 18 1336 205 604 411
- Tỷ lệ % 14.9 0.7 51.9 8.0 23.5 16
7. BHXH Việt Nam 528 4 38 388 51 13 34
- Tỷ lệ % 3.1 7.2 73.5 9.7 2.5 6.4
Tổng nguồn nhân lực 17227 4 167 11029 1055 3010 1962
Tỷ lệ % so với tổng số nhân lực 100 0.97 64 6.12 17.5 11.4
Bên cạnh đó, trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giữa các
địa phương và các cấp địa phương không đồng đều, đặc biệt là các tỉnh miền
núi, các huyện vùng sâu, vùng xa Việc tuyển dụng người có năng lực, được
đào tạo chính quy, đúng chuyên môn nghiệp vụ là rất khó khăn, nhất là
chuyên ngành công nghệ thông tin, y dược, ảnh hưởng không nhỏ đến việc
thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn.
16
Qua Bảng 5 có thể thấy: Nguồn nhân lực vùng Đồng bằng Sông Hồng
chiếm tỷ lệ cao nhất (21,5%) trong tổng số nguồn nhân lực toàn ngành, với
các chỉ số đều có chất lượng cao hơn so với các vùng khác trong cả nước: với
69% có trình độ Đại học; 1,1% có trình độ Thạc sĩ .
Nguồn nhân lực vùng Tây Nguyên chỉ chiếm 6,9% so với tổng số
chung của cả hệ thống Bảo hiểm xã hội. Đồng thời có các tỷ lệ cơ cấu về trình
độ đào tạo thấp nhất trong cả nước với 47,5% có trình độ đại học, 30,5% trình
độ Trung cấp và 14,9% trình độ sơ cấp.
Đây cũng là thực trạng chung của nhiều bộ, ngành khác nhau đòi hỏi

Khối kiến thức chuyên ngành được các Trường xây dựng theo các tiêu chuẩn
đầu ra, về cơ bản cho thấy khối chuyên ngành cơ bản giống nhau và có điều
chỉnh về số đơn vị học trình cho phù hợp với chuẩn đầu ra của mỗi Trường,
bao gồm Học viện Tài chính, Đại học Lao động - Xã hội, Đại học Kinh tế
quốc dân Hà Nội, Trường Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học
Công đoàn.
Nhìn chung, khối kiến thức về bảo hiểm xã hội được các trường đưa
vào giảng dạy mới chỉ là kiến thức ban đầu với các nghiệp vụ đơn giản. Riêng
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội có phần chuyên sâu hơn với Khoa
Bảo hiểm được thành lập từ năm 2008 trên cơ sở Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
và đảm nhận đào tạo 2 chuyên ngành về bảo hiểm: Kinh tế bảo hiểm và Bảo
hiểm xã hội. Chuyên ngành Bảo hiểm xã hội đào tạo cử nhân Bảo hiểm xã hội
với mục tiêu nắm vững những kiến thức cơ bản, chuyên sâu về bảo hiểm xã
hội, có khả năng phân tích, hoạch định các chính sách về bảo hiểm xã hội; tổ
chức quản lý cơ quan bảo hiểm xã hội ở các cấp. Về khối kiến thức bảo hiểm
y tế, một số ít trường đại học Y khoa có khoa kinh tế y tế, ngoài ra Trường
18
Đại học Y tế công cộng có nội dung đào tạo về bảo hiểm y tế nhưng không
nhiều.
Về cơ bản, số lượng sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành bảo hiểm xã hội
rất ít, không đủ đáp ứng cho nhu cầu tuyển dụng của ngành; về chuyên môn
nghiệp vụ: mới đảm nhận được một số nghiệp vụ bảo hiểm xã hội đơn giản,
cần phải được đào tạo bổ sung kiến thức và kỹ năng về bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế.
2.4.2 Hình thức đào tạo.
a. Tổ chức đào tạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện có một đơn vị trực thuộc chuyên trách
chức năng đào tạo là Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội (trước đây là
Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ bảo hiểm xã hội). Bên cạnh đó,
các đơn vị nghiệp vụ khác ở cơ quan Trung ương cũng tham gia tổ chức bồi

b/ Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của trường Đào tạo nghiệp vụ bảo
hiểm xã hội
Sau gần 09 năm hoạt động, mặt dù còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất
phải đi thuê, đi mượn, song Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội đã tổ
chức được nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ với gần chục ngàn lượt
người tham dự các khóa học khác nhau, kết quả như sau:
Bảng 6: Tổng hợp kết quả công tác đào tạo từ 2004 đến 2011
Năm Số lớp Số lượng học viên
2004 9 739
2005 17 1705
2006 14 1246
2007 5 363
2008 11 920
2009 9 795
20
2010 8 498
2011 7 520
Tổng cộng 79 6786
Nguồn: Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội
Bảng 6 cho thấy: Từ 2004 đến 2011 đã có 79 lớp với 6.786 lượt học
viên là công chức, viên chức, người lao động thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội
Việt Nam được đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức chuyên ngành bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế và một số kiến thức bổ trợ khác. Trong đó chương trình
đào tạo Giám định viên bảo hiểm y tế có số lượng lớp được mở cao nhất (15
lớp) với 1.072 học viên. Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội là đơn vị
thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam có chức năng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực cho hệ thống Bảo hiểm xã hội, là trường duy nhất đào tạo bồi
dưỡng nghiệp vụ bảo hiểm y tế trong nước.
Chất lượng đào tạo được nâng dần theo thời gian, đánh giá chung cho
thấy trong những năm qua công tác đào tạo bồi dưỡng đã cơ bản đạt được mục

7.
Cán sự và tương đương 3.555 20,6
8.
Số chưa được đào tạo các loại 3.164 18,4
Phân tích những số liệu trong bảng 7 cho thấy: Số cán bộ được đào tạo về
Cao cấp lý luận chính trị và Trung cấp lý luận chính trị chiếm 16% so với tổng số
công chức, viên chức trong toàn Ngành, đây là đối tượng cán bộ lãnh đạo chủ chốt
của ngành Bảo hiểm xã hội; Số công chức, viên chức được đào tạo chương trình
chuyên viên trong Ngành còn rất thấp (48,3%) so với nhu cầu bắt buộc phải được
đào tạo đối với chức danh ngạch chuyên viên; Tổng số công chức, viên chức có
chứng chỉ tin học cơ sở chiếm 59,2% tổng số công chức, viên chức trong toàn
Ngành. Như vậy số công chức, viên chức cần được bồi dưỡng và cập nhật tin học
còn khoảng 30% tương ứng với khoảng 5.168 người.
2.4.3 Kinh phí
*Dự báo kinh phí phát triển nguốn nhân lực
a. Nhu cầu về kinh phí chi cho phát triển đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao trình độ, kiến thức, kỹ năng cho nguồn nhân lực
Tổng kinh phí thực hiện Đề án là: 1.050 tỷ đồng, trong đó:
- Kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và chi hoạt động của cơ sở
đào tạo: 750 tỷ đồng;
22
- Chi đào tạo và bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kỹ năng nghiệp vụ: 190
tỷ đồng;
- Kinh phí khác: 110 tỷ đồng.
Nguồn kinh phí thực hiện Đề án bao gồm nguồn ngân sách nhà nước
phân bổ cho Trung ương và địa phương chiếm 60%, các nguồn khác chiếm
40%.
23

Trích đoạn Các giải pháp tổng thể đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Cơ chế chính sách:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status