LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay khoảng các giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển đang ngày
càng cách xa, sự cách biệt đó một phần do sự phát triển về khoa học công nghệ là khác
nhau, trình độ phát triển khoa học công nghệ ở các nước đang phát triển còn thấp và lạc
hậu so với các nước phát triển.Vì thế các nước đang phát triển muốn hội nhập vào nền
kinh tế thế giới và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển thì phải đầu tư phát triển
nền khoa học công nghệ cho mình. Có như vậy kinh tế của các nước này mới đứng vững
được trong quá trình hội nhập, giúp cho các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh được
với các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp của các nước có trình độ
công nghệ tiên tiến, đồng thời giúp phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trong
nước.
Nước ta cũng là nước đang phát triển, nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp là chủ yếu, tình
trạng công nghệ còn lạc hậu. Hơn 15 năm thực hiện đổi mới, nước ta đã đạt được những
thành tựu đáng kể, nhưng nhìn chung tình hình công nghệ còn kém phát triển, trong hoạt
động chuyển giao và đổi mới công nghệ ở nước ta nói chung và trong các doanh nghiệp
sản xuất nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế.
Vì vậy với tính cần thiết phải xác định thực trạng hiện nay, nhóm em sẽ xin được làm
rõ đề tài “Nghiên cứu thực trạng chuyển giao công nghệ ở các nước đang phát triển. Lấy
ví dụ về một tổ chức cụ thể”.
I.Thực trạng chuyển giao công nghệ ở những nước đang phát triển.
1. Những vấn đề chung về chuyển giao công nghệ.
1.1. Định nghĩa về chuyển giao công nghệ
- Theo Luật chuyển giao công nghệ: Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở
hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao
công nghệ sang bên nhận công nghệ.
Như vậy chuyển giao công nghệ là một quá trình bao gồm 2 bên: bên giao và bên nhận
công nghệ.
Bên giao công nghệ gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế, khoa học, công nghệ và các
tổ chức khác có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân có công nghệ.
Bên nhận gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế khoa học, công nghệ và tổ chức khác có
tư cách pháp nhân hoặc cá nhân tiếp nhận công nghệ.
2.1 Thuận lợi và khó khăn trong chuyển giao công nghệ ở những nước đang phát
triển.
2.1.1. Thuận lợi
Trong hai thập kỷ vừa qua, quá trình CGCN trên thị trường công nghệ thế giới diễn ra
sâu rộng và mạnh mẽ. Những yếu tố tạo thuận lợi cho hoạt động CGCN có thể tóm tắt
như sau:
- Xu thế mở rộng hợp tác và khuyến khích ngoại thương của thế giới;
- Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra những công cụ tiên tiến giúp CGCN dễ dàng;
- Các nước (cả bên giao và bên nhận) đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sau hơn 30
năm tăng cường CGCN trên phạm vi toàn cầu;
- CGCN là một hoạt động mang lại lợi ích cho cả 2 bên tham gia.
Một trong các yếu tố khác thúc đẩy các nước đang phát triển đẩy mạnh CGCN đó là sự
hấp dẫn của CGCN quốc tế thông qua những trường hợp thành công của một số nước
trên thế giới.
Nước Nhật bắt đầu công nghiệp hoá dựa vào CGCN từ phương Tây. Khởi đầu từ một
cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém, nhưng chỉ sau 60 năm (1870-1930) nước Nhật đã đạt chỉ
tiêu của một nước công nghiệp.
Trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, 4 con rồng Châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông, Singapo) chỉ trong khoảng 20 năm cũng được coi là các nước công nghiệp với các
khởi điểm rất thấp: Hàn Quốc năm 1962 GDP/người/năm chỉ có 150USD; Đài Loan năm
1960 chỉ 150USD/người/năm. Tiếp theo là sự thành công của một số quốc gia như Thái
Lan, Malaixia, Braxin, Achentina, Mexico tạo nên một nhóm các quốc gia thường được
gọi là các nước công nghiệp mới (NICs).
2.1.2. Khó khăn
* Về khách quan
- Bản thân công nghệ vốn phức tạp, các công nghệ được coi là CGCN thường có trình
độ cao hơn trình độ của bên nhận;
- Công nghệ là kiến thức, do đó CGCN mang tính chất ẩn, kết quả CGCN mang tính
bất định. Công nghệ không chỉ nằm trong máy móc mà còn nằm trong các tài liệu kỹ
thuật…nên người có công nghệ khó truyền đạt tất cả những gì họ có trong một thời gian
tăng trưởng bình quân chỉ đạt 5,8%, sang thập kỷ 80 tăng trưởng bình quân chỉ còn 3%, 3
năm đầu thập kỷ 90 chỉ là 1%.
So với thập kỷ 70 thế kỷ trước, nợ của các nước đang phát triển thập kỷ 80 tăng 8 lần;
năm 1995 tăng 28 lần.
Cán cân thương mại của các nước đang phát triển thập kỷ 80 là 25% thị trường thế
giới; sang thập kỷ 90 chỉ còn 20%.
Năm 1965-1980, số người sống dưới mức nghèo khổ ở các nước đang phát triển là 200
triệu người, năm 1993 tăng lên 1 tỷ; năm 2000 đã là 2 tỷ người.
2.2. Tình hình chuyển giao công nghệ ở các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện
nay. Liên hệ Việt Nam.
Việt Nam tuy còn là một nước đang phát triển và đang hội nhập dần vào sân chơi quốc
tế, Việt Nam cũng đã bắt đầu tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ trong một
số lĩnh vực nhất định mà đặc biệt là các lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng.
Nhìn chung hiện nay việc chuyển giao công nghệ ở các nước đang phát triển chủ yếu
diễn ra theo 3 luồng chính:
- Chuyển giao công nghệ qua nhập cư của các chuyên gia
- Chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Chuyển giao công nghệ theo các hợp đồng mua bán “thuần túy”.
2.2.1. Chuyển giao công nghệ qua nhập cư của các chuyên gia.
Đây là loại chuyển giao công nghệ vô hình hầu như không thông qua các hợp đồng
thương mại nên bên nhận không chịu những ràng buộc do bên giao hoặc do chính phủ
nước bên chuyển giao áp đặt. Bằng luồng chuyển giao này các nước đang phát triển có
khả năng nhận được những công nghệ cần thiết trong khoảng thời gian ngắn nhất với giá
rẻ mà họ không thể nào đạt được bằng các luồng chuyển giao công nghệ khác. Việt Nam
là một nước có tiềm năng rất lớn trong luồng chuyển giao công nghệ này.
Theo thống kê, hiện nay ngoài Việt Nam có khoảng hơn 3 triệu Việt kiều sinh sống
trên hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có khoảng hơn 1,5 triệu người sống tại Hoa
Kỳ, hơn 250.000 người sinh sống tại Pháp và 180.000 người sinh sống tại Úc…Đa số
Việt kiều đã định cư ở nước ngoài và có nhiều người đã trở thành các chuyên gia có trình
độ khá cao. Tuy vậy hiện nay thực trạng chuyển giao công nghệ trong luồng này lại
hợp đồng mua bán công nghệ. Việc này sẽ tùy thuộc vào thế mạnh của từng quốc gia, họ
sẽ có những công nghệ phù hợp, hiện đại chuyển giao cho những nước kém phát triển
hơn. Do những lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ quốc tế cũng như nhằm chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tích cực tham gia vào hoạt
động chuyển giao công nghệ ra nước ngoài, chủ yếu trong các lĩnh vực năng lượng, sản
xuất điện năng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, trong đó đặc biệt là lĩnh vực năng
lượng, lĩnh vực trồng cây công nghiệp.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12
năm 2008, qua gần 20 năm thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, Việt Nam có 368
dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4,39 tỷ USD,
vốn thực hiện đạt khoảng 1,2 tỷ USD, chiếm 27% tổng vốn đăng ký. Các doanh nghiệp
Việt Nam đã đầu tư tại 43 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Riêng đầu tư vào thị
trường châu Á có 257 dự án, với tổng vốn đầu tư là 2.852 triệu USD, chiếm 69,8% về số
dự án và 64,9% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó tập trung đầu tư sản xuất điện- khai
thác khoáng sản, trồng cây công nghiệp tại Lào. Đầu tư vào châu Phi có 10 dự án, tổng
vốn đăng ký 291,3 triệu USD. Số còn lại thuộc châu Âu và châu Mỹ, chiếm 23,6% tổng
vốn đầu tư đăng ký, trong đó, Liên bang Nga có 17 dự án, vốn đầu tư là 945 triệu USD,
chiếm 21,5% tổng vốn đăng ký; Hoa Kỳ có 40 dự án, tổng vốn đầu tư là 80 triệu USD,
chiếm 1,8% tổng vốn đăng ký.
II. Liên hệ Tại TP.HCM, Siêu thị công nghệ công nghệ (Vinatech) cùng tập đoàn
Taise và Ohhara (Nhật Bản) kí kết hợp tác chuyển giao công nghệ sản xuất bột giấy
phi gỗ của Nhật Bản
1. Thực trạng
Hàng năm, nước ta xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn mảnh gỗ nguyên liệu giấy
nhưng lại bỏ ra một lượng lớn nguồn ngoại tệ để nhập khẩu bột giấy và giấy. Bên cạnh
đó, hiện nay số lượng lớn giấy đã qua sử dụng vẫn chưa được đưa vào tái sản xuất, gây ra
tình trạng lãng phí đáng báo động.
Tình hình thị trường giấy không ổn định. Do tác động của giá đô la và giá vàng, hiện nay
lãi suất cho vay cao nên rất khó khăn trong việc xác định chi phí sản xuất và giá bán sản
phẩm.
1 tấn giấy cần 200 – 300m3 nước).
Sản xuất giấy là ngành sử dụng nguyên liệu tạp để sản xuất nên giai đoạn tẩy rửa
sử dụng rất nhiều các loại hóa chất. Sản xuất giấy cũng thải ra một lượng khổng lồ chất
thải vào nguồn nước, đặc biệt là ở những nhà máy không có thu hồi hóa chất. Điều này
gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, nhiều nơi nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng,
nguồn nước sạch ngày càng khan hiếm, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân khu vực
xung quanh.
2.1.2. Do quỹ đất hạn hẹp.
Trên thực tế, quỹ đất dành cho công nghiệp giấy không tập trung, địa hình phức
tạp làm cho việc vận chuyển, khai thác, quản lý nguyên liệu rất khó khăn.
Nguyên liệu sản xuất giấy luôn trong tình trạng căng thẳng, đe dọa kế hoạch sản xuất
giấy của các doanh nghiệp trong nước. Hằng năm, nước ta chỉ đáp ứng được 25 – 30%
nhu cầu bột giấy cho sản xuất trong nước, còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài. Công
nghệ kém nên giấy chủ yếu được sản xuất từ bột giấy loại tốt làm cho nhu cầu bột giấy
càng tăng cao trong khi đó giá nhập bột giấy từ nước ngoài cao hơn 30 – 40% giá thành
trong nước.Thực tế chỉ dùng đất trồng cây lấy gỗ để sản xuất giấy với quỹ đất như hiện
nay thì trong khoảng một vài năm tới, có lẽ Việt Nam sẽ sử dụng nguồn nguyên liệu nhập
khẩu 100% cho ngành sản xuất giấy.
Vô lý ở chỗ thiếu thì vẫn thiếu thế nhưng thừa lại cứ thừa. Chính việc quy hoạch
đất trồng và đầu ra chồng chéo, không hợp lý nên đã gây ra tình trạng thừa nguyên liệu
giấy. Trong khi đó các nhà máy vẫn khuyến khích người dân vay vốn trồng rừng, rồi việc
thu mua nguyên liệu không đồng nhất khiến nhiều người dân mất lòng tin vào nhà nước.
2.1.3. Trình độ quản lý yếu kém.
Do quy trình sản xuất không được tự động hóa nên cần rất nhiều lao động mặc dù
năng suất máy móc thấp.
Quá nhiều lao động dẫn đến việc đi sớm về muộn, làm việc cầm chừng, đùn đẩy công
việc cho nhau, thiếu tinh thần tự giác.
Cách sắp xếp, quản lý nhân sự của ta thiếu hiệu quả, chưa khoa học. Nhiều cấp
quản lý quá cũng thành trở ngại. Đôi khi thông tín cấp báo nhưng đến được nơi cần đến
thì đã không còn hữu ích, làm mất đi cơ hội kinh doanh.
Dây chuyền sản xuất bột gỗ của Nhật từ nguyên liệu phi gỗ gồm:
1. Máy nghiền tinh hai đĩa DDR, với hai bộ làm tinh mang đến năng suất cao gấp
2 lần trên cùng 1 loại chấn đế máy có thể giảm tối đa mức độ ma sát và tiếp xúc giữa các
bộ phận kim loại xảy ra trong những hoạt động tải năng.
2. Máy lọc bột giấy giúp loại bỏ tạp chất một cách nhanh nhất.
3. Máy lọc thứ cấp (xử lý phần bị loại) cho kết quả sàng lọc tốt hơn, hiệu quả gấp
4-5 lần so với máy sàng rung truyền thống. Thiết bị này tương đối gọn nhẹ và được
chứng nhận là tối thiểu ô nhiễm khu vực hoạt động.
4. Máy làm sạch nồng độ cao có khả năng loại bỏ cực tốt kim loại, cát và những
tạp chất khác trong bột giấy. Ngoài ra, nó còn giúp cho việc liên tục loại bỏ những vật lạ
ngay cả với một lượng nước cân bằng để làm sạch tối thiểu. Đặc biệt, với thiết kế phần xả
cuối giúp loại bỏ ngay cả những hạt cát nhỏ nhất ở nồng độ là 1.0-1.5%
5. Máy nghiền chính được thiết kế giúp cho việc bảo tồn năng lượng, bảo đảm
hiệu quả nghiền và tiết kiệm chi phí trong sản xuất với khả năng nghiền nguyên liệu cấp
thấp mà không làm hỏng sợi bột.
6. Máy lọc dạng trống giúp kéo dài thời gian lưu bột bên trong và nồng độ bột ra
ổn định khiến quá trình xử lý bột không bị dính lại do đó nồng độ bột đầu ra không ảnh
hưởng đến bột.
KẾT LUẬN
Chuyển giao công nghệ đã giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề nhức nhối
của xã hội cũng như nền kinh tế, giúp nến kinh tế chúng ta ổn định và phát triển hơn,
đồng thời nước ta có điều kiện nâng cao trình độ công nghệ, học tập các phương pháp
quản lý tiên tiến của những quốc gia phát triển.
Nhận thấy vấn đề cấp thuyết cần thay đổi quá trình sản xuất giấy siêu thị công
nghệ công nghệ (Vinatech) đã nhanh chóng tìm ra giải pháp chuyển giao công nghệ sản
xuất bột giấy phi gỗ của Nhật Bản để cung cấp lượng bột giấy đang còn thiếu, làm giảm
khối lượng bột giấy phải nhập khẩu.
Áp dụng công nghệ đã làm công bằng hơn số lượng nhà máy sản xuất bột giấy và
nhà máy sản xuất giấy. Tận dụng khối lượng giấy phế tải khổng lồ vừa cung cấp lượng
bột giấy còn thiếu và cũng là bảo vệ môi trường trong sạch hơn khi trong dây truyền sản