Tác động của hiệp định TRIPS đến chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển - Pdf 18

1) Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ, sở hữu trí tuệ là vấn đề ngày
càng được đề cập đến nhiều và nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Sở hữu trí tuệ đóng
một vai trò quan trọng không thể phủ nhận trong nỗ lực phát triển kinh tế của một quốc gia.
Thực tế của thương mại quốc tế đòi hỏi phải hình thành và phát triển một tư duy mới đối với
sở hữu trí tuệ trên góc độ thương mại. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs Trade-related aspects of Intellectual Property
Rights) ra đời thừa nhận tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với hoạt động
thương mại, đầu tư và các thiệt hại đối với các quyền lợi thương mại hợp pháp khi quyền sở
hữu trí tuệ không được bảo hộ và thực thi một cách thỏa đáng, hiệu quả. Từ khi ra đời và
chính thức có hiệu lực, Hiệp định TRIPs đã mang lại những thay đổi căn bản trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ, khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực và quy định của Công ước Paris và
Công ước Berne, làm thay đổi bộ mặt của sở hữu trí tuệ, tiến tới loại bỏ các quy định về
hành chính, thủ tục, và kỹ thuật bất lợi cho hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ quốc tế.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực thương
mại không chỉ xuất phát từ nhu cầu tự thân của nền kinh tế trong quá trình phát triển nhằm
khuyến khích các hoạt động nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng khoa học, công nghệ trong
nước mà còn là một yêu cầu bắt buộc của quá trình hội nhập. Thực hiện quyền và nghĩa vụ
về sở hữu trí tuệ trong thương mại là một trong những cam kết quan trọng của Việt Nam khi
gia nhập WTO. Các chính sách về lĩnh vực này cần được sửa đổi theo hướng phù hợp và
nâng cao tính khả thi trong thực hiện; cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt
động sáng tạo và bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu sáng tạo cần được nâng cao. Nhờ được
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm của mình, các nhà sáng tạo mới đầu tư phát
minh ra nhiều sáng chế, giải pháp hữu ích, nhiều kiểu dáng mới thúc đẩy nhanh quá trình
tăng trưởng, nâng cao đời sống xã hội.
2) Tổng thuật tài liệu
Để có cơ sở nghiên cứu, đề tài đã thu thập thong tin sơ cấp và thứ cấp một số tài liệu
trong nước và nước ngoài liên quan đến lý thuyết “Hiệp định TRIPS” và các trường hợp cụ
thể đã diễn ra tại các nước đang phát triển. Cụ thể:
Bài nghiên cứu “Tác động của hiệp định TRIPS đối với khả năng tiếp cận dược phẩm
ở các nước đang phát triển: mô hình lý thuyết trò chơi” của Magdalena Zadworna, Michail

phương pháp biện chứng duy vật, tác giả chú trọng đến các phương pháp truyền thống như
phân tích, tổng hợp và so sánh. Ngoài ra, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn, tham khảo ý
kiến của một số chuyên gia tại các cuộc hội thảo khoa học, từ các bài giảng và trên các
phương tiện thông tin đại chúng.
3) Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là phân tích chi tiết các điều khoản trong hiệp định TRIPS liên quan đến
chuyển giao công nghệ (điều 66.2). Sau đó đề tài đưa ra một vài trường hợp điển hình là các
dự án chuyển giao công nghệ sang các nước đang phát triển.từ đó phát hiện ra vấn đề và đề
xuất một vài giải pháp
4) Câu hỏi giả thuyết
Các câu hỏi sẽ được làm rõ trong đề tài
• Các tác động của hiệp định TRIPS cụ thể là chuyển giao công nghệ ảnh hưởng đến
các nước đang phát triển như thế nào?
• Các quyết định có làm giảm chuyển giao công nghệ vào các nước đang phát triển hay
không?
• Các giải pháp có thể làm hoạt động chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát
triển tăng lên trong tương lai?
5) Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các các điều khoản trong hiệp định TRIPS liên
quan đến chuyển giao công nghệ đặc biệt là điều khoản 66.2 và trường hợp chuyển giao
công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển diễn ra trên thế giới.
6) Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp lý thuyết suy luận logic, phân tích - tổng hợp, so
sánh - đối chiếu, phương pháp phân tích tình huống và phỏng vấn chuyên gia
Phương pháp phân tích – tổng hợp để có thể nhìn nhận tương đối chính xác về các
vấn đề liên quan đến hiện tượng chuyển giao công nghệ, ngoài một số thông tư, văn bản
quy định của nhà nước và quốc tế, người viết nghiên cứu thêm một số bài báo ở Việt Nam
và quốc tế.
Đối với phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Dựa trên cơ sở thu thập thu thập
thông tin sơ cấp và thứ cấp đã nêu ở phần tổng thuật tài liệu, nhóm nghiên cứu đã sử

thúc đẩy hoạt động sáng tạo đang ngày càng trở nên bức thiết. Phần lớn các quốc gia đều
nhất trí rằng cần phải nghiên cứu, thảo luận nhằm hình thành một công ước mới điều tiết các
vấn đề về quyền SHTT. Hiệp định TRIPs của WTO (được ký kết năm 1994 và chính thức có
hiệu lực vào tháng 1/1995) đã ra đời nhằm giải quyết một cách toàn diện vấn đề bảo hộ
quyền SHTT. Với hiệp định này, lần đầu tiên những quy định về quyền SHTT được đưa vào
hệ thống thương mại đa biên và người ta kỳ vọng rằng HIệp định sẽ “góp phần thúc đẩy việc
cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, mang lại lợi ích cho cả người sáng tạo và
người sử dụng công nghệ cũng như lợi ích kinh tế - xã hội nói chung và dảm bảo sự cần
bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ” (Điều 7, Hiệp định TRIPs).
1.1.2.Nội Dung
Các quy định mới điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền
SHTT thông qua Hiệp định TRIPs đã trở thành một phương tiện giúp củng cố trật tự, cũng
như giải quyết tranh chấp một cách có hệ thống hơn trên phạm vi toàn cầu. Hiệp định nêu ra
các nguyên tắc và ấn định mức độ tối thiểu mà mỗi quốc gia thành viên phải bảo đảm cho
quyền SHTT của các quốc gia thành viên khác. Trên cơ sở đó, Hiệp định tạo ra sự cân bằng
giữa lợi ích lâu dài và chi phí ngắn hạn đối với xã hội. Cũng như trong các hiệp định khác
của WTO, Hiệp định TRIPs dựa trên một số nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên tắc đối xử quốc
gia, nguyên tắc tối huệ quốc và bảo hộ cân bằng. Các nguyên tắc này không chỉ áp dụng đối
với các tiêu chuẩn về nội dung bảo hộ mà còn áp dụng cả đối với những vấn đề liên quan
đến khả năng đạt được, xác lập phạm vi, duy trì và thực thi quyền SHTT.
Hiệp định TRIPs đề cập chi tiết đến các quyền SHTT khác nhau và cách thức bảo hộ.
Các thành viên của WTO đều bắt buộc phải xây dựng hệ thống bảo hộ quyền SHTT quốc gia
nhằm đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiêu được nêu trong Hiệp định theo hai chuẩn
mực cơ bản về bảo hộ, đó là tính đầy đủ và tính hiệu quả của hệ thống pháp luật về quyền
SHTT hiện hành. Nền tảng của Hiệp định là những nghĩa vụ được nêu trong các hiệp định
quốc tế ký kết trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) như Công ước
Paris, Công ước Bern. Ngoài ra, Hiệp định TRIPs còn bổ sung một số lượn lớn các quy định
mới. Cụ thể, các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TRIPs bao gồm: quyền
tác giả và quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu; chỉ dẫn địa lý; bản vẽ và
kiểu dáng công nghiệp; bằng sáng chế; sơ đồ bố trí mạch tích hợp và bảo vệ thông tin bí mật.

chế trong vòng ít nhất 20 năm. Trong hầu hết các lĩnh vực công nghệ, cả sản phẩm lẫn
phương thức sản xuất đều được bảo hộ. Chính phủ các nước có thể từ chối cấp bằng sáng
chế nếu việc khai thác kinh doanh chúng bị cầm vì vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức.
Hiệp định đề ra các quyền tối thiểu dành cho người sở hữu bằng sáng chếm tuy nhiên, cũng
quy định một số ngoại lệ để đối phó với trường hợp người sở hữu bằng sáng chế lạm dụng
quyền của mình (như không cung ứng sản phẩm cho thị trường). Trong trường hợp này,
theo một số điều kiện nhất định trong Hiệp định, Chính phủ các nước có thể cấp “giấy phép
bắt buộc” cho phép các nhà sản xuất khác sản xuất sản phẩm này hoặc được phép sử dụng
quy trình sản xuất đã được bảo hộ. Một số quy định mềm dẻo như vậy đặc biệt có ý nghĩa
trong việc tiếp cận những sản phẩm thiết yếu, nhất là đối với các nước đang phát triển và
kém phát triển.
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp: Hiệp định TRIPs quy định việc bảo hộ sơ đồ bố trí mạch tích
hợp trên cơ sở Hiệp định Washington về quyền SHTT trong lĩnh vực mạch tích hợp. Theo
điều 36, các hành vi nhập khẩu, bán hoặc phân phối nhằm mục đích thương mại một thiết kế
bố trí mạch tích hợp được bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu được coi là bất hợp
pháp. Điều 37 quy định các thành viên sẽ không coi những hành vi liên quan đến việc vi
phạm quyền sở hữu một thiết kế bố trí mạch tích hợp do vô ý là bất hợp pháp nhưng sẽ bồi
thường cho chủ sở hữu thiết kế bố trí mạch tích hợp sau khi có thông báo vi phạm.
- Bảo hộ thông tin bí mật: Hiệp định TRIPs không yêu cầu các thành viên phải bảo hộ thông
tin bí mật như một dạng sở hữu mà chỉ dành cho người có quyền kiểm soát thông tin đó khả
năng ngăn chặn việc người khác làm tiết lộ, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thông tin này
trái với hành vi thương mại trung thực. Điều 39 quy định các thành viên không được phép
tiết lộ những dữ liệu mật được nộp cho các cơ quan chính phủ để xin phép lưu hành dược
phẩm hoặc nông hóa phẩm (trừ trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ công chúng hoặc khi tiến
hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo dữ liệu đó không bị tiết lộ) nhằm mục tiêu thương
mại không lành mạnh.
- Kiểm soát hành vi chống cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao quyền SHTT (Hợp đồng li
xăng): Chủ sở hữu quyền SHTT có thể cho phép người khác sản xuất hay sao chép nhãn
hiệu hàng hóa hoặc thương hiệu, tác phẩm, sáng chế, bản vẽ hoặc các mẫu mã được bảo hộ.
Hiệp định TRIPs thừa nhận trong số các điều kiện của hợp đồng chuyển giao, người chủ sở

Điều khoản 66.2
“Developed country Members shall provide incentives to enterprises and institutions
in their territories for the purpose of promoting and encouraging technology transfer to least-
developed country Members in order to enable them to create a sound and viable
technological base.”
”Những Thành viên là nước phát triển phải tạo động lực để khuyến khích các doanh
nghiệp và các tổ chức trong lãnh thổ của mình chuyển giao công nghệ cho những thành viên
là nước kém phát triển để giúp họ tạo ra một nền tảng công nghệ bền vững và có khả năng
phát triển”
Trích :Điều 66.2 Hiệp Định TRIPS
Điều này đặt ra một vấn đề đó là sự hiểu khác nhau về yêu cầu vì không có bất kỳ
định nghĩa chung về các điều khoản quan trọng, bao gồm "chuyển giao công nghệ" và loại
"ưu đãi được cung cấp cho các tổ chức và doanh nghiệp" dẫn đến chuyển giao công nghệ cụ
thể để nước kém phát triển .
Trong nội dung thảo luận về điều khoản 66.2 của hiệp định TRIPS, nhóm các nước
đnag phát triển đã định nghĩa “chuyển giao công nghệ” dựa trên quan điểm nền tảng của
UNCTAD và chương trình 21. Định nghĩa “chuyển giao công nghệ” được hiểu như sau:
• Vốn vật chất và hàng hóa: bao gồm: thiết bị chuyên dụng; hàng hóa bao gồm hay kết hợp
với các công nghệ có liên quan hoặc ý tưởng
• Vốn và hàng hóa, kỹ năng và bí quyết bao gồm: đào tạo kỹ năng kỹ thuật và hướng dẫn sử
dụng; Đào tạo khoa học và học tập; Kiến thức về vận hành công nghệhoặc thiết bị; Đào tạo
và kỹ thuật tư vấn và hỗ trợ cần thiết để lắp ráp, bảo trì và vận hành một hệ thống khả thi
hoặc công nghệ.
• Thông tin và dữ liệu: Hướng dẫn sử dụng; thiết kế; kế hoạch chi tiết; Hướng dẫn vận hành;
Ấn phẩm và báo cáo khoa học và kỹ thuật
Chuyển giao công nghệ trong 4 lĩnh vực
• Các thiết bị hoặc có yếu tố vật lý
• Các kỹ năng và con người ở các khía cạnh quản lý công nghệ và học tập;
• Thiết kế và kế hoạch chi tiết cấu thành trong kiến thức tài liệu thể hiện trên các thông tin và
công nghệ

bảo rằng các biện pháp bảo vệ sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của TRIPS dẫn đến việc tăng
dòng chảy của chuyển giao công nghệ vào nước kém phát triển . Các báo cáo của các nước
phát triển cho Hội đồng TRIPS phản ánh rằng một số loại đầu tư thực sự xảy ra. Đánh giá
chi tiết của báo cáo cho thấy việc thực hiện Điều 66.2 đã được cải thiện trong thập kỷ qua.
1.2.2 Tác động hiệp định TRIPS đến các nước đang phát triển
Những thách thức của Hiệp định TRIPS đối với các nước đang phát triển
Sự ra đời của Hiêp định TRIPS đã gây ra nhiều cuộc tranh luận về tác động của việc
bảo hộ quyền SHTT đối với các mục tiêu phát triển. Theo quan điểm của các nước công
nghiệp phát triển, việc bảo hộ quyền SHTT là một phần thưởng cho hoạt động sáng tạo và
đổi mới sản phẩm trí tuệ. Do vậy, hệ thống bảo hộ quyền SHTT theo Hiệp định TRIPS được
đánh giá tương đối tích cực ở các nước phát triển.
Về phía các nước đang phát triển, chấp nhận Hiệp định TRIPS là một sự nhượng bộ
để đổi lấy việc đưa dệt may và nông nghiệp vào vòng đàm phán Urugoay, bởi theo họ, Hiệp
định TRIPS chủ yếu bảo vệ quyền lợi của các nước phương Tây. Ở một chừng mực nhất
định, lo ngại này là hoàn toàn có cơ sở do việc chấp nhận các tiêu chuẩn cao của Hiệp định
TRIPS trước mắt sẽ tạo ra những thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của các nước nghèo. Hiệp định đã không xem xét một cách thích đáng sự khác biệt giữa hai
khối quốc gia phát triển và đang phát triển trong quá trình phát triển khoa học – công nghệ
cũng như không có các biện pháp cụ thể nhằm rút ngắn khoảng cách này. Không những thế,
Hiệp định lại chỉ chú trọng đến quyền SHTT, không đề cập đến trách nhiệm xã hội của
quyền sở hữu này, và như vậy vô hình chung sẽ làm tăng thêm khoảng cách giữa hai khối
quốc gia này. Mặc dù WTO đã lưu ý đến mức độ phát triển thấp hơn của các nước đang phát
triển, từ đó đề ra các biện pháp đối xử đặc biệt và khác biệt ( S&DT) nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho các quốc gia nghèo thực hiện các điều khoản đã cam kết, song các nước đang
phát triển đã không thể khai thác triệt để lợi thế này do tính chất không bắt buộc của các biện
pháp ưu tiên đó.
Một số khó khăn mà Hiệp định TRIPS có thể gây ra cho các nước đang phát triển thể
hiện ở những khía cạnh sau:
- Cơ chế bảo hộ quyền SHTT khắt khe tạo ra sự bất bình đẳng lớn giữa các nền kinh
tế tiên tiến với các nền kinh tế nhỏ, lạc hậu và giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh

chủ của các nước giàu trong khi hạn chế doanh nhân nước nghèo tiếp nhận những tri thức
thậm chí đã trở thành công cộng.
- Chi phí lớn cho việc thực hiện Hiệp định TRIPS: Việc bảo hộ quyền SHTT của Hiệp
định TRIPS theo những điều kiện ngặt nghèo của các nước phát triển đòi hỏi các nước đang
phát triển phải dành ra những nguồn lực không nhỏ trong tổng nguồn lực vốn đã hạn chế của
mình. Theo ước tính của WB, chi phí để thực hiện một hiệp định của WTO có thể lên tới 100
triệu USD. Đây là thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước
nghèo. Ở cấp độ vi mô, cơ chế bảo hộ quyền SHTT với tiêu chuẩn cao theo Hiệp định
TRIPS sẽ đặt các doanh nghiệp và các nhà đầu tư của các nước đang phát triển vào một môi
trường pháp lý phức tạp hơn, buộc họ phải chi nhiều hơn cho việc sử dụng cơ chế này. Để sử
dụng có hiệu quả cơ chế bảo hộ quyền SHTT, các doanh nghiệp cần phải đầu tư thời gian
học hỏi. Tất cả những điều này đã tạo thêm gánh nặng,hình thành một loại rào cản đối với nỗ
lực xâm nhập vào thị trường trong và ngoài nước của các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp mới. Như vậy, tại các nước đang phát triển, việc tăng cường bảo hộ quyền
SHTT có nguy cơ làm ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển chung của họ. Nhìn toàn cục
quá trình hình thành và nội dung đã có hiệu lực của Hiệp định TRIPS, có thể thấy rằng các
nước công nghiệp phát triển sẽ có lợi hơn trong quá trình thực thi Hiệp định TRIPS và các
nước đang phát triển trước mắt sẽ chịu một phần thua thiêt.
Tuy nhiên, vấn đề bảo hộ quyền SHTT không thể tách rời thương mại toàn cầu và quá
trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào việc tiếp cận thị
trường các nước phát triển. Bên cạnh đó, về trung và dài hạn, bảo hộ quyền SHTT chắc chắn
sẽ mang lại lợi ích cho cả những nước nghèo. Vì vậy, hầu hết các nước đang phát triển đã
dần chuyển snag thái độ chấp nhận việc bảo hộ quyền SHTT. Trên thực tế, một số nước đang
phát triển đã có thành công nhất định trong nỗ lực thực hiện các quy định của Hiệp định
TRIPS và hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực của Hiệp định, bước đầu gặt hái được
những lợi ích từ hệ thống bảo hộ SHTT.
Tác động của Hiệp định TRIPS đến vấn đề chuyển giao công nghệ ở các nước đang
phát triển
Một cách diễn đạt trực tiếp nhất về chuyển giao công nghệ xuất hiện ở Điều 66.2,
theo đó: “Những thành viên là nước phát triển phải tạo động lực để khuyến khích các doanh

công nghệ nếu các nước phát triển sẵn sàng trợ giúp kỹ thuật nhiều hơn nữa và hỗ trợ lâu dài
cho công cuộc cải tổ này.
Các nước và tổ chức tài trợ có thể cân nhắc việc thành lập các quỹ uỷ thác đặc
biệt dành cho việc đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
chuyển giao các công nghệ có ảnh hưởng một cách đặc biệt đối với việc cung cấp hàng hoá
cho công chúng và hàng hóa công cộng, và khuyến khích hoạt động nghiên cứu ở các
nước đang phát triển.
PHẦN 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
2.1 Xu hướng chuyển giao công nghệ vào các nước trên thế giới
Trước khi đi vào xu hướng chuyển giao công nghệ trên thế giới, chúng ta cùng tìm
hiểu xem hiện nay, thế giới định nghĩa như thế nào về chuyển giao công nghệ.
Chuyển giao công nghệ theo nghĩa hẹp là mốt sự thỏa thuận giữa 2 bên , bên giao và bên
nhận phối hợp các hành vi pháp lý và thực tiễn mà mục đích và kết quả là bên nhận có được
những năng lực công nghệ xác định.
Chuyển giao công nghệ (theo luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam) là chuyển
giao quyền sở hữu hay sử dụng một phần hay toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển
giao sang bên nhận.
Đối tượng chuyển giao là:
- Các máy móc, thiết bị công nghệ
- Các đối tượng sở hữu công nghiệp có hay không kèm theo máy móc, thiết bị mà pháp
luật cho phép chuyển giao
- Bí quyết, kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng: phương án công nghệ, các giải
pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, phần mềm máy tính, tài liệu thiết kế, bản vẽ,
công thức, thông số và sơ đồ kỹ thuật
- Các giải pháp hợp lý hóa sản xuất đổi mới công nghệ
- Các hình thức dịch vụ kỹ thuật hỗ trợ
Phân loại chuyển giao công nghệ:
- Theo chủ thể tham gia chuyển giao (chuyển giao trong nội bộ công ty, chuyển giao
trong nước và nước ngoài)

viên của WTO. Cũng trong báo cáo này cho thấy, có 292 chương trình, chính sách liên quan
đến chuyển giao công nghệ được giám sát thì chỉ có 31% tập trung một cách cụ thể tới LDCs
là thành viên của WTO, 16% là tới các LDCs không phải là thành viên của WTO.
Và nếu theo định nghĩa mở rộng về chuyển giao công nghệ thì từ năm 2006-2007, Úc đã chi
khoảng $300 triệu hỗ trợ các nước LDCs nhưng không cụ thể rằng khoản chi đó có liên quan
đến công nghệ hay chuyển giao công nghệ hay không. Ireland chỉ ra trong các bản báo cáo
của nước này là không có các yếu tố trực tiếp liên quan đến chuyển giao công nghệ nhưng
vẫn thuyết phục rằng các chương trình, dự án của nước này có liên quan đến các nhu cầu cơ
bản, và các chương trình hỗ trợ song phương của nước này với các nước LDCs có liên quan
đến khả năng chuyển giao công nghệ. Anh báo cáo với hội đồng TRIPs rằng các chương
trình phát triển thuốc chống dịch bệnh tại các nước đang phát triển (hiểu theo một cách rộng
cũng liên quan đến công nghệ), nhưng không chỉ ra một cách cụ thể là dự án nào là kết quả
của việc chuyển giao kỹ năng, kiến thức tới LDCs. Theo UNCTAD, (Does TRIPS Art 66.2
encourage Technology tranfer to LDCs), 2008, trong 90 chương trình, dự án hướng tới các
nước LDCs là thành viên của WTO, thì có 64 dự án được xác định là có liên quan đến chuyển
giao công nghệ; 116 chương trình, dự án cho các nước LDCs trên thế giới (là thành viên của
WTO và không là thành viên của WTO) thì có 84 dự án được xác định có liên quan đến công
nghệ; trong 292 dự án mà các nước phát triển báo cáo với hội đồng TRIPs, thì chỉ có 64 (22%)
dự án hướng tới các nước LDCs là có liên quan trực tiếp đến chuyển giao công nghệ.
Các chương trình, dự án liên quan đến chuyển giao công nghệ vào các nước LDCs
Các chương trình, dự án N
Tất cả các chương trình, dự án 292 (100%)
Hướng tới LDCs là thành viên WTO 90 (31%)
+ trong đó có liên quan đến chuyển giao
công nghệ
64 (22%)
Hướng tới LDCs là thành viên và không
là thành viên WTO
116 (40%)
+ trong đó có liên quan đến chuyển giao

• Yếu tố 1: liên quan đến 3 kênh chính để các nước đang phát triển được tiếp cận với
công nghệ bên ngoài là: thương mại, FDI (bao gồm cả cấp bằng phát minh, sáng chế),
và sự phân tán kỹ năng có tay nghề cao.
• Yếu tố 2: là khả năng thu hút hay hay năng tiếp thu công nghệ của một nước, các
chính sách của chính phủ tạo ra sự thúc đẩy trong quản lý, môi trường kinh doanh,
nguồn lực con người, khả năng về công nghệ của các công ty, doanh nghiệp, khả năng
tiếp cận tín dụng của thị trường vốn.
Hai yếu tố trên liên quan chặt chẽ lẫn nhau và tạo nên một hệ thống phản hồi tại các
nước(Vòng luân chuyển hiệu quả và không hiệu quả về chuyển giao công nghệ)
 Tại các nước đang phát triển (đặc biệt là các nước có thu nhập trung bình)
Ngân hàng thế giới World Bank cho rằng: các nước đang phát triển đặc biệt là các nước có
thu nhập trung bình đang tham gia và vòng luân chuyển hiệu quả.
Vòng luân chuyển hiệu quả được giải thích là: khi một nước được tiếp cận nhiều hơn với
công nghệ tiên tiến (thông qua việc tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) sẽ tạo ra sự tăng
trở lại trong phát triển khả năng thu hút FDI hay công nghệ nước ngoài. Khi khả năng thu
hút FDI (công nghệ nước ngoài) tăng sẽ làm tăng sự phát triển kinh tế của nước đó. Các hiệu
Tiếp thu công nghệ tiên tiến
của nước ngoài (FDI, Thương
mại)
Khả năng thu hút công nghệ
Tác động lan tỏa cho nền kinh
tế trong nước
Hiệu quả kinh tế
quả chung của kinh tế tăng lên ảnh hưởng tích cực đến FDI của 1 nước. Và bằng nhiều cách
khác nhau, các nước đang phát triển đã tồn tại quá trình khuyech tán công nghệ.
Các yếu tố chính cho xu hướng này liên quan đến:
 Sự tăng lên của nhập khẩu hàng hóa công nghệ cao và vốn
 Sự mở rộng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao được sản xuất trong nước
 Sự tăng lên trong tỷ lệ FDI so với GDP
 Tất các xu hướng tăng lên trên sẽ dẫn đến sự tăng chung trong tiếp cận công nghệ

xu hướng ảnh hưởng nhiều nhất đến 2 lĩnh vực này tại các nước đang phát triển.
Về nông nghiệp:
Brazil tham gia kí kết hiệp định TRIPs năm 1995. Tổ chức nghiên cứu nông nghiệp
brazil EMBRAPA cũng đã thực hiện nhiều chính sách mới xe liên quan đến sở hữu trí tuệ tại
nước này. EMBRAPA là một tổ chức nghiên cứu hợp tác với bộ nông nghiệp bao gồm 39
phòng/ban thực hiện nghiên cứu R&D. Năm 1996 EMBRAPA đã thêm một điều khoản mới
vế quản lý sở hữu trí tuệ IP Policy. Mục đích của việc công bố IP Policy là giúp chuyển giao
thiết bị và bằng sáng chế vế sản phẩm và công nghệ như giống cây trồng, gene, phần mềm
và đưa ra hướng dẫn cụ thể cho các nhà nghiên cứu về IPR. IP Policy cũng khuyến khích
nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ, quy trình sản xuất.
Ấn Độ Phòng phát minh sáng chế về khoa học công nghệ của nước này đã thành lập
trung tâm tạo điều kiện về bằng sáng chế PFC và ICAR Hội đồng nghiên cứu nông nghiệp
ấn độ. ICAR là một bộ phận lớn nhất và quan trọng nhất của hệ thống nghiên cứu nông
nghiệp công cộng bao gồm 45 phòng nghiên cứu, 4 vụ, 9 ban giám đoc dự án, 30 trung tâm
nghiên cứu quốc gia, 79 dự án nghiên cứu và 92 trường đại học có đao tạo về nông nghiệp.
ICAR cùng với trung tâm nghiên cứu khác và các trường đh đã góp phần phổ biến kiến
thức về công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ trong nóng nghiệp.
Về dược phẩm
Năm 2002 Zimbabwe công bố trao quyền hợp pháp cho Bộ tư pháp về quản lý cấp
bằng phát minh sáng chế. Những nhà sản xuất thuốc tại địa phương cũng được trao quyền để
sản xuất và cung cấp thuốc kháng sinh ARV và các tổ chức về sức khỏe của CP đc sử dụng
bằng sáng chế.
Năm 2003 Malaysia sử dụng điều khoản về luật nhãn hiệu cho phép nhập khẩu thuốc
kháng sinh ARV từ ấn độ đeer sử dụng trong các bệnh viện công cộng.
Năm 2004 cả Mozambique và Zambia phát hành giấy phép bắt buộc cho sản xuất
ARV tại địa phương.
Cũng trong năm này. Thủ tướng ấn độ đưa ra một nghị đinhj về quyền tác giả và sử
dụng nhãn hiện có liên quan đến ARV. Trao quyền cho bộ y tế chỉ đinhj doanh nghiệp dược
phẩm thực hiện nghị định này.
Như vậy, ta có thể thấy, tại các quốc gia đang phát triển, chúng ta có thể chưa nhìn

- Cần thực hiện đa dạng hóa các hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào
nước tiếp nhận: Đa dạng hóa các đối tượng chuyển giao công nghệ, các luồng chuyển giao
công nghệ, nội dung và phương thức chuyển giao.
- Phát huy năng lực nội sinh để nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ: Nâng cao
năng lực của các địa phương, vùng miền trong cả nước nhằm tiếp cận công nghệ chuyển
giao từ nước ngoài vào trong nước và ngay từ trong nước đối với trong nước.
- Phải lựa chọn công nghệ phù hợp trong hoạt động chuyển giao công nghệ vào nước
tiếp nhận. Công nghệ thích hợp có nghĩa là phải tính đến nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sản
xuất, kinh doanh trong nước như yếu tố dân số, tài nguyên, môi trường văn hóa – xã hội và
các hệ thống pháp lý – chính trị. Như vậy, vấn đề không chỉ nằm trong tiêu chuẩn về khoa
học, mà còn nằm trong tiêu chuẩn hành vi, về đặc điểm văn hóa – xã hội của công nghệ.
- Chuyển giao công nghệ phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội. Những nước đang
phát triển là những nước nghèo, lạc hậu, trình độ công nghệ còn thấp so với thế giới. Vì vậy
việc chuyển giao công nghệ một mặt phải đảm bảo mục tiêu trước mắt, đồng thời phải đảm
bảo mục tiêu lâu dài.
3.2.2. Giải pháp thúc đẩy chuyển gia công nghệ cho các nước đang phát triển
3.2.1. Về phía Chính phủ:
- Xây dựng và phát triển thị trường công nghệ: Để tạo lập và thúc đẩy thị trường công
nghệ phát triển, cần phải đẩy mạnh đổi mới cơ chế và chính sách kinh tế - xã hội nhằm tạo
nhu cầu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống; Tạo lập môi
trường pháp lý cho hoạt động của thị trường công nghệ; Cải thiện môi trường đầu tư nước
ngoài, thu hút công nghệ mới, phát triển các tổ chức trung gian, môi giới trên thị trường
công nghệ.
- Phát triển nguồn lực cho hoạt động chuyển giao công nghệ: Thông qua việc phát
triển nhân lực và phát triển hệ thống thông tin quốc gia về các hoạt động chuyển giao công
nghệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status