Tác động của hiệp định TPP đến nghành dệt may việt nam - Pdf 30

BẢN BÁO CÁO ĐỀ TÀI : TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP ĐẾN NGÀNH DỆT
MAY VIỆT NAM.
Nhóm 3
MỤC TIÊU CẦN ĐẠT QUA BÀI BÁO CÁO:
I/ Tổng quan về TPP?
Trả lời cho câu hỏi TPP là gì? Những tác động chính của TPP đến nền kinh tế Việt
Nam?.
II/ Tác động của TPP đến ngành dệt may Việt Nam trên góc độ phân tích của những
nhà kinh tê Việt Nam.
Như chúng ta đã biết dệt may là một ngành mà Việt Nam có lợi thế trong việc xuất khẩu
như vậy trong điều kiện kí kết thành công TPP chúng ta có thể có những dự đoán về con
số sự thay đổi của ngành dệt may?
Trên cơ sở lí luận thực tiễn thì ngành dệt may đang đứng trước những cơ hôi và thách
thức như thế nào?
Những giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam để có thể tận dụng những cơ hôi và loại
bỏ những thách thức.
III/ Một số quan điểm nhận định của nhóm về tác động của TPP đến ngành dệt may
Việt Nam.
1
PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ TPP.
A.TPP là gì?
Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, tên tiếng Anh: "Trans-
Pacific Strategic Economic Partnership Agreement", viết tắt: TPP, là một hiệp định
thương mại tự do nhiều bên, được coi như một hiệp định thương mại tự do thế hệ thứ 2
với mục tiêu thiết lập một mặt bằng tự do chung cho các nước khu vực châu Á - Thái
Bình Dương.
Phạm vi điều chỉnh của TPP rất rộng, một thoả thuận toàn diện bao quát tất cả các khía
cạnh chính của một hiệp định thương mại tự do bao gồm trao đổi hàng hoá, các quy định
về xuất xứ, rào cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của
chính quyền về vấn đề môi trường, lao động, chống tham nhũng
Hiệp định này được ký kết ngày 3-6-2005, có hiệu lực từ 28-5-2006 giữa 4 nước

Bên cạnh đó, trong số 11 đối tác đang đàm phán với Việt Nam, hiện có 7 đối tác có
quan hệ thương mại tự do với nước ta; 4 đối tác còn lại (Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Peru),
chưa thiết lập quan hệ thương mại tự do nên cơ hội chủ yếu của Việt Nam sẽ mở rộng ở 4
thị trường này.
Điều đáng nói Theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, nếu xét theo cơ cấu kinh tế của
các nước đang đàm phán với Việt Nam, họ có cơ chế kinh tế mang tính bổ sung cho Việt
Nam nhiều hơn. Vì vậy, tác động cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam có thể có nhưng
không lớn như ta lo ngại.
Cũng theo ông Trần Quốc Khánh, qua một số nghiên cứu mang tính định tính cho
thấy ngành hàng trong nước có thể gặp khó khăn đầu tiên là ô tô nếu chúng ta mở cửa thị
trường hoàn toàn cho Hoa Kỳ và Nhật Bản. Cùng với đó, ngành nông nhiệp với các mặt
hàng thịt gà , lợn, bò là ngành lợi thế của Hoa Kỳ hoặc mặt hàng đường là thế mạnh của
Australia thì các ngành hàng tương ứng của ta cũng có thể gặp khó khăn.
Thứ trưởng Trần Quốc Khánh nhấn mạnh Hiệp định TPP rất rộng, vì thế các vấn đề
được đề cập không chỉ gói gọn trong phạm vi biên giới mà còn phải tính toán cả các vấn
đề sau biên giới. Điều quan trọng là cần đưa ra chínhsách minh bạch và điều này sẽ mang
lại lợi ích vô cùng to lớn cho doanh nghiệp trong nước.
PHẦN II. TÁC ĐỘNG CỦA TPP ĐẾN NGÀNH DỆT MAY TRÊN QUAN ĐIỂM
CỦA NHỮNG NHÀ KINH TẾ.
3
A. SO SÁNH NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM CHỊU VÀ KHÔNG CHỊU TÁC
ĐỘNG CỦA TPP
1. Ngành dệt may Việt Nam không chịu tác động của TPP
1.1. Tình hình tăng trưởng chung
Trong Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/04/2007 về phê
duyệt “Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn
2007 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, ngành dệt may được lựa chọn là ngành mũi nhọn
trong xuất khẩu của Việt Nam, bởi vậy Nhà nước cũng đã có những chính sách ưu tiên để
phát triển của ngành dệt may. Bên cạnh đó, từ tháng 3 năm 2007 Việt Nam bắt đầu thực
hiện các cam kết với WTO.Theo Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam, trong toàn

ngay trên sân nhà. Như vậy trên thị trường khu vực ASEAN, đặc biệt là thị trường nội
địa, hàng dệt may Việt Nam đã lâm vào tình thế “bỏ trống sân nhà”.
1.2. Chuỗi giá trị
Tuy ngành dệt may là một trong những ngành xuất khẩu đi đầu của Việt Nam, nhưng nếu
xét về chuỗi giá trị của ngành thì vẫn còn nhiều hạn chế. Chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt
may bao gồm các khâu: sản xuất nguyên liệu; sản xuất sản phẩm cuối cùng, nghiên cứu
thiết kế, marketing và phân phối, trong đó khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng là khâu tạo
ra giá trị gia tăng thấp nhất (chỉ chiếm 5 – 10% tỷ suất lợi nhuận). Nhưng hiện nay theo
thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) ngành dệt may trong nước có đến 70%
doanh nghiệp sản xuất theo hình thức gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài, tức là
chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng.
Về khâu cung ứng nguyên phụ liệu: theo bảng số liệu ngành dệt may của Việt Nam
đang phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Tính trong năm 2013, ước đạt
nhập khẩu bông là 590 nghìn tấn, trị giá 1189 triệu USD; nhập khẩu xơ, sợi nguyên liệu
đạt 692 nghìn tấn, trị giá 1514 triệu USD; nhập khẩu vải đạt 8405 triệu USD. Các nhóm
hàng này chủ yếu được nhập từ thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan, Hoa Kỳ,
ƒn Độ…Điều này cho thấy các doanh nghiệp ngành dệt may chưa thực sự chủ động được
về nguồn cung ứng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất, làm giảm khả năng cạnh
tranh trên thị trường.
Về khâu nghiên cứu thiết kế: đây là khâu sẽ cho lợi nhuận cao kéo theo đó nâng giá trị
gia tăng trong các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên khâu nghiên cứu
và thiết kế sản phẩm lại là khâu yếu nhất của các doanh nghiệp Việt Nam. Đa phần các
công đoạn thiết kế cho các sản phẩm may ở của nước ta được thực hiện tại những nước có
ngành công nghiệp thời trang phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Hồng Kông…sau đó, các
mẫu thiết kế được chuyển về Việt Nam, các công ty may của nước ta chỉ gia công theo
đúng mẫu mã theo đơn đặt hàng. Mới chỉ có một số doanh nghiệp đang cố gắng xây dựng
và đưa thương hiệu của mình vào thị trường như may Việt Tiến với sản phẩm San Sciaro
và Manhattan, công ty thời trang Việt với thương hiệu Nino max, Công ty TNHH May
Thêu Giày An Phước…
5

2013 chiếm 15,2% toàn ngành. Tuy nhiên, hàng năm EU nhập khẩu hơn 250 tỷ USD hàng
6
dệt may, trong khi đó Việt Nam mới chỉ xuất khẩu 2,4 – 2,5 tỷ USD, do đó thị phần dệt
may Việt Nam tại thị trường này còn thấp.
Nhật Bản
Việt Nam nằm trong top 10 các nhà cung cấp hàng dệt may lớn nhất vào thị trường Nhật
Bản. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này năm 2013 chiếm 13,3% toàn ngành.
Thị trường nội địa
Thị phần dệt may sản xuất trong nước chiếm khoảng 70% tổng mức tiêu thụ tại thị trường
nội địa, 30% còn lại là hàng dệt may nước ngoài, trong đó 20% hàng dệt may Trung Quốc
dưới dạng tiểu ngạch. Theo nghiên cứu của Niesel cho thấy, có đến 90% người tiêu dùng
được hỏi ở TP Hồ Chí Minh và 83% ở Hà Nội cho biết chọ có thể hoặc chắc chắn mua
hàng Việt Nam nhiều hơn. Có thể thấy xu hướng sử dụng hàng Việt Nam đang tăng lên.
Bên cạnh đó, mặc dù triển vọng phát triển thị trường may mặc ở khu vực nông thôn là rất
lớn nhưng việc triển khai hệ thống phân phối tại khu vực này còn gặp nhiều khó khăn do
nhu cầu tiêu dùng chưa cao, các kênh phân phối nhỏ khi giao hàng còn nợ đọng vốn, nên
lượng vốn lưu động cần rất lớn.
2. Ngành dệt may chịu sự tác động của TPP
Tầm quan trọng của các nước TPP và Mỹ
• 40% xuất khẩu hàng hóa Việt Nam đến 11 quốc gia TPP.
• Dệt may và giày dép chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các nước TPP.
• 20% xuất khẩu toàn cầu là hàng hóa vào Hoa Kỳ.
• Tỷ trọng lớn (72%) hàng may xuất khẩu sang các nước TPP, gần 50% dệt may.
Ngày 13/11/2010, Việt Nam tuyên bố tham gia vào TPP với tư cách thành viên đầy đủ.
Việc tham gia vào hiệp định này tác động như thế nào đến ngành dệt may:
2.1. Thuế xuất khẩu
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, thuế suất đối với các thị trường trọng điểm mà Việt
Nam xuất khẩu mặt hàng dệt may đang quá cao. Cụ thể, trong thị trường xuất khẩu dệt
may của Việt Nam, Hoa Kỳ chiếm 50%, châu Âu chiếm 17%, Nhật Bản 12%, Hàn Quốc
6%, còn lại 2% là các thị trường khác. Trong đó, thị trường Hoa Kỳ phải chịu thuế suất

nữa nếu lỡ nhịp với việc phát triển công nghiệp phụ trợ nói chung và công nghiệp phụ trợ
cho ngành may của mình. TPP cũng là áp lực để chúng ta phải “thoát Trung”, vì lợi ích
của chính mình.
2.3. Chuỗi cung ứng là trọng tâm
TPP nếu được ký sẽ là cú hích mới cho phát triển, cả số lượng và chất lượng. Số lượng ở
đây hàm ý quy mô sản xuất và xuất khẩu, chất lượng là nói tới sự hoàn thiện hơn trong hệ
thống sản xuất kinh doanh dệt may Việt Nam, cải thiện giá trị gia tăng của sản phẩm dệt
may Việt Nam.
Dệt may Việt Nam muốn tận dụng hiệu quả cao nhất Hiệp định TPP thì phải hình thành
chuỗi cung ứng bên trong, có sự liên kết hữu cơ giữa các khâu. Một chuỗi cung ứng hoàn
chỉnh từ thiết kế - nguyên phụ liệu - may - phân phối phải được hình thành trong cộng
đồng các thành viên tham gia ký kết Hiệp định TPP. Các DN cũng không nên tận dụng
TPP như một cứu cánh để phát triển trong ngắn hạn, mà quan trọng hơn là cần tận dụng
tốt cơ hội này để gia tăng năng lực cạnh tranh, xây dựng chiến lược phát triển bền vững.
Thực tế cho thấy trong thương mại toàn cầu, luôn có những thỏa thuận thương mại mới
được hình thành và những thuận lợi ban đầu sẽ không tồn tại mãi.
Hiện nay, cơ hội lớn từ TPP, cũng như FTA với EU, Hàn Quốc khiến nhiều doanh
nghiệp dệt may mạnh dạn đầu tư và mở rộng các nhà máy. Đặc biệt, các dự án mở rộng
năng lực sản xuất tự chủ từ khâu kéo sợi, dệt vải, nhuộm như hướng đi lâu dài và bền
vững trong chiến lược đưa ngành dệt may Việt Nam vào sâu hơn vào chuỗi giá trị công
nghiệp dệt may thế giới. Điển hình, cuối năm 2013, An Phước đã đầu tư 450.000USD cho
dây chuyền sản xuất đồ lót sau khi mua lại nhà máy sản xuất của hai thương hiệu đồ lót
Anamai và Bonjour của một DN trong nước. Cuối năm 2013, Công ty CP May Sài Gòn 2
đã đầu tư gần 5 tỷ đồng để cải tiến dây chuyền, nâng cao năng suất.
2.4. Phát triển đồng bộ hạ tầng
Hiệp hội chúng tôi mong muốn rằng, TPP là cơ hội cho phát triển, cho nên cần thiết có
quy hoạch phát triển dệt may trong nước cả về địa lý và nguồn lực lao động (vì ngành sử
dụng nhiều lao động). Cần công khai và có cam kết của các địa phương để tận dụng cơ
hội từ Hiệp định TPP. Khi quy mô sản xuất tăng, sự phân bố các khu vực nhà máy sản
xuất cũng tăng, đòi hỏi hệ thống hạ tầng nối các khu trung tâm thiết kế với khu vực sản

THÁNH CÔNG TPP.
1.Cơ hội cho thị trường dệt may Việt Nam khi đàm phán thành công hiệp định TPP
Việc gia nhập Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là cơ hội lớn
cho ngành thương mại Việt Nam, trong đó các doanh nghiệp dệt may sẽ có điều kiện thúc
đẩy xuất khẩu và gỡ bỏ hàng rào thuế vốn rất nặng nề như hiện nay. Ngoài ra, TPP còn
mang đến cú huých lớn và mang đến động lực quan trọng cho sự phát triển của dệt may
Việt Nam, góp phần đưa dệt may Việt Nam lên tầm cao hơn trong tương lai.
Ngành dệt may Việt Nam có thị trường xuất khẩu lớn là Nhật Bản và Hoa Kì đây cũng là
2 nước thành viên của TPP. Trong năm 2013 tuy các nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may
trên thế giới giảm nhưng nước ta vẫn xuất khẩu được 9,2% vào Hoa Kì và 19,3% vào
Nhật Bản. Những tín hiệu tăng trưởng khả quan nêu trên đã khẳng định vị thế cạnh tranh
11
của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới, đặc biệt là Hoa Kì và Nhật Bản….
Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may nước ta sẽ tiếp tục gia tăng vào hai nước thành
viên TPP này sau khi TPP được kí kết và có hiệu lực. Phó chủ tịch hiệp hội dệt may Việt
Nam(Vitas) người trực tiếp tham gia đoàn đàm phán của Việt Nam cho biết : “ Hiệp định
TPP nếu được kí kết sẽ là cú hích mới cho các doanh nghiệp dệt may phát triển cả về số
lượng lẫn chất lượng. Số lượng ở đây hàm ý quy mô sản xuất và xuất khẩu, còn chất
lượng là sự hoàn thiện hơn trong hệ thống sản xuất kinh doanh, cải thiện giá trị gia tăng
của sản phẩm dệt may Việt Nam”.
Khi hiệp định TPP có hiệu lực thì về cơ bản, các loại hàng hóa xuất, nhập khẩu của các
nước thành viên TPP sẽ được ưu đãi thuế quan, trong dài hạn thuế quan có khả năng về
mức 0%.Hiện nay, mức thuế suất trung bình của 1000 dòng thuế nhập khẩu sản phẩm dệt
may của Việt Nam vào Mỹ ở mức 17%, trong đó nhiều dòng sản phẩm phải chịu mức
thuế cao trên 30% nếu được giảm hoặc miễn thuế 0% thì dệt may Việt Nam sẽ có lợi thế
cạnh tranh rất lớn trước các nước xuất khẩu khác trong khu vực như Trung Quốc, Băng-
la-đét…, những nước xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới nhưng không phải là thành
viên TPP. Theo tính toán của các chuyên gia, nếu gia nhập thị trường TPP ngành dệt may
Việt Nam sẽ tăng gấp ba kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ, tức từ 8,6 tỷ USD năm
2013 sẽ tăng lên khoảng hơn 20 tỷ USD trước năm 2020.

Doanh Nghiệp dệt may Việt Nam muốn tận dụng hiệu quả cao nhất TPP thì phải hình
thành chuỗi cung ứng bên trong, có sự liên kết hữu cơ giữa các khâu.
Tính trong năm 2013, ước đạt nhập khẩu bông là 590 nghìn tấn, trị giá 1189 triệu USD;
nhập khẩu xơ, sợi nguyên liệu đạt 692 nghìn tấn, trị giá 1514 triệu USD; Nhập khẩu vải
đạt 8405 triệu USD. Các nhóm hàng này chủ yếu được nhập từ thị trường Trung Quốc,
Hàn Quốc và Đài Loan, Hoa Kỳ, ƒn Độ…Điều này cho thấy các doanh nghiệp ngành dệt
may chưa thực sự chủ động được về nguồn cung ứng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản
xuất, làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường
 Để đưa sản phẩm của Doanh Nghiệp vào thị trường các nước thành viên TPP
thì Doanh nghiệp phải tìm nguồn cung ứng nguyên, phụ liệu trong nước, từ các
nước trong TPP cũng như tìm nguồn liên kết chuỗi cung ứng.
Nếu cứ để tình trạng bị động nguyên liệu thì ngành dệt may sẽ dần đuối sức cạnh
tranh. Trong 5.982 doanh nghiệp (DN) dệt may, tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ
liệu chỉ chiếm 0,7%; xơ sợi tổng hợp là 0,1%; bông 0,2%; sợi chỉ 4,3%; nhuộm hoàn tất
3%. Tình trạng bị động về nguyên liệu khiến DN dệt may Việt Nam đuối sức cạnh tranh
trên thị trường thế giới.
2.2. Nguyên liệu dệt may và môi trường :
Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có lợi thế rất lớn về diện tích trồng cây lanh hoặc cây
bông nhưng lại chưa khai thác được do sự thiếu quan tâm của Nhà nước khi quy hoạch
13
đất đai cũng như các chính sách phát triển nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp phục vụ
cho công nghiệp.
 Cần có sự liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân trong việc hình
thành vùng nguyên liệu trong nước giúp ổn định đầu vào cho nhà sản xuất và
đồng thời ổn định đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp liên quan.
2.3. Quy tắc xuất xứ có thể hạn chế tác động tích cực tiềm năng ở mức đáng kể
- Các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nguyên tắc xuất xứ tính từ sợi (yarn-forward), tức
sợi để dệt phải được sản xuất tại Việt Nam hoặc các nước thành viên TPP từ bông nội
vùng, nếu nguyê tắc này được áp dụng thì việc nhập khẩu nguyên liệu sẽ ảnh hưởng rất
lớn tới lợi ích của các doanh nghiệp.

điện, cấp nước, xử lý nước thải, đảm bảo các yêu cầu về môi trường và lao động có khả
năng đào tạo.
-Phối hợp với các địa phương đầu tư phát triển cây bông, trong đó chú trọng xây dựng
vùng bông có tưới, từng bước đáp ứng nhu cầu bông cho ngành dệt, sợi.
1.2.Giải pháp phát triển nguồn nhân lực.
- Mở các lớp đào tạo cán bộ quản lý kinh tế - kỹ thuật, cán bộ pháp chế, cán bộ bán hàng
15
chuyên ngành Dệt May, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề của các dự án dệt,
nhuộm trọng điểm.
- Liên kết với các tổ chức quốc tế để học hỏi kinh nghiệm.
- Củng cố, mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt may.
1.3. Gỉai pháp về khoa học công nghệ
-Nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới để tạo ra các sản phẩm dệt
có tính năng khác biệt, triển khai các chương trình sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng
lượng, áp dụng các phần mềm trong thiết kế, quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm Dệt
May.
-Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm dệt may phù hợp và hài hòa
với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thông lệ quốc tế. Hỗ trợ nâng cấp các
trung tâm giám định, kiểm tra chất lượng sản phẩm Dệt May, hỗ trợ cho các doanh nghiệp
Dệt May trong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹ thuật.
-Tổ chức lại các Viện nghiên cứu chuyên ngành dệt may theo hướng tự chủ, tự chịu trách
nhiệm.
-Xây dựng phòng thí nghiệm sinh thái Dệt May, cơ sở dữ liệu về ngành Dệt May, nâng
cao chất lượng của trang thông tin điện tử.
-Nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích thúc đẩy chuyển giao công nghệ
trong ngành Dệt May.
1.4 Giải pháp về thị trường.
-Tập trung mọi khả năng và cơ hội đàm phán mở rộng thị trường Dệt May trên thị trường
quốc tế.
-Cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu theo

tuyên bố tham gia như thành viên đầy đủ của TPP. Như vậy, TPP là một hiệp định thương
mai quốc tế có tầm quan trọng hơn bất cứ một hiệp định thương mại nào mà Việt Nam đã
từng kí kết. Đặc biệt trong 3 bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay: 1. Nền kinh tế
Việt Nam đang nhiều bất ổn cần có sự cải cách thể chế hợp lí, tham gia TPP sẽ thúc đẩy
nhanh quá trình cải cách tốt. 2. Ngành dệt may Việt Nam là ngành xuất khẩu mũi nhọn
của nước ta. 3. Việt Nam đang ngày càng khẳng định mình là một nước có nền kinh tế thị
trường.
1. Trước tình hình hiện nay , khi kí kết thành công TPP với những mục tiêu đã đặt ra, cái
lợi cũng có mà cái hại cũng có nhưng với điều kiện trong các nước gia nhập TPP thì chỉ
17
có Việt Nam là nước đang phát triển nên sẽ có những ưu đãi đặc biệt cho Việt Nam để có
thể vừa hôi nhập vừa có cơ hội mà cũng đảm bảo cho quá trình phát triển nền kinh tế.
Tóm lại, cơ hội để ngành dệt may Việt Nam có những cải cách tiến bộ để thay dổi bộ mặt
cho ngành dệt may trở thành một ngành có chất lượng có uy tín và có chất lượng công
nghệ và trí tuệ cao, để có thể cạnh tranh với không những hàng quốc tế trên thế giới mà
còn ngay trên thị trường nôi địa, giúp đẩy mạnh kinh tế thay đổi bộ mặt Việt Nam trên
trường quốc tế.
Cơ hội:
- Việt Nam là nhà xuất khẩu ngành dệt may lớn thứ ba vào thị trường Mỹ.
- Các thành viên Mexico và Peru người có FTA với Mỹ ủng hộ quy tắc xuất xứ hạn chế
để ngăn chặn cạnh tranh từ Malaysia và Việt Nam.
- TPP có thể chuyển hướng thương mại mạnh vì thay thế một phần xuất khẩu từ Trung
Quốc.
2. Như vậy đứng trước tình hình cơ hội cho Việt Nam có thể chuyển hướng thương mại
mạnh thì những gì đang kéo Việt Nam vẫn sẽ chững lại và lại bỏ lỡ những cơ hội phát
triển như những lần trước là một vấn đề cần cải thiện ngay để khi đàm phán thành công
TPP, Việt Nam có thể tự tin đáp ứng mọi đơn hàng:
- Cấu trúc ngành có vấn đề : Khiếm khuyết chuỗi cung ứng dẫn đến phụ thuộc quá nhiều
vào nguyên liệu nhập khẩu.
- Tăng cường chuỗi cung ứng trong nước đòi hỏi dệt và nhuộm, vốn lớn và có vấn đề môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status