Tác động của hiệp định song phương Việt Nhật đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật - Pdf 18

Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế

“ tác động của hiệp định song phương
Việt- Nhật đến hoạt động xuất khẩu
tôm của Việt Nam sang Nhật”
1
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA
HIỆP ĐỊNH SONG PHƯƠNG VIỆT - NHẬT ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU TÔM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN.
1.1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài.
Năm 2009 là một năm “đáng nhớ” đối với ngành tôm Việt Nam. Khối
lượng xuất khẩu đạt gần 210 nghìn tấn với kim ngạch đạt trên 1,67 tỷ USD, so
với năm 2008, tăng 9,4% về khối lượng và 3% về giá trị. Trong các thị trường
mà Việt Nam xuất khẩu sang thì Nhật Bản vẫn duy trì được vị trí nhập khẩu
tôm số một nhưng năm 2009 lại là một năm “khá buồn” đối với nhiều nhà
xuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật. Sau quý I, xuất khẩu tôm sang thị trường
này liên tục sụt giảm cho đến hết tháng 11 dẫn tới xuất khẩu cả năm giảm 3,3
% về khối lượng. Nếu cứ giữ nguyên tình trạng trên, tôm Việt nam khó giữ
vững vị trí số một tại thị trường Nhật Bản. Vì vậy cần tìm ra các giải pháp hữu
hiệu để đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang Nhật để giữ vững và củng cố vị trí của
tôm Việt Nam trên thị trường này.
Ngày nay, toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Trong tiến trình
đó, Việt Nam đã chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc ký kết
các hiệp định song phương và đa phương nhằm tranh thủ những lợi ích mà
toàn cầu hoá mang lại. Gần đây nhất, Việt Nam đã ký kết thành công hiệp
định song phương với Nhật Bản. Hiệp định được ký kết đã mở ra nhiều cơ hội
cho tôm Việt Nam xuất khẩu sang Nhật nhờ việc giảm thuế nhập khẩu xuống
xấp xỉ 0%. Đồng thời, hiệp định cũng gây ra nhiều khó khăn và thách thức cho

nghiên cứu đó là tìm ra một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu tôm gắn liền với
các điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sang
Nhật Bản và những tác động do hiệp định song phương mang lại nhằm tìm ra
hướng đi dung đắn để phát triển xuất khẩu tôm cũng như xuất khẩu thuỷ sản.
3
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
Để có thể đánh giá tác động của hiệp định một cách chính xác, khách
quan, số liệu có liên quan đến hoạt động xuất khẩu tôm như kim ngạch xuất
khẩu, giá cả, cơ cấu các mặt hàng,…. được thu thập trong khoảng thời gian từ
năm 2005 đến nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
của các doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2015.
1.5. Ý nghĩa nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu tôm
của các doanh nghiệp Việt Nam. Từ việc đánh giá các cơ hội cũng như thách
thức mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi hiệp định chính thức có hiệu lực
nhằm đưa ra các đề xuất thúc đẩy xuất khẩu tôm trong thời gian tới, khắc phục
những hạn chế còn tồn tại.
1.6. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, danh mục bảng biểu, danh mục từ
viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo,… đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương I. Tổng quan đề tài nghiên cứu tác động hiệp định song
phương Việt-Nhật đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Chương II. Một số lý luận về xuất khẩu và Hiệp định song phương
Việt-Nhật.
Chương III. Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực
trạng tác động của hiệp định đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sang
thị trường Nhật Bản.

thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu trong nước. Nếu như vậy thì quy mô xuất
khẩu thấp và tăng trưởng chậm chạp. Hai là, coi thị trường thế giới là hướng
quan trọng để tổ chức sản xuất. Điều này có tác động tích cực đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Trong nền kinh tế, đầu vào của ngành này là đầu ra của ngành sản xuất
khác. Quan hệ kinh tế ở đây là tái sản xuất liên ngành, tức là quy mô, cơ cấu,
hoạt động phát triển của ngành sản xuất này phụ thuộc vào các biến số trong
5
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
sự phát triển của ngành sản xuất khác. Do đó khi ngành này mở rộng, đẩy
mạnh xuất khẩu sản phẩm thì cũng đồng nghĩa với việc ngành sản xuất
nguyên liệu của ngành đó sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho
sản xuất phát riển và ổn định.
- Xuất khẩu tạo tiền đề kinh tế kỹ thuật, nhằm nâng cao năng lực sản
xuất trong nước hay nói cách khác tạo thêm vốn, kỹ thuật công nghệ tiên tiến
phục vụ cho hiện đại hoá ngành công nghiệp của đất nước.
Thứ ba, xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tạo
thu nhập, tăng mức sống và thoả mãn nhu cầu của người. Tác động của xuất
khẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt. Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu
hút hàng triệu người lao động vào làm việc. Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo
nguồn vốn để nhập khẩu các vật phẩm tiêu dùng thiết yếu mà trong nước chưa
sản xuất hoặc sản xuất chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân.
Thứ tư, xuất khẩu là điều kiện thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại tác động qua lại và phụ
thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại và tạo
điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu thúc đẩy
quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải…giữa các quốc gia. Khi đó, các quan hệ kinh
tế đối ngoại này lại là điều kiện để mở rộng cho xuất khẩu.

2.2. Hiệp định song phương Việt- Nhật và hoạt động xuất khẩu tôm
của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
2.2.1. Khái niệm về hiệp định đối tác kinh tế.
Trước khi đi đến khái niệm hiệp định song phương, chúng em xin đưa
ra hai khái niệm có liên quan là hội nhập kinh tế và hiệp định thương mại tự
do.
Theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến nhất trên thế giới, hội nhập
kinh tế là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau. Hội nhập kinh tế hiểu theo
một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế
với nhau. Nói một cách rõ hơn hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực
7
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
hiện đồng thời hai việc: một mặt gắn nèn kinh tế và thị trường từng nước với
thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa, thúc
đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân, mặt khác gia nhập và góp phần xây dưng
các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
Hội nhập kinh tế có thể là song phương – tức là giữa hai nền kinh tế
hoặc khu vực – tức là giữa một nhóm nền kinh tế hoặc đa phương – tức là có
quy mô toàn thế giới, giống như những gì mà tổ chức thương mại thế giới
đang hướng tới.
Hiệp định thương mại tự do là hiệp định theo đó các nước ký cam kết
bãi bỏ thuế quan cho tất cả hoặc hầu như tất cả hàng hóa của nhau. Có những
dòng thuế sẽ được bãi bỏ chậm hơn và người ta thường đưa các dòng thuế này
vào “ danh sách nhạy cảm”. Chỉ một số ít dòng thuế sẽ không được bãi bỏ và
được liệt kê trong “danh sách loại trừ”. Quy tắc xuất sứ là một phần quan
trọng của các hiệp định thương mại tự do, nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóa
được sản xuất toàn bộ hoặc tối thiểu ở những tỷ lệ nhất định tại các nước
thành viên hiệp định mới được buôn bán tự do nhằm tránh tình trạng nước
không tham gia hiệp định sử dụng cách tái xuất hoặc chỉ lắp ráp tại một nước

chương trình Hội nghị cấp cao Đông Á, hai bên đã thành lập ủy ban chung đẻ
bàn về việc thành lập hiệp định đối tác kinh tế giữa hai nước.
Tháng 2/2006: Ủy ban nói trên họp phiên đầu tại Hà Nội.
Tháng 4/2006: Ủy ban trên họp phiên thứ hai tại Tokyo.
Tháng 1/2007: đàm phán chính thức lần tứ nhất, bắt đầu đàm phán về
nội dung hiệp định.
Tháng 9/2008: đàm phán chính thức lần thứ 9 , kết thúc thỏa thuận
nguyên tắc.
Ngày 25/12/2008: Lễ ký kết hiệp định diễn ra tại Tokyo, giữa Bộ
trưởng Bộ Công nghiệp và Thương mại Việt Nam Vũ Huy Hoàng và Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản Nakasone Hirofumi.
Hiệp định đã ký kết nhưng còn phải chờ Quốc hội hai nước thông qua
mới có hiệu lực. Ngày 13/8/2009 trong buổi hội thảo của doanh nghiệp hai
nước Việt Nam và Nhật Bản về Hiệp định đối tác kinh tế giữa hai nước
(VJEPA) diễn ra tại TPHCM do Ban Xúc tiến Đầu tư – Hiệp hội Doanh
nghiệp Nhật Bản và Jetro TPHCM với sự hợp tác của Bộ Công Thương, Bộ
9
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
Tài chính Việt Nam tổ chức, các chuyên gia của Bộ Công Thương và Bộ Tài
chính Việt Nam trình bày các nội dung: “Việc giảm thuế nhập khẩu của Việt
Nam và Nhật Bản”, “Thủ tục cấp giấy Chứng nhận nguồn gốc xuất xứ”; “Quy
tắc xuất xứ trong Hiệp định giữa Việt Nam- Nhật Bản về đối tác kinh tế”. Kết
quả của buổi hội thảo là Việt Nam và Nhật Bản sẽ chính thức thực hiện việc
giảm thuế theo Hiệp định đối tác kinh tế giữa hai nước (VJEPA) vào đầu
tháng 10/2009.
2.2.3. Nội dung cơ bản của hiệp định song phương Việt – Nhật.
Theo cam kết của phía Nhật Bản, thuế suất bình quân đánh vào hàng
hóa của Việt Nam nhập khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8 % vào năm
2018. Nhật Bản cam kết sẽ giảm thuế suất cho 95% tổng số dòng thuế, trong

tivi màu sẽ được giảm còn 40% trong vòng 8 năm. Thuế suất nhập khẩu từ
Nhật Bản vào đối với các linh kiện sản xuất ôtô như hộp số sẽ được giảm
xuống còn 10% đến 20% trong vòng 10 năm, động cơ và các linh kiện sản
xuất động cơ ôtô sẽ được giảm xuống còn 3% đến 12% trong vòng 15 năm.
Các mặt hàng thếp tấm cũng là đối tượng được giảm thuế suất nhập khẩu,
xuống còn 0% đến 15% trong vòng 10 năm.
Một nội dung khác trong hiệp định là việc Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam
xây dựng và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Trên thực tế nội dung này
đã được hai bên triển khai. Điều đó giúp cho hàng hóa Việt Nam không chỉ là
các sản phẩm gia công mà còn là hàng hóa có chất lượng cao để xuất khẩu
sang thị trường Nhật Bản và các nước khác.
Tuy nhiên, vì đây là một hiệp định đối tác kinh tế toàn diện chứ không
đơn thuần là một hiệp định thương mại tự do nên ngoài việc hàng hóa còn có
dịch vụ cũng sẽ được tự do hóa. Đầu tư của nước này vào nước kia cũng sẽ
được bảo hộ và còn nhiều nội dung hợp tác kinh tế khác.
2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu ở Việt Nam và trên
thế giới
Trước khi chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài này đã có rất nhiều đề
tài khoa học, công trình nghiên cứu và các bài viết có liên quan đến xuất khẩu
thuỷ sản Việt Nam ra thị trường thế giới. Có thể kể đến các công trình như:
11
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
- Đề án “Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thuỷ sản xuất
khẩu của Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ/ PGS-TS:Võ Thanh
Thu chủ biên…
- Đề án “ Một số giải pháp vượt rào cản kỹ thuật và dịch tễ trong xuất
khẩu hàng thuỷ sản nước ta vào thị trường Hoa Kỳ”. Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ/ Doãn Kế Bôn chủ nhiệm, Nguyễn Đức Khiên - trường Đại học
Thương Mại (2006).

và sự thay đổi của những nhân tố tác động đến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.
Đặc biệt là những tác động của hiệp định song phương Việt - Nhật vừa mới
được ký kết giữa hai nước đến hoạt động xuất khẩu tôm sang thị trường Nhật
Bản. Vì vậy đề tài nghiên cứu “ Tác động của hiệp định song phương Việt -
Nhật đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật ” mà chúng em
đang nghiên cứu đảm bảo tính thực tiễn, tính thời sự và không trùng lặp so với
các đề tài trước đó.
2.4. Kinh nghiệm xuất khẩu tôm của một số nước khác vào thị
trường Nhật Bản.
Các nước xuất khẩu tôm hàng đầu vào Nhật Bản là Inđônêsia, Ấn Độ,
Trung Quốc, Thái Lan… Các nước trên đều tập trung vào một mặt hàng là
tôm nên nhìn chung có nhiều điểm tương đồng. Vậy bí quyết gì khiến cho các
nước này có thể giành được vị trí cao trong xuất khẩu tôm vào thị trường Nhật
Bản so với những đối thủ khác? Đó chính là những kinh nghiệm thâm nhập và
phát triển thị trường của riêng từng nước. Dưới đây là kinh nghiệm của ba
nước: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia mà Việt Nam cần nghiên cứu và học
hỏi.
2.4.1. Trung Quốc.
Hiện nay Trung Quốc đứng thứ 5 trong danh sách các nước xuất khẩu
tôm vào Nhật Bản với kim ngạch 15 triệu JPY. Trung Quốc cũng mới chỉ
hướng xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật Bản trong vài năm gần đây nhưng đã đạt
được những thắng lợi nhất định nhờ áp dụng hàng loạt các chính sách và biện
pháp phát triển sản xuất cũng như thâm nhập và mở rộng thị trường.
Về sản xuất, hàng năm chính phủ Trung Quốc đã bỏ ra một khoản tiền
khá lớn để đầu tư cho ngành đánh bắt và nuôi tôm. Các cơ sở sản xuất, lai tạo
13
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
giống của Trung Quốc đã lai tạo thành công nhiều giống tôm có năng suất cao,
chất lượng tốt, có khả năng thoả mãn cao nhu cầu của không chỉ thị trường

xuất khẩu trực tiếp, liên doanh liên kết với các công ty bản xứ, bán hàng trên
mạng… Hơn thế nữa, một số tập đoàn lớn của Inđônêsia đã có văn phòng đại
diện tại Nhật Bản để giúp họ tuyên truyền, quảng bá về sản phẩm của công ty
đến với người tiêu dùng Nhật Bản. Đồng thời, các công ty lại thu thập các
thông tin về nhu cầu thị trường, ý kiến phản hồi của khách hàng để có những
chỉnh sửa cho phù hợp. Đó cũng là những cách làm để các doanh nghiệp Việt
Nam học tập và áp dụng.
2.4.3. Thái Lan.
Thái Lan hiện nay là nước xuất khẩu tôm lớn thứ tư vào Nhật Bản. Các
sản phẩm tôm của Thái Lan xuất sang Nhật bao gồm cả những sản phẩm cao
cấp và những sản phẩm cấp trung bình phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mọi
tầng lớp dân cư. Sự thành công của các doanh nghiệp Thái Lan trước hết xuất
phát từ chỗ các doanh nghiệp đã tiến hành phân đoạn thị trường Nhật Bản một
cách chính xác. Do việc nghiên cứu và tìm hiểu kĩ về nhu cầu, thị hiếu tiêu
dùng mặt hàng tôm trên thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm
của Thái Lan đã phát hiện ra rằng bên cạnh những sản phẩm có chất lượng cao
phục vụ cho những đối tượng có thu nhập cao, thị trường cũng rất cần những
sản phẩm tôm đã chế biến các sản phẩm cấp trung bình để đáp ứng nhu cầu
của những đối tượng có thu nhập trung bình và thấp. Chính vì vậy họ đã sản
xuất các mặt hàng tôm đã qua chế biến, giá cả không cao lắm, phù hợp với thu
nhập của tầng lớp này.
Một điều nữa là do ý thức rõ thị hiếu của người Nhật Bản là ưa chuộng
những sản phẩm đa dạng, mẫu mã phong phú nên các doanh nghiệp xuất khẩu
Thái Lan đã không ngừng thay đổi mẫu mã bao bì sản phẩm. Nhờ vậy sản
phẩm tôm của Thái Lan dần có chỗ đứng trên thị trường Nhật Bản được coi là
thị trường rất khó tính.
15
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
2.4.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu.
Có thể chia ra hai loại tài liệu là tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Do đó
cũng có hai phương pháp thu thập dữ liệu là thu thập dữ liệu sơ cấp và thu
thập dữ liệu thứ cấp.
a. Thu thập dữ liệu sơ cấp.
Là cách thu thập tài liệu ban đầu mà người nghiên cứu tự thu thập thông
qua phỏng vấn trực tiếp hoặc các nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được
xử lý. Người nghiên cứu cần phải tổ chức, thiết lập phương pháp để ghi chép,
thu thập số liệu.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bao gồm: lập phiếu điều tra và
phỏng vấn trực tiếp. Phương pháp lập phiếu điều tra là một bảng câu hỏi và
các câu trả lời được sắp xếp theo một logic nhất định. Bảng câu hỏi gồm dạng
mở, đóng hoặc kết hợp.
Tuy nhiên, ở đây chúng tôi sử dụng hầu hết là phương pháp phỏng vấn
trực tiếp. Ở đây chúng tôi tiến hành xin ý kiến các chuyên gia, cụ thể ở đây là
lấy ý kiến của các nhà lãnh đạo một số doanh nghiệp xuất khẩu tôm, của
người quản lý các bộ, ban ngành về xuất khẩu thuỷ sản, các chuyên viên của
cục kiểm tra VSATTP, và của chính những người dân tham gia nuôi
tôm….Từ đó có những được số liệu ban đầu, phục vụ cho quá trình nghiên
cứu.
b. Thu thập dữ liệu thứ cấp.
Là tài liệu có nguồn gốc từ tài liệu đã được phân tích, giải thích, diễn
giải. Ở đây chúng tôi thu thập tài liệu thứ cấp thông qua các luận văn hoặc các
đề tài nghiên cứu có liên quan để rà soát lại thực của hoạt động xuất khẩu tôm
của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Ngoài ra còn thu thập tài liệu thông
17
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
qua báo kinh tế,tạp chí thương mại, các trang web tin cậy như trang Web của
tổng cục thống kê, của Bộ thuỷ sản, để từ đó đưa ra các kết luận và đề xuất

tế
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố như vị trí địa lý, khí hậu, đất
đai, tài nguyên thiên nhiên sông, biển…luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu
ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, chế biến và xuất khẩu tôm. Tuy nhiên, muốn
khai thác triệt để các lợi thế của môi trường tự nhiên để phục vụ cho sản xuất,
chế biến tôm xuất khẩu thì cần phải có định hướng về sự phát triển vùng
nguyên liệu.
Ngoài ra, phát triển vùng nguyên liệu tập trung đối với các sản phẩm
tôm xuất khẩu còn tạo điều kiện cho đầu tư đồng bộ từ cơ sở hạ tầng, đường
xá, giao thông…đến công nghệ chế biến, bảo quản và hệ thống tiêu thụ sản
phẩm. Trên cơ sở đó mới tạo ra khối lượng hàng hóa, có chất lượng cao, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
3.2.2. Chất lượng mặt hàng tôm.
Chất lượng tôm là nhân tố quan trọng trong việc xuất khẩu. Giá trị của
sản phẩm tôm sẽ được nâng cao hơn khi qua các khâu sản xuất, chế biến. Mặt
khác, tôm là động vật tươi sống nên việc chế biến sớm bao nhiêu thì giá trị
càng được nâng cao và ngược lại.
Ngoài ra sản phẩm tôm nước ta muốn thâm nhập vào thị trường thế giới
thì sản phẩm cần phải được sản xuất, chế biến theo một số tiêu chuẩn chất
lượng đã được công nhận như: Hệ thống tiêu chuẩn ISO 900, ISO 14000,
3.2.3. Giá cả.
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp và
tốc độ chu chuyển hàng hóa. Định giá mặt hàng tôm thấp trong một số trường
hợp sẽ làm tăng sức cạnh tranh, thu hút khách hàng. Nhưng định giá thấp sẽ
ảnh hưởng tới doanh thu và hiệu quả kinh doanh do giá bán không bù đắp chi
phí sản xuất. Ngoài ra còn gây ra những bất lợi: làm giảm giá trị hàng hóa,
người tiêu dùng nghi ngờ chất lượng sản phẩm. Nhưng định giá quá cao trong
khi chất lượng sản phẩm tôm chưa thật tốt sẽ làm cho sản phẩm tôm mất sức
cạnh tranh. Do đó cần đưa ra một mức giá phù hợp.
3.2.4. Thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu về tôm của người dân Nhật.

Nhật Bản vẫn tiếp tục nhập khẩu tôm với khối lượng lớn.
3.2.5. Các quy định pháp lý
20
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
Tôm nhập khẩu không bị hạn chế bởi quota nhập khẩu nhưng lại chịu
sự chi phối của Luật kiểm dịch và Luật vệ sinh thực phẩm.
Luật kiểm dịch quy định tôm nhập khẩu từ nước có nguy cơ dịch tả sẽ
phải kiểm dịch. Nếu phát hiện thấy vi khuẩn hàng sẽ bị huỷ hoặc trả lại.
Nhãn hiệu hàng hoá: Luật vệ sinh thực phẩm yêu cầu sản phẩm phải có
đầy đủ các thông tin sau:
- Tên sản phẩm
- Hạn sử dụng
- Tên, địa chỉ nhà sản xuất ( hoặc nhà nhập khẩu)
- Tên chất phụ gia nếu có
- Cách bảo quản
- Hãng nhập khẩu (nếu là nhập khẩu)
- Xuất xứ
- Ngoài ra còn kích cỡ, trọng lượng bao gói
Thuế nhập khẩu thường ở mức 4% (với nước thành viên WTO là 1%).
3.2.6. Tiêu chuẩn về tôm xuất khẩu vào thị trường Nhật.
Tôm tươi sống, ướp đá được phân phối qua nhà bán buôn, do đó cần
chú ý tới việc giao hàng sớm. Trong thực tế, chi phí lưu thông cộng thêm cước
phí vận chuyển bằng máy bay có thể đội giá hàng lên rất cao. Ta có thể lựa
cách bỏ qua chợ bán buôn mà thoả thuận trực tiếp với nhà phân phối và bán
lẻ.
Việc kiểm dịch chất lượng hàng hoá nhất là thực phẩm tươi sống được
Nhật Bản tiến hành rất chặt chẽ. Người ta cũng tiến hành kiểm tra xem trong
tôm còn có hàm lượng chất tẩy trắng hay chất kháng sinh kháng khuẩn thừa
hay không.

khối lượng và 50,9% về giá trị so với năm 2002. Đây là một trong những dấu
hiệu đáng mừng cho các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam vào thị trường Nhật
Bản.
Nhưng đến năm 2005, cả KNXK và GTXK đều giảm nhẹ, khoảng 0,8%
về khối lượng và 0,7% về giá trị. Sự sụt giảm này chủ yếu là do nhu cầu nhập
khẩu tôm của Nhật Bản có sự thay đổi khá lớn . Họ tăng cường nhập khẩu tôm
cỡ trung bình, tôm chế biến giá trị gia tăng và tôm TCT trong khi tôm của Việt
Nam chủ yếu là tôm cỡ lớn và tôm sú.
Năm 2006, GTXK tăng lên 571,292 triệu USD, tăng 10,32 % so với
năm 2005. Nguyên nhân là do Việt Nam đã có một số điều chỉnh về cơ cấu
tôm xuất khẩu cũng như các biện pháp xúc tiến thương mại giữa 2 nước Việt
22
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
Nam- Nhật Bản. Năm 2007 là một năm đầy khó khăn đối với xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam nói chung cũng như đối với mặt hàng tôm nói riêng vào thị
trường Nhật Bản. KNXK giảm 16,2% tương ứng với 5% về GTXK vì có
nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vi phạm luật VSATTP sửa đổi của Nhật. Cụ thể
như sau:
Từ 29/5/2006 Nhật đã áp dụng Luật VSATTP mới, có thể nói là rất khắt
khe, trong đó có yêu cầu loại kháng sinh chloramphenicol, nitrofurans-AOZ
và một số loại khác không được phép tồn tại trong thực phẩm được nhập khẩu
vào Nhật Bản. Đây là điểm mấu chốt nhất của vấn đề.
Việc Nhật Bản làm mạnh vấn đề dư lượng kháng sinh đối với thực
phẩm nhập khẩu, theo tôi chủ yếu là do quy định của luật rất khắt khe, trong
khi đó, hàng XK của ta có nhiều lô vi phạm. Hàng của các nước khác cũng có
vi phạm và cũng bị siết chặt kiểm tra.
Từ tháng 11/2006, cơ quan chức năng Nhật Bản ban hành lệnh mới,
chuyển mức độ kiểm tra từ 50% các lô hàng tôm nhập khẩu từ Việt Nam sang
lệnh kiểm tra 100%. Nếu tình hình không được cải thiện, lệnh cấm nhập khẩu

2003 831 932 940 654 651
2004 833 950 944 767 658
2004 850 967 968 772 672
2006 897 973 982 806 724
2007 905 980 990 859 821
Nguồn: Theo Lê Hằng- Bản tin TMTS, số 3/2009.
Giá tôm xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng như vậy một mặt là
do tại thị trường Nhật Bản, nguồn cung cấp tôm cỡ trung từ các nước sản xuất
chính như Ấn Độ, Inđônêsia cũng khan hiếm, các nhà cung cấp đều muốn tăng
giá. Do đó giá tôm của Việt Nam tại Nhật cũng tăng theo. Mặt khác, việc chất
lượng các sản phẩm tôm của Việt Nam ngày càng được nâng caolà nguyên
nhân chính tác động làm cho giá tôm tăng.
Nước ta đã đạt được mức sản lượng và giá trị xuất khẩu vào Nhật Bản
là khá cao nhưng nhìn chung mức giá tôm của ta còn thấp, chỉ bằng 70% giá
24
Đề tài nghiên cứu khoa học Khoa kinh
tế
bán của các đối thủ cạnh tranh ở trong khu vực như Thái Lan, Inđônêsia…đối
với cùng một loại sản phẩm do chất lượng sản phẩm sau chế biến của ta thấp
hơn họ. Tuy nhiên giá tôm xuất khẩu của ta cũng cao hơn một số nước như Ấn
Độ, Trung Quốc… Có điều này là do Trung Quốc và Ấn Độ có giá thành sản
xuất thấp hơn của Việt Nam nhờ vào các lợi thế gía nhân công rẻ, tính kinh tế
nhờ quy mô…
3.2.3. Cơ cấu và chủng loại tôm xuất khẩu.
Cơ cấu nhập khẩu mặt hàng tôm tại thị trường Nhật Bản rất đa dạng về
chủng loại cũng như kích thước.
Bảng 3.3: Cơ cấu mặt hàng tôm nhập khẩu của Nhật Bản
Đơn vị: tấn.
Các dạng sản phẩm 2004 2005 2006 2007
Sống 383 271 287 318


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status