Ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam - Pdf 29

Lời mở đầu
Nước ta dang trong quá trình mở cửa hội nhập, mở rộng quan hệ với các
nước trên thế giới. Quá trình hội nhập và mở rộng quan hệ quốc tế đem lại rất nhiều
tiềm năng và cơ hội cho sự phát triển của đất nước, tuy nhiên, tính chất phức tạp,
khó khăn trong quan hệ quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi sự hợp tác giữa
Việt Nam với các nước. Tương trợ tư pháp là một công cụ trợ giúp hữu hiệu để giải
quyết các vấn đề đó. Nhận thức rõ điều này, Đảng và nhà nước ta đã hết sức quan
tâm đến vấn đề tương trợ tư pháp, đặc biệt là trong các điều ước song phương giữa
Việt Nam với các nước, tuy nhiên, bên cạnh những điểm đạt được thì vấn đề ủy thác
tư pháp cũng còn nhiều hạn chế cần sớm bổ sung, khắc phục. Trong phạm vi bài tập
lớn môn tư pháp quốc tế, em quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài “Ủy thác tư
pháp quốc tế theo quy định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam kí kết
với các nước. Thực tiễn thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế giữa Việt Nam và các
nước ký kết điều ước quốc tế về vấn đề này ?” để có thể làm rõ các vấn đề cơ bản
về ủy thác quốc tế theo quy định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam
kí kết với các nước cũng như thực tiễn thực hiện để qua đó có một số đề xuất nhằm
nâng cao hiệu quả ủy thác quốc tế trong giai đoạn mới.
I. Ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của các điều ước quốc tế song
phương Việt Nam kí kết với các nước
Về nguyên tắc, các cơ quan tư pháp có thể thực hiện các hành vi tố tụng
theo thẩm quyền (thu thập chứng cứ, tống đạt giấy triệu tập đến tòa án..) trong
phạm vi lãnh thổ của nước có cơ quan tư pháp đó. Muốn thực hiện các hành vi này
ở nước ngoài, cơ quan tư pháp đó phải nhận được sự chấp thuận cụ thể của các
nước nơi các hành vi đó sẽ được thực hiện trên cơ sở các ủy thác tư pháp quốc tế,
tức là sự yêu cầu bằng văn bản chính thức của cơ quan tư pháp nước này (thường là
các tòa án) đối với cơ quan tư pháp nước kia (thường là tòa án hữu quan cùng cấp)
thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt tại lãnh thổ của nước kia theo những nội
dung, chỉ định trong văn bản yêu cầu.
Ủy thác tư pháp là việc tòa án của một nước nhờ tòa án của nước ngoài
thực hiện giúp những hành vi tố tụng riêng lẻ cần thiết để bảm đảm giải quyết vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Bang Nga” quy định
“1. Về các vấn đề do Hiệp định này điều chỉnh, Cơ quan Tư pháp liên hệ với
nhau qua cơ quan trung ương
2. Nhằm mục đích thực hiện hiệp định này, Cơ quan trung ương về phía
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Bộ Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; về phía Liên Bang Nga là Bộ Tư pháp Liên
Bang Nga và Tổng viện kiểm sát Liên Bang Nga.
3. Các cơ quan của các Bên ký kết có thẩm quyền về các vấn đề dân sự và
hình sự liên hệ với nhau về tương trợ tư pháp phải thông qua Cơ quan tư pháp.
Những ủy thác tư pháp này được chuyển thông qua Cơ quan trung ương
4. Các cơ quan trung ương có thể thỏa thuận những vấn đề cụ thể mà Cơ
quan tư pháp các Bên ký kết có thể liên hệ trực tiếp với nhau”
Còn trong Điều 2 “Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữa
nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hòa Pháp” lại xác định Cơ quan trung
ương là Bộ tư pháp của hai nước:
“1. Bộ tư pháp của hai Nước ký kết là Cơ quan trung ương chịu trách nhiệm
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Hiệp định này
2. Các cơ quan trung ương liên hệ trực tiếp với nhau; gửi yêu cầu tương trợ
tư pháp kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của Nước ký kết được yêu cầu”
3. Các thức thực hiện
Thực tiễn tư pháp Việt Nam trong thời gian qua cho thấy số lượng ủy thác
quốc tế ngày càng tăng, có cả loại ủy thác theo điều ước quốc tế (Hiệp định tương
trợ tư pháp) và có loại ủy thác ngoài điều ước quốc tế. Theo quy định của các hiệp
định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với nước ngoài thì ủy thác quốc tế là
phương tiện để các nước ký kết thực hiện tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự,
hôn nhân- gia đình và hình sự. Các ủy thác tư pháp theo hiệp định phải được lập
thành văn bản.
Văn bản ủy thác phải được người đại diện cơ quan yêu cầu ký tên, đóng dấu
hợp pháp. Các văn bản ủy thác tư pháp phải được các cơ quan tư pháp các nước ký
kết gửi cho nhau thông qua Cơ quan trung ương là Bộ tư pháp (riêng các vấn đề

thác tư pháp của tòa án nước ngoài về việc tiến hành một số hoạt động tố tụng dân
sự theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập hoặc theo
nguyên tắc có đi có lại.
- Tòa án Việt Nam không chấp nhận việc thực hiện ủy thác tư pháp của tòa
án nước ngoài trong các trường hợp sau:
+ Việc thực hiện ủy thác tư pháp xâm hại đến chủ quyền của Việt Nam
hoặc đe dọa đến an ninh quốc gia của Việt Nam;
+ Việc thực hiện ủy thác tư pháp không thuộc thẩm quyền của tòa án Việt
Nam
- Trong quá trình thực hiện ủy thác tư pháp phải tuân theo các thủ tục sau:
+ Việc Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho tòa án nước ngoài hoặc tòa án
nước ngoài ủy thác tư pháp cho tòa án Việt Nam phải được lập thành văn bản và
gửi đến cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Điều ước quốc tế
mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam;
+ Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam nhận được văn ban ủy thác tư pháp
phải chuyển ngay cho Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài nhận văn bản ủy thác của Tòa án Việt Nam
II. Thực tiễn thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế giữa Việt Nam và các
nước ký kết điều ước quốc tế về vấn đề này?
1. Đánh giá về tình hình thực hiện
Nhìn chung, việc thực hiện các uỷ thác tư pháp (với các nước đã ký kết
Hiệp định tương trợ tư pháp cũng như với các nước chưa ký kết Hiệp định)
trong những năm gần đây đã dần dần đi vào nền nếp, đáp ứng các yêu cầu đặt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status