Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam - Pdf 28



Trường đại học Quố gia Hà nội
Khoa luật
&

Nguyễn Thị Thu Hiền HỢP ĐỒNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG
HÓA THEO QUYẾT ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM Luận văn thạc sĩ Luật học


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Diến
Hà Nội - 2011

MỤC LỤC

Lời cam đoan Trang
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VÊ HỢP ĐỒNG UỶ THÁC MUA BÁN
HÀNG HOÁ 8
1.1 Khái niệm HĐMBHH 8
1.2 Khái niệm HĐUTMBHH 10
1.3 Đặc điểm của HĐUTMBHH 15
1.4 Phân biệt HĐUTMBHH và một số hoạt động TGTM khác 18
1.5 Một số nguyên tắc cơ bản của HĐUTMBHH 25
1.6 Giao kết và thực hiện HĐUTMBHH 27
1.7 Vai trò và ‎‎ý nghĩa của HĐUTMBHH 36
1.8 Nguồn luật điều chỉnh 38
Kết luận chương 1 39
Chƣơng 2. CÁC ĐIỀU KIỆN HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐÔNG UỶ THÁC MUA
BÁN HÀNG HOÁ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG
TƢƠNG QUAN SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƢỚC 41
2.1 Khái niệm điều kiện hiệu lực của hợp đồng 41

đến, họ uỷ thác cho các thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình
và trả thù lao. Đó là khởi nguồn của việc sử dụng uỷ thác trong thương mại.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, uỷ thác
khẳng định vai trò và ý nghĩa của nó chủ yếu trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Đến nay, uỷ thác được tìm thấy trong mọi lĩnh vực của kinh doanh và là giải
pháp lý tưởng cho các thương nhân không muốn mất toàn bộ chi phí vào việc
mua bán hàng hoá hay đầu tư mà không đem lại hiệu quả.
Khi một người hay tổ chức (pháp nhân) không có đủ điều kiện cần thiết
để thực hiện các hoạt động thương mại, họ cần đến một thương nhân có năng
lực thực tế để thực hiện các hoạt động đó một cách chuyên nghiệp và hiệu quả
nhất, đặc biệt đối với MBHHQT, lĩnh vực đòi hỏi người mua phải nắm vững
thị trường, am hiểu pháp luật, phong tục tập quán nước sở tại và rõ ràng, nếu
thiếu một trong các kỹ năng này người mua sẽ gặp khó khăn, thậm chí thất bại
ở một thị trường xa lạ. Uỷ thác qua trung gian là giải pháp cho những đòi hỏi này.
Các quy định pháp luật về hoạt động UTMBHH là hành lang pháp lý quan
trọng, Tuy nhiên, chế định này chưa được quy định hoàn thiện và tương xứng
với vị trí, vai trò của nó và đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh, khi được thực
hiện nó bộc lộ nhiều hạn chế:

2
Mâu thuẫn giữa nguyên tắc chung và quy định cụ thể
Nguyên tắc thiện chí được coi là một trong những nguyên tắc nền tảng
khi xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự và là điều kiện căn bản để
các bên giao kết và thực hiện hợp đồng. Song nguyên tắc chung lại không
thống nhất với các quy định cụ thể của LTM. Thiện chí là yêu cầu đòi hỏi tinh
thần hợp tác giữa các bên khi tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp
đồng. Như vậy, về nguyên tắc nếu việc thực hiện quyền pháp lý của một bên
chủ thể có khả năng gây thiệt hại cho chủ thể phía bên kia hoặc ảnh hưởng
đến quan hệ hợp đồng thì hành vi đó phải được loại trừ.
Tuy nhiên, LTM quy định bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua

chế định HĐUT trong LTM, đây cũng là điểm cần sửa đổi, bổ sung.
Về khái niệm HĐUTMBHH
Hoạt động UTMBHH thể hiện đầy đủ các yếu tố của một giao dịch
thương mại và là giao dịch thương mại chủ yếu, quan trọng, cơ sở pháp lý cho
HĐUTMBHH được thực hiện nhưng không được quy định là giao dịch hay
hợp đồng UTMBHH trong LTM. Hơn nữa, LTM sử dụng thuật ngữ uỷ thác
trong khi BLDS dùng thuật ngữ uỷ quyền mà không có sự phân định rõ ràng.
Tại sao LTM không sử dụng thuật ngữ uỷ quyền MBHH? Tuy bản chất của uỷ
quyền trong dân sự khác uỷ thác trong thương mại ở tư cách pháp lý của
người thụ uỷ khi thực hiện nghĩa vụ uỷ nhiệm, nhân danh người chủ uỷ
(trong uỷ quyền) và nhân danh chính người thụ uỷ (trong uỷ thác). Tuy vậy,
ranh giới phân định giữa uỷ thác trong thương mại và uỷ quyền trong dân sự
vẫn mờ nhạt và không thể chỉ dựa trên căn cứ đó. Như vậy, trong trường hợp
vẫn giữ nguyên thuật ngữ này, LTM cần có sự phân định cụ thể giữa uỷ thác
trong LTM và uỷ quyền trong BLDS. Đây không chỉ là vấn đề mang tính học
thuật về một khái niệm trong khoa học pháp lý, đó còn là yêu cầu khách quan
và sự phù hợp với tinh thần của BLDS. Do đó, chế định HĐUTMBHH cần

4
được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện tương xứng với vị trí, vai trò của nó và
đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu và đề xuất những giải pháp mang tính
tổng thể cho việc bổ sung, hoàn thiện chế định pháp luật về HĐUTMBHH là
một việc làm có ‎ý nghĩa. Tác giả lựa chọn đề tài “HĐUTMBHH theo quy
định của pháp luật Việt Nam” cho luận văn với mong muốn giải quyết
những yêu cầu đó.
2.Tình hình nghiên cứu
HĐUTMBHH là một lĩnh vực nghiên cứu mới. Trong nước, đã có một
số tác giả viết về đại diện thương mại, uỷ quyền thương mại như, TS Ngô
Huy Cương, Chế định đại diện thương mại theo quy định của pháp luật Việt

luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật của một số nước điển
hình cho hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, Common Law và Civil Law
và thực trạng thực thi pháp luật về HĐUTMBHH ở Việt Nam. Tuy nhiên,
luận văn có chiều sâu, trong một chừng mực nhất định, những chuẩn mực và
kinh nghiệm pháp lý của một số nước phát triển cũng được đề cập đến.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài được cụ thể hoá trong việc
giải quyết những nhiệm vụ sau:
1) Nghiên cứu l‎ý luận chung về HĐUTMBHH.
2) Nghiên cứu các điều kiện hiệu lực của HĐUTMBHH theo quy định
của pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật của một số nước.
3) Nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật về HĐUTMBHH ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Phép biện chứng duy vật của Triết học Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh được sử dụng với tư cách là phương pháp luận cho việc nghiên cứu.

6
Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng vấn đề, từng
lĩnh vực của đề tài cũng được vận dụng như: phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp luận giải và diễn dịch,
phương pháp thống kê, phương pháp so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận
- Có thể nói đây là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ
thống và tương đối toàn diện về HĐUTMBHH dưới giác độ luật học. Luận
văn xây dựng một số khái niệm trên cơ sở phân tích các quy định của BLDS
và LTM như, HĐUTMBHH, HĐUTMBHH có yếu tố nước ngoài. Đây không
chỉ là những vấn đề có tính chất phương pháp luận cho việc nghiên cứu,
hoạch định, xây dựng chế định pháp luật về HĐUTMBHH mà còn là tư liệu
cho việc xác định và xây dựng các khái niệm khác.

Chương 2. Điều kiện hiệu lực của của HĐUTMBHH theo quy định
của pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật của một
số nước.
Chương 3. Thực trạng thực thi pháp luật về HĐUTMBHH ở Việt
Nam và giải pháp đề xuất. 8
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG UỶ THÁC
MUA BÁN HÀNG HOÁ

Hoạt động UTMBHH là chế định quan trọng trong pháp luật thương
mại. Để hiểu rõ chế định này, trước tiên luận văn sẽ tìm hiểu khái niệm
HĐMBHH. Từ đó, luận văn sẽ đề cập tới khái niệm, định nghĩa và các đặc
điểm của HĐUTMBHH. Các mục tiếp theo của luận văn sẽ trình bày về các
nguyên tắc cơ bản, giao kết và thực hiện, vai trò, ý nghĩa và nguồn luật điều
chỉnh HĐUTMBHH.
1.1 KHÁI NIỆM HĐMBHH
Mua bán hàng hoá có lịch sử phát triển lâu đời, tiền thân của nó gắn
liền với sự xuất hiện của xã hội loài người thời cổ đại, trao đổi đồ vật. Đó là
hình thức giao dịch cổ xưa của buổi bình minh sơ khai, con người lấy đó làm
cơ sở cho sự sinh tồn. Khi đồng tiền xuất hiện thì vật đổi tiền trở thành hình
thức trung gian cơ bản, sau này Adam Smith xây dựng trong công thức gắn
với tên tuổi của ông H-T-H, đánh dấu sự phát triển của lịch sử xã hội loài
người trong sử dụng vật trung gian để trao đổi tài sản. Khi giao thương phát
triển, trao đổi hàng hoá không chỉ diễn ra trong phạm vi vùng, lãnh thổ, nó
vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành động lực chính cho sự ra đời của
mua bán hàng hóa quốc tế.
Pháp luật Việt Nam hiện hành có hai đạo luật cơ bản điều chỉnh quan

cơ sở thoả thuận mua bán hàng hoá hay dịch vụ và có thanh toán hay bù
đắp. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam xác định nội hàm của khái niệm
cụ thể và hẹp hơn, ngoài nghĩa vụ giao nhận hàng hoá và thanh toán còn
quy định tiêu chí chuyển quyền sở hữu hàng hoá, thêm đó dịch vụ không
được coi là hàng hoá [§ 3.2 LTM].

10
Tiểu kết
Nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp
đồng càng được coi trọng và hoàn thiện. Khái niệm hợp đồng ở các hệ thống
pháp luật khác nhau quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết pháp luật các
nước đều thừa nhận bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận có nguồn gốc căn
bản là sự thống nhất ý chí, nền tảng pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ
hợp đồng thực hiện các quyền, nghĩa vụ.
1.2 KHÁI NIỆM HĐUTMBHH
Trên thế giới, các hoạt động trung gian thương mại đã xuất hiện từ lâu,
do nhu cầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của
thương nhân. Có thể nói, khởi nguồn của việc sử dụng hoạt động trung gian
này bắt nguồn từ thời kỳ mà việc vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước
khác bắt đầu được thực hiện bằng đường biển (khoảng thế kỷ XIII). Các
thương nhân, thay vì theo hàng hoá giao tại cảng đến, họ uỷ thác cho thương
nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao. Đó là khởi nguồn
của việc sử dụng uỷ thác trong thương mại.
Cùng với sự phát triển của thương mại toàn cầu, đặc biệt từ nửa sau thế
kỷ XIX, khi các quan hệ quốc tế gia tăng đáng kể thì uỷ thác trong thương
mại, đặc biệt uỷ thác mua bán hàng hoá hay xuất nhập khẩu và một số hoạt
động trung gian khác càng trở nên có ý nghĩa.
Đến nay, ở hầu hết các nước đều tồn tại các hoạt động thương mại qua
trung gian, trong đó có uỷ thác (đại diện) mua bán hàng hoá. Ở Việt Nam, uỷ
thác là hoạt động thương mại qua trung gian được lưu ý sớm nhất.

đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.
HĐUTMBHH được xác lập trên cơ sở có đề nghị giao kết và có chấp
nhận đề nghị giao kết hay thoả thuận được tạo ra và xác định bởi nghĩa vụ về
công việc mua, bán hàng hoá có điều kiện giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác.

12
Như vậy, HĐUTMBHH mang bản chất của hợp đồng dịch vụ nhưng
chứa đựng trong đó các dấu hiệu của hợp đồng uỷ quyền.
HĐUTMBHH mang bản chất của hợp đồng dịch vụ hay HĐUTMBHH là
HĐDV dân sự trong thương mại. Về phương diện chủ thể, bên nhận uỷ thác, thực
thể cung ứng dịch vụ thương mại chuyên nghiệp được thuê thực hiện công việc
mua bán hàng hoá, nhân danh chính mình cho bên thuê và được trả thù lao theo
thoả thuận. Về đối tượng, công việc MBHH là đối tượng đặc thù của dịch vụ dân
sự trong thương mại. Về nội dung, HĐUTMBHH chứa đựng các điều khoản của
HĐDV, thoả thuận về công việc phải làm, thời hạn, thù lao
Yếu tố uỷ quyền được thể hiện ở nghĩa vụ thực hiện công việc của
người thụ uỷ trong phạm vi được uỷ quyền và được nhận thù lao theo thoả
thuận. Tuy nhiên, uỷ thác không đồng nhất với uỷ quyền. Về bản chất của
hành vi, uỷ quyền trong dân sự là hành vi giao cho người khác sử dụng một số
quyền mà pháp luật đã trao cho mình; uỷ thác trong MBHH là hành vi giao
cho người khác làm thay công việc MBHH cho mình. Do đó, về tư cách chủ
thể khi thực hiện hành vi, bên được uỷ quyền thực hiện công việc được uỷ
quyền nhân danh bên uỷ quyền; bên nhận uỷ thác thực hiện công việc được
uỷ thác nhân danh chính mình. Về phạm vi, bên được uỷ quyền có thể được
uỷ quyền thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại trong khi UTMBHH
mang tính vụ việc, thu hẹp trong lĩnh vực MBHH. Về năng lực pháp lý, bên
được uỷ quyền có thể là cá nhân, thương nhân hay tổ chức, tuỳ thuộc vào
hành vi được uỷ quyền; bên nhận uỷ thác phải là thương nhân, đặc biệt phải
có giấy phép kinh doanh phù hợp với hàng hoá được uỷ thác mua bán. Như
vậy, uỷ thác có dấu hiệu của uỷ quyền dân sự nhưng không phải uỷ quyền dân

quyền dân sự trong thương mại. HĐUTMBHH là một dạng đặc thù của
HĐDV bởi nó đáp ứng tất cả các yêu cầu của một HĐDV, bên thuê dịch vụ

14
thuê bên trung gian cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp nhân danh chính mình
thực hiện công việc có thù lao.
Các nước theo hệ thống thông luật không có quy định riêng biệt về hoạt
động UTMBHH, các quy định liên quan đến việc sử dụng dịch vụ trung gian
thương mại áp dụng Luật về hợp đồng (Law of Contract) và Luật về đại diện
thương mại (Law of Commercial Agents).
Theo đó hoạt động đại diện thương mại được hiểu là, người đại diện
(thụ uỷ) tiến hành các hoạt động thương mại (trong phạm vi uỷ quyền) nhân
danh người giao đại diện (chủ uỷ) hay nhân danh chính mình, vì lợi ích của
người giao đại diện, thông qua thoả thuận (agreement), được tạo ra và xác
định bởi các nghĩa vụ (obligations) giữa các bên [25, § 2 1].
Như vậy, pháp luật các nước theo hệ thống thông luật không có sự tách
bạch giữa uỷ thác và đại diện thương mại. Tất cả các hoạt động uỷ quyền
thương mại thông qua bên trung gian được xác định là hoạt động đại diện.
Vấn đề cơ bản là nhân danh bên giao đại diện hay nhân danh chính bên đại
diện khi tiến hành hoạt động đại diện?
Điều này có căn nguyên là, các nước theo hệ thống Common Law coi các
hoạt động thương mại qua trung gian mang bản chất của đại diện, thay mặt và vì
lợi ích của bên giao đại diện; hơn nữa, bên đại diện thương mại không bắt buộc
phải là thương nhân; trong khi đó theo quy định của pháp luật Việt Nam, bên
TGTM, bất kể trong hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới, đại lý hay uỷ
thác mua bán hàng hoá, đều phải là thương nhân; đặc biệt đối với hoạt động uỷ
thác mua bán hàng hoá, bên nhận uỷ thác còn phải đáp ứng yêu cầu đặc thù, kinh
doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác [§156 LTM].
Tiểu kết
Hợp đồng là chế định pháp luật có bề dày lịch sử và được coi là chế


16
nhân bán sản phẩm, tác phẩm của mình. VD. Thợ thủ công, nghệ nhân uỷ thác
cho thương nhân có cửa hàng, cửa hiệu bán sản phẩm; người có đồ cũ, đồ cổ
nhờ bán ký gửi [10].
Bên nhận uỷ thác, là bên thực hiện công việc được uỷ thác có thù lao.
LTM quy định cụ thể, bên nhận uỷ thác là thương nhân kinh doanh mặt hàng
phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện việc MBHH theo những điều
kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác. Thương nhân nhận uỷ thác có thể nhận
UTMBHH cho nhiều bên uỷ thác khác nhau [§ 161].
Như vậy, để trở thành thương nhân nhận uỷ thác hợp pháp, một thực
thể phải đáp ứng hai điều kiện: điều kiện thứ nhất, phải là thương nhân; điều
kiện thứ hai, kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác.
1.3.2 Đối tƣợng của HĐUTMBHH
Theo § 518 BLDS, HĐUTMBHH là một loại hợp đồng dịch vụ, do vậy
đối tượng của HĐUTMBHH là công việc MBHH do bên nhận uỷ thác tiến
hành theo sự uỷ quyền của bên uỷ thác.
Loại hàng hoá cụ thể được mua, bán theo yêu cầu của bên uỷ thác là
đối tượng của HĐMBHH giữa bên nhận uỷ thác và bên thứ ba.
1.3.3 Nội dung của HĐUTMBHH
Nội dung của HĐUTMBHH là các điều khoản thoả thuận giữa bên uỷ
thác và bên nhận uỷ thác, thể hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên trong
quan hệ uỷ thác, theo đó bên nhận uỷ thác có nghĩa vụ thực hiện công việc uỷ
thác MBHH theo uỷ quyền của bên uỷ thác và được hưởng thù lao; bên uỷ
thác có nghĩa vụ trả tiền thù lao cho bên nhận uỷ thác.
Các quyền, nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên được quy định trong LTM,
luận văn không đi sâu vào trình bày.
Trong thực tiễn, tuỳ thuộc vào công việc được uỷ thác, nội dung của
HĐUTMBHH được thể hiện khác nhau. Tuy nhiên, nội dung cơ bản của


1.3.4 Hình thức của HĐUTMBHH
Một trong những căn cứ để HĐUTMBHH được thừa nhận hợp pháp là
tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức hợp đồng.
LTM quy định, HĐUTMBHH phải được lập thành văn bản hoặc bằng
hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương [§ 159].
Các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản bao gồm:
điện báo, TELEX, FAX, thông điệp dữ liệu [§ 3.15].
Như vậy, từ những đặc điểm về chủ thể, đối tượng, nội dung và hình
thức của HĐUTMBHH cho thấy, HĐUTMBHH có bản chất pháp lý là hợp
đồng song vụ và là hợp đồng có điều kiện.
1.4. PHÂN BIỆT HOẠT ĐỘNG UTMBHH VÀ MỘT SỐ HOẠT
ĐỘNG TRUNG GIAN THƢƠNG MẠI KHÁC
1.4.1 Đại diện cho thƣơng nhân
Trên thế giới, chế định đại diện thương mại có lịch sử phát triển lâu đời
và được xem là chế định quan trọng bậc nhất trong số các dịch vụ TGTM.
Ở châu Âu, đại diện thương mại được sử dụng phổ biến và điển hình
nhất so với các hoạt động thương mại khác qua trung gian [24, tr.12]. Điều
này có căn nguyên là, đại diện thương mại (commercial agent) được sử dụng
với nội hàm rộng. Một commercial agent khi được uỷ quyền (authorized) có
thể thực hiện nhiều hành vi thương mại thay cho thương nhân giao đại diện
(the principal).
Pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ đại diện cho thương nhân, là một
dạng của đại diện theo uỷ quyền được thực hiện trong hoạt động thương mại.
Đại diện cho thương nhân, là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi
là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện
các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó
và được hưởng thù lao về việc đại diện [§ 141 LTM].

19
Như vậy, đại diện cho thương nhân được hiểu là việc bên đại diện nhân

cho nhiều bên uỷ thác, trong khi bên đại diện cho thương nhân có thể không thực
hiện được điều này trừ trường hợp hợp đồng có thoả thuận [§ 145.4 LTM].
Thứ tư, về quyền chấp nhận hay không chấp nhận hợp đồng do bên
TGTM ký với bên thứ ba không đúng thẩm quyền, bên giao đại diện có quyền
quyết định chấp nhận hay không chấp nhận hợp đồng do bên đại diện ký với
bên thứ ba trong khi UTMBHH không đặt ra vấn đề này.
Do bản chất của hoạt động đại diện cho thương nhân, bên đại diện chỉ
là người được uỷ quyền thực hiện hành vi thay cho thương nhân, mọi hậu quả
pháp lý của hành vi đại diện trực tiếp mang lại cho chính bên giao đại diện, họ
có quyền chấp nhận hay không chấp nhận hợp đồng ký ngoài phạm vi đại
diện giữa bên đại diện với bên thứ ba [§ 146.1 LTM]; đối với UTMBHH, bên
uỷ thác nhân danh chính mình khi ký kết hợp đồng với bên thứ ba, mọi hậu
quả pháp lý phát sinh từ hành vi đó trực tiếp mang lại cho chính họ, do vậy
bên nhận uỷ thác có quyền tự do lựa chọn đối tác để giao kết hợp đồng, không
phụ thuộc vào vấn đề chấp nhận hay không chấp nhận việc giao kết hợp đồng
từ phía bên uỷ thác.
1.4.2 Môi giới thƣơng mại
So với các hoạt động TGTM khác, môi giới thương mại ở Việt Nam
mới có điều kiện hình thành và phát triển những năm gần đây.
Ở thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, hoạt động môi giới thương mại gần
như không có cơ hội phát triển. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung buộc các
thực thể kinh doanh vận động theo cơ chế đã được hoạch định, lên khung, do
đó khó có cơ hội cho các TGTM hoạt động.
Sau đổi mới, đặc biệt khi kinh tế thị trường tạo lập được nền móng và
đi vào phát triển tương đối ổn định, hoạt động môi giới thương mại mới thực
sự có điều kiện phát triển. Tuy thế, so với thế giới, hoạt động môi giới thương

21
mại mới chỉ đi những bước đầu tiên. Ở các nước tư bản, đặc biệt là Mỹ, Anh,
Pháp, Nhật Bản, nơi có thị trường chứng khoán, tài chính, bất động sản phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status