Đại học Quốc gia Hà Nội
TRường Đại học xã hội và nhân văn
Khoa văn học
Tiểu luận
Thi pháp và thi pháp học ứng dụng phân tích thi pháp bài ca dao
“Trèo lên cây bưởi hái hoa”
Người hướng dẫn : GS, TS. Nguyễn Xuân Kính
Học viên thực hiện : Nguyễn Ngọc Hưng
Lớp : cao học văn K51
Hà Nội, tháng 5/ 2008
1
1. Thi pháp và thi pháp học
Hiện nay về cơ bản chưa có khái niệm thi pháp mà chỉ có giới thuyết. Có
người quan niệm thi pháp là sự tổng hợp các thành tố của hình thức nghệ
thuật trong tác phẩm ngôn từ. Có người hiểu rộng hơn, thi pháp không chỉ bao
gồm những thành tố kể trên mà còn bao gồm cả những vấn đề loại hình, thể
tài, những nguyên tắc và phương pháp phản ánh hiện thực và các phạm trù:
không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tác giả
về thế giới và con người. Tóm lại, thi pháp là cái có thật, gồm nhiều thành tố:
ngôn ngữ, nhịp và vần, kết cấu, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ
thuật, giọng điệu, biểu tượng nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tác giả về
cuộc đời và con người. Tuỳ từng thể loại mà mỗi yếu tố trên đậm hay nhạt
trong mỗi tác phẩm. Ví dụ thơ mạnh về nhịp và vần, văn xuôi mạnh về cấu
trúc.
Ngày nay chúng ta hiểu thi pháp là tổ hợp những đặc tính thẩm mỹ –
nghệ thuật và phong cách của một hiện tượng văn học, là cấu trúc bên trong
của nó, là hệ thống đặc trưng của những thành tố nghệ thuật và mối quan hệ
giữa chúng.
Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp. Nghiên cứu thi pháp
đời vào khoảng năm 496 đến 501. Sống trong thời đại văn chương hoa lệ, phù
phiếm, không vừa ý với tình hình văn học đương thời, xuất phát từ lập trường
Nho gia, ông đã khổ công viết Văn tâm điêu long trong vòng 30 năm với khát
vọng thay đổi thứ văn chương phù phiếm của thời đại. Ông bàn nhiều đến
mục đích, chức năng của văn học, nguồn gốc của cái đẹp, đề ra những tiêu
chuẩn với tác phẩm văn học và những yêu cầu đối với nhà văn. ông còn viết
về công việc phê bình văn học. Theo ông, nội dung và hình thức là hai yếu tố
không thể tách rời trong tác phẩm văn học, trong đó nội dung giữ vai trò
quyết định. Tác giả phản đối những tác phẩm nặng về hình thức hoa mỹ mà
coi nhẹ nội dung. Ông viết: “Nếu có phong cách mà thiếu vẻ đẹp, thì cũng
như con chim ưng trong rừng bút; nếu có vẻ đẹp mà thiếu phong cách, thì
cũng như con gà rừng nhảy ở vườn văn. Chỉ có ai văn đẹp mà lại bay cao, thì
mới là con phượng hoàng cất tiếng trên văn đàn”. Chính vì coi trọng hình
3
thức nghệ thuật trong mối liên hệ hữu cơ với nội dung, Lưu Hiệp đã dành
nhiều trang viết bàn về kỹ thuật viết văn với các vấn đề như: hư cấu, tưởng
tượng, kết cấu, sử dụng ngôn ngữ…
Tiếp sau Lưu Hiệp, ở thế kỷ VI các công trình như Thi phẩm của
Chung Vinh, Văn tuyển của Tiêu Thống là những thành tựu lớn của thi pháp
học ở Trung Quốc.
Đến thời Bạch Cư Dị, thi pháp học Trung Quốc lại phát triển thêm một
bước với các tác phẩm như: lời tựa cho hai tập thơ Tần trung ngâm và Tân
nhạc phủ, Thư gửi Nguyên Chẩn. Trong đó tác giả đưa ra những quan điểm
về vai trò, nhiệm vụ, mục đích của công việc sáng tác văn chương cũng như
tư tưởng, tình cảm, nội dung, hình thức… của tác phẩm văn học.
Đến đời nhà Tống lý luận phê bình văn học tiếp tục phát triển, đặc biệt
là sự nở rộ của thể thi thoại với các tác phẩm như : Lục Nhất thi thoại của Âu
Dương Tu, ẩm Băng Thất thi thoại của Lương Khải Siêu, Tuỳ Viên thi thoại
của Thanh Viên Mai.
Có thể nói, từ rất sớm những hiểu biết về thi pháp của người Trung
Lịch sử Việt Nam phát triển không bình thường, do chiến tranh liên
miên (chống ngoại xâm, nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến). Khoa học
kỹ thuật của nước ta chậm phát triển. Trong lao động sản xuất, tuy nhân dân
ta đúc kết được một số kinh nghiệm quý báu, nhưng những kinh nghiệm này
chưa bao giờ được nâng thành khoa học với đúng nghĩa của nó. Cha ông ta
không có truyền thống lý luận, trừ hai bộ môn khoa học gắn liền với sự sống
còn của khoa học và sự sống còn của con người là khoa quân sự và khoa y
học. Hoàn cảnh lịch sử hướng cha ông ta đi theo con đường tiếp nhận, bắt
người Việt xưa chỉ nghĩ những chuyện thực tế, ứng dụng nhanh chóng cái học
được để ứng phó với hiểm hoạ ngoại xâm và bị đồng hoá. Những tri thức lỗi
lạc, có tinh thần dân tộc đều muốn học Trung Quốc để tiến kịp, không thua
kém Trung Quốc, rất ít khi nghĩ đến phê phán cái học được để làm nên cái
riêng của mình. “Trong lịch sử văn học nước ta có khi người ta chuyên luận
về triết học, nhưng ít thôi; dường như đây không phải là một truyền thống lớn
5