1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
________________
BÀI TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ TƯ
DUY SÁNG TẠO PHÂN TÍCH PHƯƠNG PHÁP SÁNG TẠO
SCAMPER TRONG VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN VÀO CÔNG NGHỆ IN OFFSET
CHUYÊN NGHÀNH: KHOA HỌC MÁY TÍNH
MÃ SỐ: 60 48 01 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:GS.TSKH.HOÀNG VĂN KIẾM
HỌC VIÊN : ĐỖ THIỆN VŨ_ CH08_1301072
KHOÁ HỌC: 2013
TP.HỒ CHÍ MINH-2014
2
Giai đoạn 5: Gia công sau in: 31
Chương III: PHÂN TÍCH SCAPMER 32
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
4
LỜI NÓI ĐẦU
rước hết, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Giáo sư -
Tiến sỹ Khoa Học Hoàng Văn Kiếm, người đã tận tâm truyền đạt
những kiến thức nền tảng cơ bản cho chúng em về môn học
Phương pháp sáng tạo SCAMPER được giáo sư
Michael Mikalko sáng tạo nên. Đây là một công cụ tư
duy khá hiệu quả, trợ giúp đắc lực trong quá trình tìm ra
các phát kiến nhằm thay đổi sản phẩm hoặc tiến trình
công việc. SCAMPER là ghép các chữ cái đầu của
nhóm từ sau: Substitute ( thay thế), Combine (kết hợp),
Adapt (thích nghi), Modify (hiệu chỉnh), Put (thêm
vào), Eliminate (loại bỏ) và Reverse (đảo ngược).
Phương pháp sáng tạo SCAMPER dễ lĩnh hội, dễ vận dụng nhưng khá hữu hiệu nên
ngày càng được sử dụng phổ biến rộng rãi, nhất là trong các doanh nghiệp.
6
Bản đồ tư duy của phương pháp SCAMPER. (ảnh: nguồn internet) II. Phân tích SCAMPER.
1. Phép thay thế (Substitute)
Nội dung: Thay thế thành tố này bằng thành tố khác.
- Đối với sản phẩm, quan sát thành phần tạo nên chúng và thử nghĩ xem có thể
thay thế bằng nguyên vật liệu nào khác không?
- Đối với quy trình làm việc: xem xét vấn đề có thay thế nhân lực? địa điểm?
thời gian?…
Một số câu hỏi được đặt ra áp dụng cho nguyên tắc này:
- Có thể thay thế, hoán đổi bộ phận nào trong hệ thống?
- Có thể thay thế nhân sự nào?
7
- Có thể tương tác với ai?
- Cái gì có thể copy, mượn?
- Quá trình nào có thể được thích ứng?
- Ý tưởng nào ngoài lĩnh vực của tôi có thể hợp nhất?
Ví dụ:
- Giường của trẻ em được cấu tạo như một chiếc xe đua.
4. Phép điều chỉnh (Modify)
Nội dung: Điều chỉnh thành phần của hệ thống như tăng giảm kích cỡ, hình
dáng, thuộc tính màu sắc, mẫu mã,…
Một số câu hỏi áp dụng cho nguyên tắc này:
- Yếu tố nào có thể điều chỉnh lớn hơn?
- Yếu tố nào có thể cường điệu hoặc cực đoan?
- Yếu tố nào có thể cao hơn, to hơn hay mạnh hơn?
- Có thể gia tăng tần số của hệ thống?
- Yếu tố nào có thể lặp lại?có thể tạo ra nhiều bản sao?
- Có thể bổ sung thêm những đặc trưng mới hoặc giá trị mới?
Ví dụ:
- Xe đạp đôi.
- Xe buýt nhiều tầng.
5. Phép thêm vào (Put)
Nội dung: Áp dụng cho mục đích, lĩnh vực khác.
Các câu hỏi áp dụng cho nguyên tắc này:
- Đối tượng đang xem xét có thể dùng vào mục đích khác?
- Đối tượng đang xem xét có thể dùng bởi người khác với mục đích khác?
- Trẻ em hay người già sử dụng đối tượng đang xem xét như thế nào?
- Có cách nào khác sử dụng đối tượng đang xem xét không?
- Có thể sử dụng ý tưởng này trong lĩnh vực khác, thị trường khác?
Ví dụ:
- Lốp xe có thể dùng làm hàng rào.
9
Ví dụ:
- Sản xuất ra loại vải không phân biệt mặt phải hay trái.
10 Chương 2: CÔNG NGHỆ IN OFFSET
I. Lich sử ngành in
Ngành in ấn có từ khi nào? Loài người hình thành nghề in ấn như thế nào? In
ấn là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền như giấy, bìa các tông,
ni lông bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thường được thực hiện với số
lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong xuất bản.
Sách cổ nhất được in còn tới ngày nay sử dụng kĩ thuật in khối tinh vi có từ
năm 868 SCN (kinh Kim Cương). Đến thế kỉ thứ 12 và 13, các thư viện ở Ả Rập và
Trung Quốc đã có tới hàng chục nghìn bản sách.
Các cột mốc đáng nhớ của nghề in thế giới
- 1440: loại máy in kim ra đời.
- 1462: nghề ấn loát du nhập vào châu Âu.
- 1476: máy in lần đầu tiên hiện diện ở Westminster, Anh.
- 1518: Loại chữ La mã bắt đầu thay thế kiểu chữ Gôtic.
Sự phát triển của in ấn là một bước đột phá trong phổ biến tri thức: nhà in đã
được dựng lên ở Venice năm 1469 và tới năm 1500 thành phố này đã có tới 417 thợ
in. Năm 1470, Johann Heynlin lập nhà in ở Paris.
Năm 1476, nhà in được lập ở Anh quốc bởi William Caxton; năm 1539, một
người Ý tên là Juan Pablos đã lắp đặt một nhà in được nhập về ở thành phố Mexico,
Mexico. Stephen Day xây dựng nhà in đầu tiên của Bắc Mĩ ở vịnh Massachusetts
năm 1628 và là người góp phần lập nên nhà xuất bản Cambridge.
Và ngày nay sách báo thường được in bằng kĩ thuật in ốp sét - offset. Các kĩ
lớn của Đức là Dresden và Mainz.
12 Ông tổ nghề in của Việt Nam
Thám hoa Lương Như Hộc (Lương Nhữ Học) (1420 - 1501), tự Tường Phủ,
hiệu Hồng Châu, là danh sĩ, quan nhà Hậu Lê. Ông là người hai lần làm sứ giả sang
Trung Quốc và đã có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng,
Hồng Lục (nay là Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) và được tôn xưng là “ông tổ nghề khắc
ván in”.
Nhờ hai lần đi sứ sang Trung Quốc, ông đã học được nghề in mộc bản ở đây.
Khi về nước, ông đã truyền bá nghề này cho nhân dân hai làng Liễu Tràng, Hồng
Lục ở quê ông, khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì lẽ đó, ông đã được
coi là ông tổ sáng lập ra nghề in ở Việt Nam.
Mặc dù nghề in đã có trước đó, nhưng nó chỉ lưu hành trong phạm vi Phật
giáo và quản lý nhà nước.
Nhờ có sự truyền dạy của ông, làng Liễu Tràng - Hồng Lục đã trở thành trung
tâm khắc ván in chữ và sau là tranh khắc của cả nước. Nhiều bộ sách đã được in
khắc ở đây, trong đó phải kể đến bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” đồ sộ đã được những
người thợ làng Hồng Lục, Liễu Tràng khắc đầy đủ lần đầu tiên vào năm Chính Hòa
thứ 18 (1697).
Để ghi nhận công lao, dân làng Liễu Tràng đã lập đền thờ, tôn ông làm Thành
hoàng và coi là tổ nghề của họ. Hiện nay vẫn còn ngôi đình thờ Thám hoa ở làng
Liễu Tràng, đã được xếp hạng năm 1992, thường tổ chức lễ hội vào ngày 13-15
tháng 9 (âm lịch) hàng năm.
vàng vẫn còn được sử dụng. Máy in typo ở Việt Nam được cải tiến thành máy bế
đặt tay ứng dụng rất hiệu quả.
15 2. In flexo:
In flexo bắt nguồn từ chữ flexible, nghĩa là mềm dẻo. Khuôn in flexo cũng
thuộc dạng khuôn in cao như in typo, tuy nhiên nó được chế tạo từ chất dẻo (cao su
hoặc nhự phoyopolymer) bằng quá trình phơi quang hóa. Phương pháp in này được
sử dụng rộng rãi để in các lọai nhãn decal, bao bì hoặc thùng carton.
3. In ống đồng:
In ống đồng về nguyên lý nó là phương pháp in lõm, tức là trên khuôn in,
hình ảnh hay chữ viết (gọi là phần tử in) được khắc lõm vào bề mặt kim lọai. Khi in
sẽ có 2 quá trình: Mực (dạng lỏng) được cấp lên bề mặt khuôn in, dĩ nhiên mực cũng
sẽ tràn vào các chỗ lõm của phần tử in, sau đó một thiết bị gọi là dao gạt sẽ gạt mực
thừa ra khỏi bề mặt khuôn in, và khi ép in mực trong các chỗ lõm dưới áp lực in sẽ
truyền sang bề mặt vật liệu.
Khuôn in ống đồng có dạng trục kim lọai, làm bằng thép, bề mặt được mạ
một lớp đồng mỏng, phần tử in sẽ được khắc lên bề mặt lớp đồng này nhờ axít hoặc
hiện đại hơn là dùng máy khắc trục. Sau đó bề mặt lớp đồng lại được mạ một lớp
crôm mỏng để bảo vệ nên có người lại nói đây là phương pháp in ống crôm chứ
không phải in ống đồng.
16 In ống đồng được ứng dụng trong ngành in bao bì màng nhựa, đơn cử như
bao đựng OMO, Viso, bánh kẹo Bibica, hay cà phê Trung Nguyên, vvv tất cả đều
19
In offset là phương pháp in theo nguyên lý in phẳng, tức là trên khuôn in hình
ảnh, chữ viết và những vùng không in đều có độ cao bằng nhau (khi nhìn lên bề mặt
tấm bản in ta chỉ thấy nó phẳng lì như tờ giấy, chả thấy chìm nổi gì hết). Vậy thì
làm sao mà in được? Bí mật là ở đây, người ta ứng dụng sự đẩy nhau giữa dầu và
nước. Khuôn in làm từ một tấm nhôm mỏng (khỏang 0.25mm), trên khuôn in, phần
trắng (không in) có bề mặt là nhôm, còn phần tử in (hình ảnh, chữ viết) được cấu tạo
từ một lọai nhựa đặc biệt gọi là nhựa diazô. Lớp nhựa này có tính chất hút dầu, đẩy
nước, và mực in offset là lọai mực (có gốc) dầu. Trong quá trình in, trước tiên bề
mặt khuôn in đuợc chà một lớp nước mỏng, lớp nước này sẽ dính ướt vào vùng
không in (chính là lớp nhôm đó). Sau đó khuôn in mới được chà mực. Vì mực có
gốc dầu nên nó không thể dính vào phần trắng trên khuôn in (đang dính nước) được,
mà chỉ bắt dính lên phần tử in là nhựa diazo ưa dầu mà thôi. Chính vì vậy dù khuôn
in phẳng lì nhưng khi chà mực, mực nó không chà tùm lum lên bề mặt khuôn mà
chỉ truyền đúng vào phần tử in tạo thành hình ảnh, chữ viết trên bề mặt khuôn in mà
thôi. Và sau đó, khi ép in lên bề mặt vật liệu in sẽ cho ra hình ảnh cần in.
20 Vì sao gọi là offset (offset = truyền qua): khi in bản in không ép trực tiếp lên giấy
hay vật liệu in như những phương pháp in khác mà sẽ được ép lên bề mặt một tấm
cao su, sau đó tấm cao su này mới được ép lên bề mặt giấy. Việc này nhằm tạo ra sự
truyền mực tối ưu nhất (truyền từ bề mặt cứng > mềm > cứng).
đạt được nhiều kết quả mầu sắc khác nhau.
Output 4 tấm phim xong thì chuyển sang phơi bản kẽm
Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin nên giai đoạn này ở một số
nhà in lớn như các nhà in Trần Phú, Quân Đội, Nhân dân đã được bỏ qua tức là các
23 file từ giai đoạn chế bản sẽ qua trực tiếp giai đoạn phơi bản kẽm, cụ thể là vào trực
tiếp máy CTP (Computer to Plate) có chức năng đọc file và ghi bản trực tiếp
Giai đoạn 3: Phơi bản kẽm:
Khi đã có 4 tấm phim, người ta đem phơi từng tấm một lên bản kẽm (hiểu một
cách đơn giản hơn là đem chụp hình ảnh của từng tấm phim lên từng tấm bản kẽm
bằng máy phơi kẽm), đến đây ta có 4 bản kẽm đại diện cho 4 mầu C, M, Y, K để
bước sang phần in.
Máy chụp bản kẽm từ film
24
Máy hiện bản kẽm
Một số đơn vị in hiện đại trang bị máy phơi bản CTP để ghi bản trực tiếp từ
file không qua film.