Tài liệu dạy - học Địa lí tỉnh Lâm Đồng - Pdf 27

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 1
- Nhằm cung cấp các thông tin chính thức về Lâm Đồng phục vụ việc dạy học
trong môn Địa lý ở lớp 9 và 12 trong chương trình Địa Lý địa phương (lớp 9 : 4 bài ,
lớp 12 : 3 bài).
- Các nội dung đều được đưa ra khá phong phú , trọng tâm theo yêu cầu SGK và
HDCKTKN do Bộ GD ban hành.
-Tuy nhiên số liệu chưa được cập nhật đến thời điểm hiện tại (do chưa có thời gian)
(Mặc dù bản thân đã có số liệu của Tổng điều tra dân số, nhà ở của tỉnh Lâm Đồng
2009 và Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng
2010 và Niên giám thống kê Tỉnh Lâm Đồng năm 2010)
-Việc biên soạn giáo án như thế nào là tùy thuộc cấp học và từng giáo viên.
(Nên rút gọn , súc tích và có nhận định đúng về các điều kiệ n)
- Gv có thể cho HS làm việc, chuẩn bị ở nhà theo nhóm theo từng chủ đề trình
chiếu trên các phần mềm chuyên dụng (Power Point , Violet , ActivInspire….) để có
thêm hình ảnh , phim…vv thêm sinh động.
- Hi vọng đây là tư liệu hữu ích cho các bạn ở Lâm Đồng
-Mọi trao đổi , góp ý có thể liên hệ qua Email : [email protected]

-Hi vọng ở lần sau sẽ đưa lên thật đầy đủ và cập nhật các số liệu , chỉ tiêu mới
nhất.
-Đặc biệt sẽ hướng dẫn bằng Video chi tiết về vẽ tất cả các dạng biểu đồ bằng
phần mềm chuyên nghiệp nhất chưa từng có trên Internet (việc điều chỉnh nhanh
thích hợp khoảng thời gian các năm)
-Các bạn có thể tìm và tham khảo các tài liệu do Nguyễn Xuân Hùng cung cấp tại
Thư viện giáo án – Địa lý – Tài liệu tham khảo. Chúc thành công & cảm ơn!
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 2

- Đam Rông
với 145 xã, phường, thị trấn; trong đó có 47 xã vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm nằm trong danh sách
các xã đặc biệt khó khăn. Thành phố Đà Lạt là trung tâm hành chính - kinh tế - xã hội của tỉnh, cách các
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 3

trung tâm kinh tế lớn của vùng và khu vực không xa, hướng nam cách thành phố Hồ Chí Minh 300 km, Biên
Hòa 270 km, Vũng Tàu 340 km, hướng đông cách cảng biển Nha Trang 210 km.
ĐỊA HÌNH
Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên, núi
cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí
hậu, thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng.
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam.
- Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1.300m đến hơn 2.000m
như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m).
- Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m).
- Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán bình nguyên.
ĐỊA CHẤT
Tham gia vào cấu trúc địa chất tỉnh Lâm Đồng bao gồm các đá trầm tích, phun trào, xâm nhập có tuổi từ
Jura giữa đến Đệ Tứ. Các trầm tích, phun trào được phân ra 14 phân vị địa tầng có tuổi và thành phần đá khác
nhau. Các đá xâm nhập trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng thuộc 4 phức hệ: Định Quán, đèo Cả, Cà Ná, Cù Mông.
Địa phận tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía đông nam đới Đà Lạt. Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền Cambri bị
sụt lún trong Jura sớm – giữa và phần lớn diện tích đới bị hoạt hoá magma kiến tạo mạnh mẽ trong Mesozoi
muộn và Kainozoi
KHOÁNG SẢN

Khoáng sản trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng thuộc thời đại sinh khoáng Mesozoi muộn – Kainozoi sớm và thời
đại sinh khoáng Kainozoi.
Theo kết quả điều tra thăm dò, Lâm Đồng có 25 loại khoáng sản, trong đó bauxite, bentonite, cao lanh, đá
Granít, thiếc, diatomite và than bùn trữ lượng lớn, có khả năng khai thác ở quy mô công nghiệp.

§
Dị thường phóng xạ
§
Nước khoáng

THỔ NHƯỠNG

Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm 8 nhóm đất và 45 đơn vị đất:
Nhóm đất phù sa (fluvisols)
Nhóm đất glây (gleysols)
Nhóm đất mới biến đổi (cambisols)
Nhóm đất đen (luvisols)
Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols)
Nhóm đất xám (acrisols)
Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols)
Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols)
Đất có độ dốc dưới 25
o
chiếm trên 50%, đất dốc trên 25
o
chiếm gần 50%. Chất lượng đất đai của Lâm Đồng
rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000
ha đất bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày có
giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, dâu tằm. Diện tích trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu
ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập trung tại Đà Lạt, Đơn
Dương, Đức Trọng; chè, cà phê, rau, hoa ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại, có những loại giá trị phẩm cấp
cao. Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuy diện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng
khai thác thấp vì bị úng ngập hoặc bị khô hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết vón, độ màu mỡ thấp, hệ số
sử dụng không cao Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất trồng đồi trọc
(khoảng 40%).

Sông La Ngà
§
Sông Đa Nhim
Hệ thống cung cấp nước
Hệ thống cấp nước đã hoàn thiện tương đối tốt, hiện có: nhà máy cấp nước Đà Lạt, công suất 35.000
m
3
/ngày-đêm hệ thống cấp nước thị xã Bảo Lộc, công suất 10.000 m
3
/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Đức
Trọng, công suất 2.500 m
3
/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Di Linh, công suất 3.500 m
3
/ngày-đêm; hệ
thống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6.000 m
3
/ngày-đêm. Đồng thời với việc cấp nước, hệ thống xử lý
nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang được hoàn thiện.
DÂN TỘC VÀ DÂN CƯ
Dân số toàn tỉnh có đến 31/12/2005 là 1.169.851 người, trong đó dân số nông thôn 649.412 người, chiếm
61,47%. Mật độ dân số 118 người/km
2

Lâm Đồng là miền đất hội tụ nhiều dân tộc anh, em trong cả nước với trên 40 dân tộc khác nhau cư trú và
sinh sống, trong đó đông nhất người Kinh chiếm khoảng 77%, đến nguời K’Ho chiếm 12%, Mạ chiếm 2,5%,
Nùng chiếm gần 2%, Tày chiếm 2%, Hoa chiếm 1,5%, Chu-ru 1,5% , còn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới
1% sống thưa thớt ở các vùng xa, vùng sâu trong tỉnh.
Lễ hội, rượu cần và dệt thổ cẩm là nét đặc trưng cho văn hóa dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng.
Lâm Đồng là vùng đất mới có sức thu hút dân cư trong cả nước đến lập nghiệp, quần thể dân cư ở đây chưa

kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có năng suất, chất lượng cao phù hợp với
điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của từng vùng. Hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích không ngừng tăng lên, qua
kết qủa sơ kết chương trình 50 triệu đồng/ha/năm do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phát động, tính
đến nay toàn tỉnh có trên 8.000 ha canh tác đạt doanh thu trên 50 triệu đồng/ha/năm. Thông qua đầu tư thâm
canh, ứng dụng kỹ thuật công nghệ sinh học vào sản xuất đã nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích:
vùng chuyên canh rau-hoa-dâu tây ở Đà Lạt-Lạc Dương có trên 100 mô hình trồng rau, hoa, dâu tây đạt doanh
thu từ 50 triệu đồng trở lên, trong đó có trên 50% đạt doanh thu từ 150-480 triệu đồng/ha/năm; vùng chuyên
canh chè chất lượng cao, tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện có 500 ha chè đạt doanh
thu từ 150-180 triệu đồng/ha, cá biệt có doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 2-3 tỷ đồng/ha/năm. Kinh tế nông
thôn phát triển theo hướng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với phát triển tổng hợp các ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng về đất đai, vốn, lao động và kinh nghiệm sản
xuất. Đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới và có hiệu quả kinh tế-xã hội trong nông nghiệp như kinh tế
trang trại, kinh tế vườn rừng, vườn đồi, nông - lâm kết hợp với nhiều thành phần tham gia, kể cả đồng bào dân
tộc. Tổng số trang trại trên địa bàn tỉnh tăng mạnh trong thời kỳ 2001-2005, từ 716 trang trại năm 2000 tăng lên
1.978 trang trại năm 2005, gấp 2,76 lần so năm 2000. Đến năm 2005, các trang trại đã sử dụng tổng số vốn
455.128 triệu đồng và 8.389 ha đất để sản xuất kinh doanh tạo ra 392.339 triệu đồng giá trị sản lượng hàng hoá
và dịch vụ. Thu nhập bình quân một trang trại trong năm 2005 đạt trên 148 tỷ đồng, gấp 3,47 lần so năm 2000,
bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 thu nhập một trang trại tăng 28,27%.
* Trồng trọt:
Quy mô diện tích gieo trồng đối với cây hàng năm xu hướng tăng lên qua các năm do điều chỉnh cơ cấu mùa
vụ, đẩy mạnh khai hoang, phục hóa trên diện tích có khả năng nông nghiệp chưa sử dụng và tăng vụ, trồng xen,
trồng gối. Đến năm 2005, diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 97.134 ha, tăng 19.550 ha so năm 2000, quy
mô diện tích cây hàng năm tăng liên tục trong 5 năm với mức tăng bình quân mỗi năm 4,6%. Diện tích cây thực
phẩm tăng nhanh từ 21.816 ha năm 2000, tăng lên 32.719 ha năm 2005, bình quân hàng năm tăng 8,4%; trong
đó cây rau các loại và cây hoa tăng nhanh, diện tích rau từ 18.879 ha năm 2000 tăng lên 29.378 ha ( tăng 10.499
ha) và cây hoa từ 962 ha năm 2000 tăng lên 2.270 ha (tăng 1.308 ha). Riêng diện tích gieo trồng cây lương thực
ổn định ở mức 50.000 đến 51.000 ha trong 5 năm .
Đối với cây lâu năm, khác với thời kỳ 1996-2000, diện tích gieo trồng luôn luôn biến động theo chiều hướng
ngày càng tăng do hiệu qủa sản xuất cao và giá trị mang lại lớn như cây cà phê, chè, điều Nhưng thời kỳ
2001-2005, thực hiện chủ trương của Chính phủ điều chỉnh kịp thời các chỉ tiêu định lượng đến năm 2010, theo đó

167.063 165.685 167.296 168.359 171.254
Cùng với việc ổn định, tăng diện tích cây trồng, sản lượng các loại cây trồng chủ yếu trong thời kỳ 2001-
2005, cũng tăng lên cả về số lượng chủng loại cũng như chất lượng sản phẩm. Cụ thể sản lượng một số cây
trồng chủ yếu như sau :
Sản lượng lương thực: Do tác động của khoa học kỹ thuật như giống cây trồng, đầu tư thâm canh, điều hoà
nước tưới tiêu, phòng trừ dịch bệnh nên năng suất cây lương thực nhất là cây lúa tăng lên rõ rệt. Năng suất lúa
toàn tỉnh từ 31,07 tạ/ha năm 2000, tăng lên 39,21 tạ/ha năm 2004 và 38,37 tạ/ha ước năm 2005. Sản lượng
lương thực có hạt tiếp tục tăng một cách ổn định chủ yếu do tăng năng suất cây trồng và đưa các giống mới vào
sản xuất đại trà; tỷ lệ giống lúa mới và lúa cao sản hàng năm chiếm trên 50% diện tích và giống ngô lai chiếm
khoảng 90% diện tích gieo trồng. Sản lượng lương thực có hạt năm 2005 đạt 215.877 tấn, tăng 38,33% so năm
2000, bình quân mỗi năm thời kỳ 2001-2005 tăng 6,7%; trong đó sản lượng lúa tăng từ 102.055 tấn năm 2000
lên 129.721 tấn, tăng bình quân 4,9%/năm và sản lượng ngô từ 54.005 tấn năm 2000 tăng lên 86.156 tấn năm
2005, tăng bình quân 9,8% hàng năm. Sản lượng lương thực tăng, đã khắc phục được tình trạng thiếu ăn trong
dân cư, khắc phục dần tình trạng đói giáp hạt, ổn định đời sống xã hội .
Sản lượng các loại nông sản hàng hóa tiếp tục tăng, nhất là các loại cây có giá trị kinh tế như cây cà phê, chè
và cây rau và hoa. Sản lượng cà phê năm 2005 ước đạt 211.804 tấn, tăng trên 26,6% so năm 2000, bình quân
hàng năm tăng 4,8%; tuy nhiên mức tăng không ổn định qua các năm do sản lượng cà phê chịu ảnh hưởng trực
tiếp của thời tiết, giá cả; cá biệt năm 2002 sản lượng cà phê giảm gần 38% so năm 2001 (giảm 67.576 tấn) do
hạn hán.
Cây chè, tuy diện tích tăng chậm nhưng tương đối ổn định trong những năm gần đây, song sản lượng tăng
bình quân hàng năm đạt 5,3%, từ 125.7179 tấn năm 2000, lên 161.938 tấn năm 2005.
Ngoài 2 loại cây có quy mô lớn như cà phê, chè, một số cây trồng có giá trị kinh tế cao đang tiếp tục ổn định
và phát triển như dâu tằm, điều, hồ tiêu. Sản lượng dâu tằm năm 2005 đạt 48.964 tấn, gấp hơn 2 lần so năm
2000, bình quân hàng năm tăng 15,22%; sản lượng điều năm 2005 đạt 4.833 tấn, gấp 4,9 lần so năm 2000, bình
quân hàng năm tăng 37,3%.
Sản lượng cây rau: giá cả một số chủng loại rau, nhất là các loại rau thương phẩm trong những năm gần đây
ổn định và tăng cao nên cây rau có xu hướng phát triển mạnh cả về quy mô diện tích cũng như sản lượng với
những chủng loại mang tính phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng như : Sú, lơ, cải thảo, cà rốt, khoai tây, sà
lách, cà chua Đến năm 2005, diện tích rau đạt 29.378 ha, tăng 55,61% so năm 2000, sản lượng rau thương
phẩm tăng nhanh, đạt 748.111 tấn năm 2005, tăng bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 là 11,59%. Ngoài các

nhưng do tâm lý tiêu dùng nên các sản phẩm từ gia cầm tiêu thụ chậm, thậm chí có thời điểm không tiêu thụ
được ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống các hộ chăn nuôi gia cầm, vì vậy tổng đàn gia cầm giảm
mạnh so năm 2003. Đến năm 2005, đàn gia cầm còn 1.819,8 ngàn con, giảm 1.129,2 ngàn con so năm 2003,
giảm 110,6 ngàn con so năm 2004.
* Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp:
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh về định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi giai đoạn 2002-
2005. Trong 4 năm qua cơ cấu cây trồng từng bước được chuyển đổi, trên cơ sở khai thác sử dụng hợp lý quỹ
đất hiện có, thông qua phân tích đặc điểm đất đai, khí hậu, thời tiết vùng sinh thái để xác định cây trồng vật nuôi
thích hợp cho từng vùng, lập quy hoạch phát triển tập trung, chuyên môn hóa sản xuất. Theo hướng đó, trong
thời gian qua, quy hoạch sản xuất nông nghiệp được hình thành tương đối đồng bộ, phù hợp với đặc điểm tự
nhiên từng địa phương trong tỉnh. Đến nay tỉnh đã xác định nhóm cây trồng chủ yếu và hình thành các vùng cây
công nghiệp, cây lương thực và cây thực phẩm. Đối với cây hàng năm, điều chỉnh chuyển dần một số diện tích
cây lương thực năng suất thấp sang cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Đối với cây lâu năm, ưu tiên
phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, điều. dâu tằm trên cơ sở ổn định diện tích hiện có các
loại cây để đầu tư thâm canh kết hợp khai thác diện tích đất trống, vùng gò đồi trồng cây lâu năm, xây dựng các
vùng chuyên canh cây công nghiệp tập trung chủ yếu.
Từ năm 2002-2004, tổng diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng là 18.244 ha, trong đó chuyển diện tích cà phê
là 11.849 ha, chuyển một số cây trồng khác kém hiệu qủa là 6.395 ha sang trồng chè, điều, rau hoa, cây ăn quả,
hỗ trợ mua bò đực giống Zê bu là 100 con. Tổng vốn nhà nước đầu tư cho chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng,
vật nuôi là 23.097 triệu đồng. Riêng năm 2005 kế hoạch hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là 6.408
triệu đồng, gồm hỗ trợ chuyển đổi giống chè 105 ha, giống cà phê 110 ha, giống dâu tây 1 ha, giống dâu tằm
105 ha, giống điều ghép 160 ha, giống cây ăn qủa 150 triệu đồng, giống lúa cao sản 40 tấn, giống cây bơ ghép
2000 cây, giống cá tôm 167 triệu trứng giống tằm 500 hộp, bò đực lai sind, Zê bu 70 con, nhập cây giống mới
174 triệu đồng. Trợ giá thuộc chương trình hàng chính sách miền núi 2.908 triệu đồng, hỗ trợ chương trình thuỷ
sản chăn nuôi 1.000 triệu đồng. Đến nay, hầu hết các chương trình đã hoàn thành khâu thủ tục về hồ sơ thiết kế
dự toán, đã và đang triển khai thực hiện.
Tỷ trọng cơ cấu cây trồng qua các năm như sau :

2001 2002 2003 2004 2005
Cơ cấu ( %) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

giảm xuống còn 80,19% năm 2005, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên từ 14,63% năm 2000 đến 17,53% năm
2005 và hoạt động dịch vụ nông nghiệp từ 1,89% năm 2001 tăng lên 2,28% năm 2005.
Bảng số liệu về cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp :

2001 2002 2003 2004 2005
Cơ cấu nội bộ ngành NN ( %)
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1 . Trồng trọt 83,48 81,85 83,02 80,79 80,19
2 . Chăn nuôi 14,63 16,09 14,99 17,14 17,53
3 . Dịch vụ 1,89 2,06 1,99 2,06 2,28
Các thông số về tốc độ tăng trưởng và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm thể hiện nông nghiệp
vừa phát huy thế mạnh về cây công nghiệp dài ngày (trồng trọt) vừa phát triển toàn diện cả về chăn nuôi. Tỷ
trọng của 2 ngành này trong thời kỳ vừa qua luôn ở mức cân đối với tỷ số: Trồng trọt 80-84%, chăn nuôi 14-
18%. Trong trồng trọt, tập trung vào các nhóm cây trồng chính: Cây công nghiệp tập trung ở cây cà phê, cây
chè, cây dâu tằm, điều; cây lương thực chủ yếu là cây lúa; cây thực phẩm tập trung vào rau, đậu các loại và các
loại hoa.
* Công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp:
Công tác đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi 5 năm qua đã được quan tâm đầu tư của Trung ương, Bộ
Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh và các thành phần kinh tế do vậy số công trình được đầu tư xây dựng khởi
công mới, tu sửa nâng cấp nhiều hơn so với 5 năm trước. Chương trình thực hiện kiên cố hoá kênh mương đạt
hiệu quả cao với 29 công trình, tổng chiều dài kênh mương kiên cố hóa là 190,386 km. Đến nay, trên địa bàn
toàn tỉnh có 263 công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ có năng lực tưới theo thiết kế là 26.618 ha cây trồng các
loại. Năng lực tưới thực tế các công trình nâng lên rõ rệt so với năng lực thiết kế, đến năm 2005, tổng diện tích
các loại cây trồng được tưới 64.000 ha, trong đó lúa đông xuân 10.000 ha, lúa hè thu sớm 5.500 ha, lúa mùa
18.900 ha, cây công nghiệp và cây ăn qủa 22.600 ha và rau hoa 7.000 ha.

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 10

LÂM NGHIỆP

Thực hiện chủ trương hạn chế khai thác, tách đơn vị khai thác khỏi đơn vị quản lý bảo vệ rừng nên khối
lượng khai thác gỗ rừng tự nhiên ngày càng giảm; giai đoạn 2001-2002 bình quân khoảng 30.000 m
3
/năm, giai
đoạn 2004-2005 bình quân khoảng 15.000 m
3
/năm. Khối lượng gỗ rừng trồng khai thác ngày càng tăng (năm
2000 khoảng 4.000 m
3
/năm, năm 2005 khoảng 40.000 m
3
/năm). Sản lượng gỗ khai thác các loại xu hướng
giảm dần, đặc biệt giảm mạnh từ năm 2003 đến nay. Sản lượng gỗ khai thác các loại giảm từ 79.788 m
3
năm
2003 xuống còn 45.258 m
3
năm 2005, giảm 34.530 m
3
; trong đó các đơn vị lâm nghiệp khai thác từ 63.220 m
3

năm 2003 giảm xuống còn 35.046 m
3
năm 2005, giảm 28.174 m
3
. Bình quân thời kỳ 2001-2005, sản lượng gỗ
khai thác mỗi năm là 59.561 m
3
, mức khai thác gỗ bình quân hàng năm phù hợp với yêu cầu phát triển tự

Với phương châm đó, số lượng doanh nghiệp đã giảm xuống từ 26 doanh nghiệp năm 2001 xuống 22 doanh
nghiệp năm 2005. Trong đó doanh nhiệp nhà nước địa phương quản lý từ 13 doanh nghiệp năm 2001 còn 11
doanh nghiệp năm 2005, giảm 2 doanh nghiệp (giảm 15,38%).
Tổng hợp chung về cơ sở và lao động sản xuất công nghiệp :

2001 2002 2003 2004 2005
1. Cơ sở sản xuất ( cơ sở ) 6.455 5.754 6.330 6.154 6.364
- Doanh nghiệp nhà nước 26 27 25 24 22
Trung ương 13 13 12 13 11
Địa phương 13 14 13 11 11
- Ngoài nhà nước 6.414 5.711 6.283 6.103 6.312
2. Lao động ( người ) 28.991 26.238 29.165 28.440 29.870
- Khu vực nhà nước 7.040 6.214 7.702 7.630 6.400
- Khu vực ngoài nhà nước 21.951 20.024 21.463 20.810 23.470
Khu vực công nghiệp ngoài nhà nước cũng đang trong quá trình đổi mới về tổ chức theo hướng đa dạng hoá
về thành phần và tăng về số lượng (trừ thành phần kinh tế cá thể). Do được đầu tư cơ sở sản xuất phát triển,
năng lực sản xuất tăng, thu hút lực lượng lao động xã hội tham gia vào sản xuất công nghiệp ngày càng tăng. Cụ
thể, năm 2001 có 21.951 lao động đến năm 2005 có 23.470 lao động tham gia, tăng 1.519 lao động so năm
2001.
Do được tăng cường đầu tư, năng lực sản xuất tăng nhanh, đổi mới trang thiết bị và quy trình công nghệ mới,
thay thế dần máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu. Kết hợp với đổi mới cơ chế quản lý đã thúc đẩy sản xuất công
nghiệp toàn tỉnh vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển.
Trong thời kỳ 2001-2005, gía trị sản xuất công nghiệp (CĐ 94) tăng bình quân 17,8% hàng năm, trong đó
năm 2001 tăng 11,2%; 2002 tăng 7,03%; 2003 tăng 10,29%; 2004 tăng 19,88% và ước năm 2005 tăng 43,86%,
tăng mạnh do tính bổ sung thêm giá trị điện của công ty Hàm Thuận-Đa Mi (theo Quyết định của Bộ Công
nghiệp). Cả 3 ngành công nghiệp đều tăng, trong đó công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất, phân phối
điện, nước tăng mạnh; bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005, ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 13,47%,
ngành công nghiệp chế biến tăng 19,70% và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước tăng 49,54%.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 12

Sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã phát triển đúng hướng, cụ thể là căn cứ vào khả năng về nguyên
liệu sẵn có của địa phương để lựa chọn phương án đầu tư thích hợp, khai thác có hiệu quả tiềm năng về tài
nguyên, khoáng sản vào phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Phương án sản phẩm sản xuất tương đối phù
hợp, được thị trường chấp nhận, chiếm lĩnh thị phần ngày càng được mở rộng. Điển hình là các sản phẩm như
phân vi sinh, chè chế biến, cà phê chế biến, bauxite, lụa tơ tằm, sợi tơ tằm , sản phẩm hàng hóa do công nghiệp
sản xuất đa dạng về chủng loại, tăng về khối lượng và chất lượng. Bên cạnh các sản phẩm có trình độ kỹ thuật,
có giá trị kinh tế hàng hoá cao, phục vụ cho sản xuất, xây dựng, ngành công nghiệp còn sản xuất nhiều loại sản
phẩm phục vụ tiêu dùng khác như sản phẩm may mặc, chế biến lương thực, chế biến gỗ, lâm sản góp phần
khắc phục tình trạng mất cân đối về hàng hoá địa phương.
Vai trò công nghiệp, nhất là một số ngành công nghiệp có quy trình công nghệ, kỹ thuật cao đã thực sự có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Công nghiệp còn là đầu mối tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy
tăng trưởng GDP; phát triển công nghiệp đã góp phần quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu chung của nền kinh tế
và của chính khu vực công nghiệp-xây dựng. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 10,38% năm 2000 lên
16,83% năm 2005, góp phần nâng tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng từ 13,40% năm 2000 lên 18,70%
năm 2005.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 13

Kết quả sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã chứng minh: Đầu tư cho phát triển công nghiệp không
những nâng cao năng lực của nền công nghiệp, tạo tiền đề cho quá trình phát triển của các ngành kinh tế khác,
nhằm tăng nhanh khối lượng hàng hoá, nhất là các sản phẩm vật tư kỹ thuật, sản phẩm phục vụ xuất khẩu, góp
phần tăng thu ngân sách, từng bước thực hiện chuyển cơ cấu kinh tế, tạo môi trường để đưa nền kinh tế phát
triển theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời sự phát triển công nghiệp đã tạo ra hàng vạn chỗ làm việc
cho người lao động, không chỉ trong ngành công nghiệp mà còn ở các ngành kinh tế khác, trước hết là các
ngành liên quan chặt chẽ đến sản xuất công nghiệp như sản xuất nông, lâm, thuỷ sản làm nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến và thương mại làm chức năng bán hàng hoá cho công nghiệp .
Trong những năm qua, công tác quy hoạch, triển khai đền bù giải toả, thu hút vốn đầu tư để triển khai phát
triển một số dự án lớn có tác động quyết định, đột phá đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh nói chung, ngành công
nghiệp nói riêng được triển khai tích cực. Đến nay, đã triển khai quy hoạch xây dựng 12 cụm, điểm công
nghiệp, quy hoạch 63 điểm thuỷ điện, thành lập và triển khai chương trình khuyến công, đầu tư hạ tầng và kêu

Trung tâm du lịch phía Nam gồm thành phố Bảo Lộc và vùng phụ cận: Bảo Lộc nằm trên cao nguyên Bảo
Lộc - Di Linh có độ cao 1.000 m, khí hậu ôn hòa, có cảnh quan thiên nhiên đẹp. Đây là địa bàn cư trú của các
dân tộc ít người, mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng, độc đáo rất thích hợp cho phát triển du lịch văn hóa.
Tại đây còn có các khu di chỉ có giá trị phù hợp cho tham quan, nghiên cứu như khu di chỉ Phù Mỹ - Cát Tiên
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 14

Các loại hình du lịch của Lâm Đồng khá phong phú, đa dạng: du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ
dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch dưới tán rừng, du lịch vườn, du lịch văn hóa - thể thao
Một số cảnh quan du lịch tự nhiên đặc sắc: Hồ Xuân Hương, Đan Kia – Suối Vàng, Tuyền Lâm, Than Thở,
Thung lũng Tình yêu, Thung lũng vàng, Đa Nhim; thác Cam Ly, Đatanla, Prenn, Liên Khương, Gougah,
Pongour, Đambri, Bobla, Li Liang, thác Voi, Pong Giang; đồi Cù, núi Lang Bian,…
Các di tích văn hoá lịch sử như Dinh I, Dinh II, Dinh III, khách sạn Palace; chùa Linh Sơn, Linh Phong;
Thiền viện Trúc Lâm; nhà thờ Chánh toà, Cam Ly; Nghĩa trang Liệt sĩ; khu mộ cổ của dân tộc Mạ, khu di tích
Cát Tiên; các lễ hội văn hoá dân gian như lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng,… là điểm hẹn của du khách trong
nước và quốc tế.
Tiềm năng du lịch
Về lâu dài, du lịch là nhân tố đột phá và là ngành kinh tế động lực của Lâm Đồng để đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội. Lâm Đồng có lợi thế để phát triển du lịch, hiện tại hai khu du lịch trọng điểm: hồ Tuyền
Lâm và Suối Vàng – Dankia của tỉnh đã được quy hoạch đang chờ đón các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên
cạnh đó, Lâm Đồng đã có chủ trương cho phép các nhà đầu tư thuê đất dưới tán rừng để đầu tư du lịch theo
hướng du lịch sinh thái, du lịch dưới tán rừng.
THƯƠNG MẠI
Hoạt động nội thương:
Hoạt động thương mại - dịch vụ thời kỳ 2001-2005 đã tiếp cận và hoà nhập với kinh tế thị trường, đảm bảo
cung cấp cơ bản hàng hoá, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Hàng hoá trên thị trường phong phú, đa dạng,
việc mua bán thuận lợi, đáp ứng khá tốt nhu cầu xã hội các tầng lớp dân cư trong tỉnh. Mạng lưới kinh doanh
thương mại phát triển nhanh, đa dạng về ngành nghề bao gồm cả thương nghiệp, nhà hàng ăn uống, dịch vụ
phục vụ và du lịch. Do đó đã mở rộng mạng lưới kinh doanh phục vụ xuống tận cơ sở, địa bàn khu dân cư, tạo
thành mạng trung gian kinh tế, làm chức năng giao lưu, trao đổi hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ .

Năm Số Kinh tế
Kinh tế
ngoài
Kinh tế có vốn
Nhà nước quốc doanh
đầu tư nước
ngoài
2001 100 10,44 88,41 1,15
2002 100 11,85 86,99 1,16
2003 100 10,59 88,34 1,07
2004 100 10,87 76,73 12,40
2005 100 9,44 89,25 1,31

Cùng với phát triển thương nghiệp ở thành phố, thị xã và các thị trấn, mạng lưới thương nghiệp tiếp tục phát
triển đến các vùng sâu, vùng xa góp phần thúc đẩy giao lưu hàng hoá, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của
nhân dân ở vùng này.
Thời kỳ 2001-2005 hoạt động kinh doanh du lịch có bước phát triển mạnh. Các điểm danh lam được quy
hoạch, tôn tạo, nâng cấp; các khu vui chơi giải trí được xây dựng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách. Nhiều
khu du lịch mới đã được các nhà đầu tư trong và ngoài nước triển khai xây dựng, tạo thêm một số sản phẩm du
lịch hấp dẫn du khách. Các khu du lịch trọng điểm thu hút được nhiều dự án đầu tư lớn là cơ sở để phát triển
ngành du lịch trong những năm tiếp theo. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ tăng nhanh, có sức chứa tổng cộng
khoảng 30.000 khách, chất lượng kinh doanh được nâng lên đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của du khách
trong và ngoài nước. Vì vậy lượt khách đến Lâm Đồng tăng bình quân hàng năm 8,22%, năm 2000 có 725.000
lượt khách (qua lưu trú) đến tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng tăng lên 1.075.933 lượt khách
năm 2005. Trong đó khách quốc tế năm 2005 có 100.000 lượt khách so với năm 2000 là 71.000 lượt, tăng bình
quân hàng năm 7,09%; khách trong nước từ 654.000 lượt khách năm 2000 tăng lên 975.933 lượt năm 2005,
tăng bình quân hàng năm 8,33%. Tổng ngày khách lưu trú trên địa bàn Lâm Đồng năm 2005 là 2.075.792 ngày
so với 1.305.000 ngày năm 2000, tăng bình quân 9,73%. Số ngày khách lưu trú bình quân 1 du khách đến Lâm
Đồng có xu hướng tăng lên, từ 1,8 ngày năm 2000 tăng lên 1,93 ngày năm 2005 kéo theo hệ số sử dụng buồng,
giường của các cơ sở lưu trú tăng lên.

nghiệp và nhân dân chiếm 46,7%, vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA) 10,4%. Cơ cấu đầu tư đã chuyển hướng
tăng nhanh tỷ trọng đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội; tỷ trọng đầu tư cho ngành nông, lâm, thuỷ sản chiếm 19,7%,
ngành công nghiệp 22,6%, ngành dịch vụ 21,5%, cở sở hạ tầng 36,2%.
Vốn đầu tư xã hội tăng nhanh trong những năm qua, từ 1.091,898 tỷ đồng năm 2000 tăng lên 2.259,928 tỷ
năm 2004 và 3.042,939 tỷ đồng năm 2005, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 22,75%. Tỷ trọng vốn đầu tư
toàn xã hội thời kỳ 2001-2005 chiếm trong GDP bình quân 39,88% và tăng lên qua các năm từ 37,25% năm
2000 lên 40,89% năm 2004 và 42,45% năm 2005. Tốc độ phát triển các nguồn vốn đầu tư qua các năm nhìn
chung theo chiều hướng tích cực. Trong số các nguồn vốn cấu thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn nhà
nước năm 2005 đã gấp 3,4 lần năm 2001, vốn tín dụng gấp 5,27 lần, vốn đầu tư nước ngoài gấp 6,43 lần và vốn
ngoài nhà nước gấp 1,57 lần so năm 2001.
Về cơ cấu nguồn vốn thì vốn nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng tăng và vốn ngoài
nhà nước chiếm tỷ trọng ngày càng giảm. Vốn nhà nước năm 2001 chiếm 44,55% tổng vốn đầu tư nhưng đến
năm 2005 đã tăng lên 60,24%; vốn đầu tư nước ngoài từ 2,65% tăng lên 6,78% năm 2005. Còn tỷ lệ vốn ngoài
nhà nước từ 52,81% năm 2001 giảm xuống còn 32,98% năm 2005.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng đóng góp một phần tích cực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Về
cơ cấu đầu tư, nét nổi bật trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong thời gian qua tại Lâm
Đồng chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm. Các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tham gia phát
triển nguồn nhân lực.
Ngoài nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế -xã
hội của Tỉnh. Tuy lượng vốn ODA chỉ chiếm khoảng 1% tổng vốn đầu tư xã hội nhưng đã tập trung đầu tư vào
những lĩnh vực ưu tiên, cải tạo, nâng cấp và phát triển một bước cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội. Trong đó có một
số dự án hạ tầng xã hội đã bắt đầu phát huy tác dụng, góp phần phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân,
đặc biệt là các dự án đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc.
Ngoài giá trị công trình đầu tư bằng nguồn vốn của ngân sách và vốn đóng góp của nhân dân còn có một
lượng vốn rất lớn của dân cư tự đầu tư xây dựng nhà ở, vật kiến trúc để phục vụ sinh hoạt của từng hộ nhân dân.
Đến năm 2005, tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhà ở tự làm, tự ở trong các tầng lớp dân cư khoảng 106 tỷ
đồng. Năm năm qua, cũng là những năm mà các hộ dân cư đã đầu tư xây dựng nhà cửa với tốc độ nhanh nhất và
khối lượng khá lớn, góp phần không nhỏ đẩy nhanh mức vốn đầu tư phát triển trên phạm vi toàn tỉnh .
* Tăng cường đầu tư thực hiện các chương trình kình tế - xã hội của tỉnh:

cho kiên cố hoá 75,7 km kênh mương.
- Chương trình kiên cố hoá đường giao thông nông thôn: Thực hiện chương trình này đến nay đã tiến hành
nâng cấp được 44,37 km đường đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi với số vốn tín dụng đã vay: 25.750 triệu đồng.
- Chính sách khám chữa bệnh người nghèo: Đã thực hiện 35.598 triệu đồng, khám và điều trị ngoại trú cho
1,2 triệu lượt người, khám điều trị nội trú cho 143.000 lượt người.
Nhìn chung, thời kỳ 2001-2005, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là giao thông, bưu chính
viễn thông, điện, nước sạch, thuỷ lợi và các công trình phúc lợi công cộng không ngừng được củng cố và tăng
cường tạo tiền đề cho phát triển kinh tế.
GIAO THÔNG
Đường bộ
Hiện nay hệ thống đường bộ của Lâm Đồng tương đối dày và phân bố khá đều khắp trong tỉnh, cho phép các
phương tiện giao thông có thể đến được hầu hết các xã và đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân. Nếu chỉ
tính riêng các tuyến quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện, đến nay mạng lưới đường bộ ở Lâm Đồng có tổng
chiều dài 1.744km, trong đó tổng chiều dài:
Hệ thống quốc lộ (20, 27, 28) là 412,15km
Hệ thống đường tỉnh là 346,25km
Hệ thống đường huyện là 985,69km
Các tuyến QL 20, 27, 28, 55 nối liền Lâm Đồng với vùng Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh
thuộc vùng Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, tạo cho Lâm Đồng có mối kinh tế - xã hội bền chặt
với các vùng, các tỉnh trong khu vực.
Đường hàng không
Cảng hàng không Liên Khương nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 30 km có tổng diện tích 160ha đang
được nâng cấp thành sân bay quốc tế với đường băng dài 3.250 m có thể tiếp nhận các loại máy bay tầm trung
như A.320, A.321 hoặc tương đương. Đoạn đường từ sân bay Liên Khương đến Đà Lạt đã được nâng cấp, xây
dựng thành đường cao tốc 4 làn xe. Do nhu cầu đi lại của nhân dân ngày càng tăng nên hiện nay hàng ngày đều
có chuyến bay từ Đà Lạt đi Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 18

Đường thuỷ

Doanh thu hoạt động bưu chính, viễn thông không ngừng tăng lên, từ 115.051 triệu đồng năm 2000 lên
336.030 triệu đồng năm 2005 (tăng 192%), mỗi năm thời kỳ 2001-2005 tăng bình quân 23,5%.
ĐIỆN LỰC
Trong những năm 1990 – 1996, Điện lực Lâm Đồng đã lắp đặt thêm 47.700 KVA máy biến thế trung gian và
xây dựng vận hành hơn 400km đường dây cao thế, gần 100km đường dây trung thế, đưa tổng chiều dài đường
dây các loại lên 1.581km.
Nguồn điện cung cấp cho Lâm Đồng lấy từ hệ thống điện lực miền Nam thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt
Nam và được truyền tải từ nhà máy điện Đa Nhim và nhà máy thuỷ điện Suối Vàng là chủ yếu. Nhà máy thủy
điện Đa Nhim (công suất 160 MW), thủy điện Suối Vàng (công suất 3,1 MW), thủy điện Hàm Thuận - Đa
Nhim (công suất 475 MW) và thủy điện Đại Ninh đang được thi công (công suất 300 MW), các nhà máy điện
diêzen Bảo Lộc, Di Linh, Càn Rang với tổng công suất 4,16 MW. Hiện nay, 100% số xã có điện đến trung tâm.
Tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện trong tỉnh đạt 7,865 MW. Sản lượng điện phát ra năm 2000 đạt
28,081 triệu kWh.

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 19

VĂN HÓA XÃ HỘI
Lâm Đồng là một vùng đất cổ, có cảnh quan địa mạo đa dạng, cấu tạo địa chất phức tạp với nhiều dân tộc
anh em thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me và ngữ hệ Malayô – Pôlynêxia lần lượt đến sinh sống trên mảnh đất Nam
Tây Nguyên này.
Vùng đất Lâm Đồng còn lưu giữ nhiều dấu tích văn hoá, lịch sử của các dân tộc.
Trong nhiều năm qua, nhiều di tích lịch sử được quan tâm tiếp cận nghiên cứu, nổi tiếng nhất là khu di tích
Cát Tiên.
Văn học dân gian khá phong phú nhưng văn học viết của Lâm Đồng còn hết sức non trẻ.
Nghệ thuật ở Lâm Đồng được hình thành trên nền văn hoá Việt, văn hoá các dân tộc thiểu số bản địa và một
phần của văn hoá các tộc người thiểu số phía Bắc. Sự phối hợp giữa các yếu tố văn hoá này với nhau tạo thành
nét riêng cho văn hoá Lâm Đồng nói chung và nghệ thuật nói riêng.
Các thiết chế văn hoá gồm có:
- Thư viện tổng hợp tỉnh Lâm Đồng và Thư viện các huyện

tòan tỉnh; trong đó có 90 thôn, khu phố đạt chuẩn văn hoá cấp tỉnh và 169 thôn, khu phố đạt chuẩn cấp huyện.
Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng, ấp, thôn, buôn, khu phố văn hoá còn lan toả đến các cơ quan,
trường học và trở thành tiêu chí thi đua không thể thiếu hàng năm. Đến năm 2005 đã có 754 đơn vị đạt chuẩn
văn hoá, tăng 206 đơn vị so năm 2004, tăng 410 đơn vị so năm 2003, tăng 493 đơn vị so năm 2002.

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 20

BÁO CHÍ
Lâm Đồng có 4 cơ quan báo chí:
* Báo Lâm Đồng
* Đài Phát thanh – Truyền hình Lâm Đồng
* Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ
* Tạp chí Lang Bian
Báo Lâm Đồng được thành lập ngày 21-6-1977. Từ năm 1999, báo Lâm Đồng phát hành mỗi tuần 3 số.
Đài Phát thanh Lâm Đồng phát đi bản tin đầu tiên ngày 27-4-1975. Hiện nay, Đài cùng lúc sử dụng 3 máy
phát sóng: sóng trung 10kW, sóng ngắn 5kW, sóng FM 1,3kW.
Đài Truyền hình Lâm Đồng chính thức phát sóng ngày 7-11-1985. Với máy phát sóng 5kW, Đài phát
chương trình địa phương và phát kênh sóng VTV3 thu từ vệ tinh, máy phát sóng 1kW tiếp phát các chương
trình TVTV1, VTV2, VTV5 của Đài Truyền hình Việt Nam
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Trong 5 năm qua (2001-2005), sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã có những chuyển biến đáng kể. Mạng lưới
trường, lớp được duy trì và phát triển với hình thức đa dạng, rộng khắp trên toàn tỉnh. Quy mô giáo dục không
ngừng tăng lên và đang được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế, khắc phục tình trạng mất cân đối về
cơ cấu lớp học, bậc học. Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hóa. Cơ sở vật chất kỹ
thuật tuy còn nhiều khó khăn nhưng cũng đã được củng cố và nâng cấp. Hiện nay, Lâm Đồng đã có một hệ
thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng, được hình thành các cấp học và trình độ từ mầm
non đến đại học. Hệ thống giáo dục đang từng bước được xã hội hóa đa dạng về loại hình, phương thức và huy
động nguồn lực cho phát triển giáo dục. Nền giáo dục ở Lâm Đồng cơ bản đáp ứng được mục tiêu nâng cao
dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài góp phần đắc lực để phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện sự

cơ sở và trung học phổ thông, tăng 9 trường so năm học 2000-2001. Cùng với sự biến động về trường thì số
lớp cũng có sự biến động đáng kể. Năm học 2004-2005, toàn tỉnh có 4.309 lớp tiểu học, giảm 777 lớp so
năm học 2000-2001; số lớp trung học cở sở là 2.511 lớp, tăng 576 lớp và 1.086 lớp phổ thông, tăng 438 lớp
so năm học 2000-2001. Xu hướng trong những năm tới, số lớp cấp tiểu học tiếp tục giảm, số lớp cấp trung
học cơ sở và trung học phổ thông sẽ tăng lên.
* Đội ngũ giáo viên :
Cùng với đa dạng hoá các loại hình giáo dục, đội ngũ giáo viên ở các ngành học mầm non, phổ thông đã phát
triển về số lượng và tăng cường chất lượng theo hướng chuẩn hoá.
Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 2.242 giáo viên mầm non; 5.168 giáo viên tiểu học; 4.477 giáo viên
trung học cơ sở và 2.018 giáo viên trung học phổ thông. So với năm học 2000-2001, số giáo viên mầm non
tăng 16,59%; giáo viên tiểu học tăng 4,15%; giáo viên trung học cơ sở tăng 46,74% và giáo viên trung học
phổ thông tăng 71,45%. So với định mức về giáo viên/lớp của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì giáo viên toàn
tỉnh cấp tiểu học thừa 150 giáo viên, cấp trung học cơ sở còn thiếu 196 giáo viên.
Trước yêu cầu về nâng cao chất lượng giáo viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn hàng năm cũng tăng lên đáng
kể. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn bậc tiểu học từ 80,03% năm học 2000-2001 tăng lên 95,78% năm học 2004-2005; cấp
trung học cơ sở cũng tăng từ 86,59% năm học 2000-2001 tăng lên 92,72% năm học 2004-2005 và cấp trung học phổ
thông tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn năm học 2004-2005 là 90%.
Giáo viên giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiêp cũng tăng cả về số lượng và
chất lượng. Đến năm 2005 trên địa bàn toàn tỉnh có 332 giáo viên giảng dạy đại học, 91 giảng viên giảng dạy
cao đẳng và 145 giảng viên giảng dạy trung học chuyên nghiệp. Số giảng viên có trình độ trên đại học ở các
trường đại học năm học 2005-2006 đạt 46,99%, tăng gần 2% so với năm học 2000-2001; ở các trường cao
đẳng đạt 41,76%, tăng 3,5% và ở các trường trung học chuyên nghiệp đạt 10,34%, tăng 4,78% so năm học
2000-2001.
* Phổ cập giáo dục :
Kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được duy trì và phát triển. Toàn tỉnh đã hoàn thành
chương trình xoá mù chữ và phổ cập tiểu học từ năm 1997, đến nay 12/12 huyện, thị, thành phố vẫn giữ được
chuẩn xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Công tác phổ cập trung học cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh.
Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 82/145 xã, phường, thị trấn hoàn thành hoàn thành phổ cập trung học cơ sở,
tăng 53 xã so năm học 2000-2001; nâng tỷ lệ số xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập cấp trung học cơ sở
trên tổng số xã, phường, thị trấn từ 21,01% năm học 2000-2001 lên 56,55% năm học 2005-2006. Phấn đấu đến

Mặc dù đời sống vùng đồng bào dân tộc còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, địa hình phức tạp, cách trở
gây khó khăn trong việc đi lại cho học sinh dân tộc, nhất là vào mùa mưa. Thực hiện chủ trương phát triển giáo
dục đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc nên trong những năm qua hệ thống trường lớp được điều
chỉnh, quy hoạch; phát triển nhiều điểm trường tiểu học đến tận thôn buôn, mở các lớp nhỏ trung học cơ sở và
trung học phổ thông nhằm rút ngắn khoảng cách đi lại cho học sinh. Vì vậy tỉ lệ giảm sĩ số học sinh cuối năm
học so với học sinh huy động đầu năm học các cấp học liên tục giảm qua các năm học. Tỷ lệ giảm sĩ số cuối
năm học cấp tiểu học từ 3,35% năm học 2000-2001 giảm còn 1,92% năm học 2004-2005; cấp trung học cơ sở
giảm từ 7,47% xuống còn 3,44% năm học 2004-2005 và cấp trung học phổ thông từ 8,89% năm học 2000-
2001 giảm xuống còn 3,8% năm học 2004-2005.
Song song với việc duy trì tốt công tác sĩ số thì chất lượng văn hóa các cấp học cũng từng bước được nâng
lên, đạt tỷ lệ khá cao tương đương với tỷ lệ bình quân chung các cấp học toàn tỉnh. Trong 5 năm, tỷ lệ xếp loại
văn hoá trung bình trở lên bình quân hàng năm cấp tiểu học đạt 92,5%; cấp trung học cơ sở đạt 80% và cấp
trung học phổ thông đạt 54%
Y TẾ
Thời kỳ 2001-2005, ngân sách Trung ương và địa phương đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho công tác y tế, nên hệ thống bệnh viện, trạm xã, phòng khám đa khoa được nâng cấp, sửa chữa, xây
mới nên cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh. Năm 2005, toàn tỉnh cú
181 cơ sở y tế Nhà nước, trong đó có 12 bệnh viện, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, 21 phòng
khám đa khoa khu vực, 145/145 xã có trạm y tế (trong đó 129 trạm độc lập và 16 trạm hoạt động lồng ghép).
Số giường bệnh trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay có 2.402 giường, bình quân một nghìn dân đạt 2,08 giường vào
năm 2005 với công suất sử dụng giường bệnh đạt 84,92%. Ngoài ra, để phục vụ công tác khám chữa bệnh cho
nhân dân ngày một tốt hơn, bệnh viện tuyến tỉnh đã trang bị máy CT Scanner, máy chạy thận nhân tạo, bộ
khám điều trị nội soi Tai-Mũi-Họng; có 8/10 bệnh viện tuyến huyện đã có gây mê, bàn mổ, đèn mổ, bộ dụng cụ
trung phẩu, bộ dụng cụ phẫu thuật sản khoa; 100% xã có tủ lạnh để lưu trữ vaccin; 127/145 trạm y tế có kính
hiển vi.
Mạng lưới y tế cơ sở với các trạm y tế tuyến xã, phường, thị trấn là chủ yếu đã đóng vai trò quan trọng trong việc
thực hiện các hoạt động y tế dự phòng và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Trong
quá trình đổi mới và phát triển, ngành Y tế đã thiết lập được mạng lưới y tế xã, phường rộng khắp từ tỉnh xuống cơ
sở, từ thành thị đến nông thôn, đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
Thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác y tế theo tinh thần Nghị quyết 90/CP của Chính phủ, Nghị quyết 06

tăng từ 38,36 trên 100.000 dân năm 2001 tăng lên 41,39 trên 100.000 dân năm 2005. Hiện nay, ngành đang
quản lý, điều trị 100% bệnh nhận lao mới phát hiện, tỷ lệ bệnh nhân lao điều trị khỏi đạt 88%.
Nhìn chung các chương trình quốc gia phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã được triển khai
trong nhiều năm qua và thực hiện có kết quả. Ngoài các chương trình trên, những năm qua ngành Y tế còn thực hiện
một số chương trình khác như: Chương trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi; chương trình nuôi con
bằng sữa mẹ; chương trình phòng chống thiếu máu do thiếu sắt; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường. Các
chương trình này đã đạt được kết quả nhất định trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng ngừa
bệnh tật và hạn chế các bệnh gây dịch như bệnh tả, dịch hạch, thương hàn.
* Công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân:
Trong những năm qua, chất lượng công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân từng bước được tăng cường. Số người
đến khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế ngày càng tăng; năm 2005 có 2.553,6 ngàn lượt người đến khám, chữa
bệnh tại các cơ sở y tế Nhà nước, tăng 92,27% so năm 2001, bình quân hàng năm tăng 18,43%; số bệnh nhân điều
trị nội trú 112,1 ngàn người, tăng 35,06% so năm 2001.
Các dịch vụ chăm sóc nội trú và các dịch vụ miễn phí dành cho người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội khác
ngày càng được quan tâm, đảm bảo tính công bằng trong việc được hưởng các dịch vụ y tế cho mọi người dân.
Thực hiện các quyết định của Nhà nước về khám chữa bệnh cho người nghèo, đặc biệt là thực hiện việc khám chữa
bệnh theo phương thức thực thanh, thực chi theo Quyết định số 142/QĐ-UB của UBND tỉnh Lâm Đồng, tính từ
tháng 6/2002 đến tháng 6/2004 ngành y tế Lâm Đồng đã khám, chữa bệnh cho 493.968 lượt người nghèo, đồng bào
dân tộc với tổng kinh phí chi trả 19,53 tỷ đồng trong tổng số kinh phí 24,41 tỷ đồng để tổ chức khám chữa bệnh
miễn phí chi người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn toàn tỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status