***
VĂN HÓA VÙNG TÂY NGUYÊN
Tổ 5, Lớp KS15D
Có một vùng đất mà mỗi khi nhắc đến, lại thấy những năm tháng thăng trầm của lịch sử lại ùa về trong ký ức… Tây
Nguyên- mảnh đất đã từng gồng mình hứng bao bom đạn dội xuống, nhưng vẫn hiên ngang, bất khuất như chính bản
chất anh hùng của người dân nơi đây.
Bước qua từ những ký ức đau thương của lịch sử, Tây Nguyên vẫn giữ trong mình vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí đến lạ
thường và đặc biệt là một nền văn hoá văn minh đậm đà, mang những đặc sắc độc đáo gắn liền với mảnh đất và tình
người nơi đây
.
TP Hồ Chí Minh, Ngày 9 tháng 3 năm 2015
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió
mùa.Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung, Nam.Chính
các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng của
ẩm thực từng vùng - miền.Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng.Điều đó góp phần làm
ẩm thực Việt Nam phong phú, đa dạng.
Núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ với những sản vật của non cao sẽ làm hài lòng du
khách bốn phương khi có dịp dừng chân. Ẩm thực Tây Nguyên vừa dân giã, vừa tinh tế,
lại bổ dưỡng. Món ăn không được nấu trong những nồi, chảo thông thường mà chế biến
từ trong những ống tre, ống nứa sẽ đem lại cho bạn những cảm giác đặc biệt, không thể
nào quên.
I. Giới thiệu sơ lược về Tây Nguyên.
Tây Nguyên Việt Nam là vùng cao nguyên gồm 5 tỉnh,được sắp xếp theo thứ tự từ
bắc xuống nam: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, và Lâm Đồng.
1. Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên:
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Kon
Tum có biên giới phía tây giáp với Lào và Campuchia. Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông
thì chỉ có chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Đồng không có đường biên
giới quốc tế. Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một
loạt cao nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên
sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ. Tuy nhiên,
các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến
các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài liệu
vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Ðá Vách (Hré), Mọi Hời
(Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Ðá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van
Trang 3
(Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở
vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.
Tuy có sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn
thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các
bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng
trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789).
Sang đến triều Nguyễn, quy chế dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều,
chủ yếu người Việt vẫn chú ý khai thắc miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng
miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây
Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ).
Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng
loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên.
Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayrena sang Đông Dương,
chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ lạc thiểu số. Ông ta
thành lập vương quốc Sédan có quốc kỳ, có giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập
làm vua tước hiệu Marie đệ nhất. Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây
Nguyên, nhân cơ hội Mayrena về châu Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên
“đăng quang” thay Mayrena. Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý của
Công sứ Quy Nhơn. Sau đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải tán.
Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao
nguyên Liang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố
nghỉ mát tại đây. Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng
đất này.
Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của
tự do bắt đầu hình thành vào đầu thập kỷ 80 và diễn ra ồ ạt từ giữa thập kỷ 80 (thế kỷ
XX) cho đến những năm gần đây. Sự sôi động của làn sóng di cư tự do vào Tây Nguyên
là một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi quy mô của nó lớn và kéo dài. Chỉ tính từ năm 1990
đến năm 2000, đã có 160 nghìn hộ với khoảng 810.000 nhân khẩu di cư tự do đến Tây
Nguyên, làm cho dân số toàn vùng tăng đột biến. Nơi xuất xứ của dòng di cư tự do chủ
yếu từ các tỉnh miền núi phía Bắc và khu IV cũ, nhất là những địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn. Thành phần di cư tự do đông nhất là người Kinh, chiếm 64%; tiếp
đó là một số dân tộc thiểu số phía Bắc (Tày, Nùng, Thái, Dao, Mông ) chiếm 17%; còn
lại là các dân tộc khác.
Chính làn sóng di cư tự do đã làm cho cơ cấu và thành phần dân tộc ở Tây Nguyên
biến đổi nhanh. Năm 1976 dân số toàn vùng là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc anh em,
trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm 69,7% (853.820 người). Nhưng hiện
nay, dân số toàn vùng đã lên đến 5.107.437 người, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ
Trang 5
còn chiếm 25,5% (1.302.396 người); đồng bào Kinh chiếm 66,9% (3.416.875 người), các
dân tộc thiểu số nơi khác đến chiếm 7,6% (388.166 người).
Các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên thuộc hai nhóm ngôn ngữ chính là Nam
Đảo (Msalayô-Pôlinêdiêng) và Nam Á (Môn-Khơ me). Trong đó, đông nhất là dân tộc
Gia-rai (379.589 người), tiếp theo là Ê-đê (305.045 người), Ba-na (185.657 người), Cơ-
ho (129.759 người), Xơ-đăng (103.251 người), Mnông (89.980 người), Giẻ-Triêng
(32.024 người), Mạ (36.119 người), Chu-ru (16.863 người), Ra-glai (1.210 người), Rơ-
mâm (357 người) và Brâu (347 người)(10).
Trong thời kỳ chiến tranh, do đất rộng, người thưa nên các dân tộc cư trú thành
những khu vực tương đối biệt lập. Chỉ có hai đầu (Bắc Kon Tum và Nam Lâm Đồng)
buôn làng của các dân tộc có xen kẽ nhau, còn lại là những khu vực cư trú tập trung theo
dân tộc. Ví dụ như vùng đông bắc cao nguyên Pleiku kéo đến đông nam Kon Tum và Tây
Bình Định là nơi sinh sống tập trung của người Ba-na, làng mạc khá ổn định, trung bình
mỗi làng có từ 50-60 nóc nhà. Khu vực đông nam cao nguyên Pleiku kéo đến chân núi
Chư Dliêya là địa bàn cư trú của người Gia-rai, làng mạc gần nhau, trung bình mỗi làng
có từ 150-170 nóc nhà. Vùng tam giác Ea H’leo-M’Drăk-Buôn Đôn của tỉnh Đắk Lắk là
đó, mỗi buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số có thể coi là một đơn vị tự quản riêng
biệt và tương đối hoàn chỉnh. Chẳng hạn như trong cộng đồng tộc người Ê-đê, đứng đầu
buôn là Khoa pin ea, người được coi là chủ bến nước.
Ngoài việc quản lý bến nước, Khoa pin ea còn có nhiệm vụ quản lý, điều hành
mọi công việc về mặt dân sự, an ninh, thần quyền, đối ngoại. Ngoài ra, trong buôn làng
còn có những người điều hành toà án phong tục, phụ trách việc cúng bái, tế tự và tầng lớp
già làng - là những người có kinh nghiệm và uy tín về đạo đức, được trưởng làng coi
trọng. Bên cạnh đó, còn phải kể đến vai trò của những người am hiểu về luật tục, người
hoạt động tín ngưỡng hoặc chủ đất của các dòng họ.
Một trong những đặc trưng quan trọng, cơ bản nhất của buôn làng đồng bào dân
tộc thiểu số Tây Nguyên là chế độ tự quản vận hành theo luật tục. Đây là một dạng thức
văn hóa pháp luật có tính lịch sử nhất định nhưng cho đến nay vẫn còn giá trị. Luật tục
trong xã hội cổ truyền có thể tồn tại dưới dạng văn xuôi hay văn vần và được truyền
miệng từ dời này sang đời khác; nó đã trở thành máu thịt, thấm đẫm trong mọi hành xử
của cả cộng đồng. Trong xã hội cổ truyền thì luật tục có hiệu lực như một sức mạnh để
chế ước xã hội. Phạm vi điều chỉnh của luật tục khá rộng và những điều răn trong luật tục
có ý nghĩa to lớn đối với các thành viên. Ngoài ra, về mặt văn hóa, luật tục cũng có thể
coi là di sản văn hóa tộc người đặc sắc, phản ánh những quan niệm, luật lệ, quy tắc của
xã hội.
Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có một nền văn hóa bản địa phong phú và đa
dạng, với những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hết sức quý giá như đàn đá, cồng
chiêng cùng các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng phong phú và
Trang 7
kho tàng văn học dân gian đặc sắc. Hiện nay, Tây Nguyên là nơi còn lưu giữ được nhiều
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm mỹ độc
đáo như: nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội và một kho tàng văn học
dân gian với những bản trường ca, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, lời nói vần, những làn
điệu dân ca đậm đà bản sắc lưu truyền qua nhiều thế hệ. Một trong những di sản nổi tiếng
là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là "Di sản
văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại". Một số dân tộc như Ê-đê, Gia-rai còn có chữ
giáo Hòa Hảo.
2. Không gia văn hóa và thời gian văn hóa
Giống như một điểm trong không gian, vị trí của một nền văn hóa được xác định bởi một
hệ tọa độ. Hệ tọa độ của một nền văn hóa bao gồm ba chiều: Không gian văn hóa,
thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa.
2.1. Khái niệm chung
Thời gian văn hóa
Thời gian văn hóa được xác định từ khi một nền văn hóa hình thành cho đến khi tàn lụi.
Nói chung, thời gian văn hóa không thể xác định được một cách rạch ròi, nó được hiểu là
một khái niệm mở. Thời điểm khởi đầu của một nền văn hóa được quy định bởi thời điểm
hình thành dân tộc (hay còn gọi là chủ thể văn hóa).
Không gian văn hóa
Không gian văn hóa có phần phức tạp hơn: bởi lẽ văn hóa có tính lịch sử, cho nên trong
văn hóa đã bao hàm yếu tố thời gian. Vì có tính thời gian nên không gian văn hóa có liên
quan đến lãnh thổ nhưng không đồng nhất với không gian lãnh thổ. Nó bao quát tất thảy
những vùng lãnh thổ mà ở đó các dân tộc đã tồn tại qua từng thời kì lịch sử. Do vậy,
không gian văn hóa bao giờ cũng rộng hơn không gian lãnh thổ.
Để xác định đầy đủ thông tin và hình dung cụ thể về không gian văn hóa của một dân
tộc, phải tìm hiểu được yếu tố nguồn gốc và quá trình hình thành của dân tộc đó. Suy cho
cùng, cả thời gian văn hóa và không gian văn hóa đều phụ thuộc vào chủ thể văn hóa.
2.2. Định vị không gian văn hóa Tây Nguyên
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai,
Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng. Chủ thể của không gian văn hóa Tây Nguyên đặc sắc
này là cư dân các dân tộc: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai
2.3. Xác định thời gian văn hóa Tây Nguyên
Các nhà khoa học đã tiến hành khai quật các di khảo cổ Lung Leng (Kon Tum),Cát Tiên
(Lâm Đồng) và các di tích văn hóa – lịch sử - khảo cổ thời tiền sử tại Đắk Lắk, từ đó đưa
ra những cứ liệu vô cùng quan trọng về lịch sử và văn hóa các dân tộc Tây Nguyên,
chứng minh sự tồn tại của nền văn hóa Tây Nguyên tương đương về trình độ và niên đại
với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ, Sa Huỳnh ở Trung Bộ và Đồng Nai ở Nam Bộ.
2.5.Không gian văn hóa và thời gian văn hóa nghệ thuật sử thi Tây Nguyên
Từ lâu, Tây Nguyên được biết đến như là miền đất huyền thoại, nơi lưu giữ những giá
trị lịch sử, văn hóa tinh thần vô giá. Không chỉ là vùng đất của cồng chiêng, của rượu
cần, đàn T’rưng… mà nổi danh hơn cả với tên gọi “xứ sở của sử thi”. Không gian văn
Trang 10
hóa nghệ thuật sử thi ở Tây Nguyên phát triển mạnh mẽ. Sử thi Tây Nguyên gắn liền với
tên tuổi những anh hùng thần thoại, những anh hùng của buôn làng Tây Nguyên từng
được bao thế hệ, bao đời nay ngưỡng vọng như Đăm San, Đăm Di, Dyông Dư… Nhưng
điều thú vị và hấp dẫn ở sử thi Tây Nguyên là những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa của nó
với những cứ liệu lịch sử đầy thuyết phục về một giai đoạn lịch sử của dân tộc. Theo một
số nhà nghiên cứu, sử thi Tây Nguyên có thể ra đời vào khoảng thế kỉ XVI (hay còn gôi
là thời gian văn hóa của sử thi Tây Nguyên), khi xã hội Tây Nguyên có những biến động
to lớn do các cuộc chiến tranh giữa các buôn làng. Cũng theo các tài liệu lịch sử, sử thi
Tây Nguyên đã được biết đến từ khá lâu, từ thời Pháp thuộc, đầu những năm hai mươi
của thế kỉ trước, nhưng phải đến gần đây mới được nghiên cứu, khai thác một cách qui
mô, sâu rộng hơn. Theo các nhà nghiên cứu, cho đến nay, đã có hơn hai trăm bộ sử thi
Tây Nguyên được sưu tầm, ghi chép và đang được tổ chức biên soạn; số còn lại đã được
biết đến nhưng chưa kịp ghi chép cũng có hàng trăm bộ nữa. Trong đó, sử thi ngắn cũng
có tới mấy trăm câu (sử thi H’điêu có 570 câu); sử thi tương đối dài thì có hàng nghìn
câu, như Đăm San (2077 câu), Khinh Dú (5880 câu); có những sử thi rất dài, có lẽ dài
nhất trong số những sử thi đã được biết cho đến nay là Ot N’rông của người M’nông
khoảng 30.000 câu… Nhưng điều quan trọng hơn là dù ngắn hay dài, sử thi Tây Nguyên
vẫn phản ánh một cách trung thực, sinh động đời sống sinh hoạt cộng đồng, cuộc đấu
tranh vì những ý tưởng nhân văn cao cả mà sự kiện trung tâm là hình ảnh những người
anh hùng (các M’tao) qua các cuộc chiến đấu dũng cảm, với tài năng phi thường của
mình, đưa nhân dân đến hình thành những cộng đồng mới, đông đúc, giàu mạnh, vinh
quang hơn… Một trong những hình ảnh tiêu biểu ấy là Đăm San, người anh hùng của
các buôn làng Tây Nguyên.Có thể nói sử thi Tây Nguyên là một bản anh hùng ca hoành
tráng nhất trong giàn hợp xướng của một dân tộc có hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh
kiên cường, bất khuất để sinh tồn và phát triển. Điều đặc biệt ở sử thi Tây Nguyên là cách
là cách thờ phụng tâm linh thần bí của họ.
3.1 Hội nhà mồ
Dân tộc ít người như Gia Rai, Ba Na, sau mỗi lần có người thân trong gia đình qua đời,
đều làm mồ mả cho đẹp, sau đó tổ chức ăn mừng nhà mồ. Vì vậy ngày lễ không có thời
gian mà tùy thuộc vào hoàn cảnh.
Nhà mồ Tây Nguyên có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của họ, những gì có
ở nhà mồ không chỉ dành cho người đã chết mà còn là niềm tin cho người đang sống.
Người Ba-Na, Gia-Rai tin rằng linh hồn người chết sẽ biến hóa những thứ để trong nhà
mồ sẽ có thêm nhiều hơn nữa, như tượng các con vật nuôi, những dao rựa, cung nỏ săn
bắn v.v… tức phù hộ cho người sống gặp may mắn khi nuôi súc vật, đi rừng hay săn bắn.
Hội mừng nhà mồ là một nghi thức tín ngưỡng độc đáo hấp dẫn được diễn ra trong ba
ngày đêm liền, và được chuẩn bị từ mấy tháng trước. Tất cả mọi người khi đến dự lễ đều
phải biết múa Rông Chiêng, biết đánh cồng chiêng, gõ trống, chơi đàn Tơ rưng.
Trang 12
Trong ngày lễ có múa Rông chiêng nên bắt buộc mọi người phải biết múa; theo ý nghĩa
Rông chiêng là quanh choé. Múa hát chung quanh choé rượu là điệu múa giành cho các
cô gái, diễn tả các động tác làm nương, may vá thêu thùa, và điệu múa khiên của thanh
niên trình diễn các động tác săn bắn hay chiến trận. Vì vậy Rông chiêng là điệu múa
truyền thống trong ngày hội nhà mồ.
Từ buổi sáng đầu tiên, đoàn múa Rông chiêng tiến vào nhà mồ trong sự chào đón của
mọi người. Đi đầu là một chàng trai vạm vỡ, đóng khố tua cườm, thắt lưng dây bạc, đầu
cắm lông chim, vừa đi vừa múa, tay gõ trống đeo trước bụng, theo sau có 8 người già cắp
ngang cây giáo, cũng vừa đi vừa múa, tiếp đến 6 chàng trai khiêng một cái trống lớn, rồi
những người cầm cồng chiêng, chũm chọe, thanh la ăn mặc đẹp biểu diễn những động tác
ngộ nghĩnh. Cuối cùng đến hai hàng thiếu nữ trong trang phục lễ với điệu múa xoang
truyền thống, nhưng được cách điệu rất uyển chuyển và đẹp mắt
Khi đoàn người đi vào khu vực sân diễn của nhà mồ, sau những hồi trống lệnh được đệm
bởi những tiếng cồng chiêng trầm hùng, vũ điệu Rông chiêng bắt đầu, cùng động tác múa
là những tiếng hú vang xa, rồi lại chiêng trống rền vang… Cứ như thế, ngày hội như
không thể dừng lại.
rừng, cầu xin bộ hạ của chúa Sơn Lâm đừng đến giết hại người Ba Na khi đang ở nhà hay
đang săn bắt trong rừng.
Lễ mở cửa rừng gồm một đôi gà có trống có mái. Chủ tế cùng một số trai gái tiến vào
đàn. Con trai đóng khố mang 3 mũi tên, con gái mặc váy và yếm. Sau khi cắt tiết gà đổ
xuống đất, họ bắt đầu điệu múa săn gà, phụ nữ đóng vai con mồi, còn thanh niên đóng vai
người đi săn, phỏng theo các động tác đi săn mồi và con thú bị dồn đuổi.
3.3 Phong tục người Tày ( Thái)
Người Thái Trắng sống không nhiều ở Lâm Đồng (đa số ở Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa,
Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh) tuy vậy nơi có người Thái sinh sống, họ cũng có những
phong tục tập quán của riêng dân tộc mình :
- LỄ NHÓM LỬA: Lễ này ngoài người Thái (có Thái trắng, Thái đen hay còn gọi Tày,
Thổ Đà Bắc) còn của người Mường, họ thờ “thần lửa” nhằm cầu thần linh phù hộ cho gia
đình mạnh khỏe, làm ăn hạnh thông, phát đạt.
Với người Thái lễ nhóm lửa do một bà cụ già giỏi việc bếp núc nhóm lên, nếu lửa bén
nhanh là trong năm gặp may mắn, nếu lửa không cháy, chủ nhà phải mời thầy mo đến
cúng tiếp.
Còn người Mường trước khi làm lễ, họ lấy một bẹ chuối cắt thành hình ba con cá kẹp vào
một cặp nứa buộc lên cột bếp giành cho “ba ông đầu rau” (Thần táo) ăn, và đặt một quả
bí xanh vào cột cái của bếp trước khi nhóm lửa, đồng thời lấy vỏ cây bỏ vào 4 góc bếp,
xong mới mời một bà cụ già giỏi việc bếp tới nhóm lửa. Nếu lửa bén ngay là may mắn,
nếu không phải cúng thần bếp thêm một lần nữa.
- LỄ TRỒNG CỘT: vào khoảng tháng 9 ÂL, và cứ đủ một giáp 12 năm mới làm lễ một
lần, với ý nghĩa trồng các cây cột để giữ sự bình yên cho đất đai.
11 chiếc cột có hình như dùi trống được đem trồng ở bãi đất bằng, cây cột chính trồng ở
giữa, 10 cây cột còn lại trồng chung quanh. Một con trâu mập mạp, cùng bộ sừng và đuôi
có cài bông hoa được đem ra tế thần, khi đó thầy mo lo việc cúng tế còn thanh niên nam
nữ từng tốp nhảy múa, đánh cồng, thổi khèn ở quanh 11 cây cột.
Trang 14
- LỄ CƠM MỚI: tổ chức từ tháng chạp đến tháng 3 ÂL, người Thái coi “lễ cơm mới”
giống như tết Nguyên Đán của người Kinh. Từ sáng sớm, các cô gái mặc quần áo đẹp đi
3.5. Phong tục người Gia Rai
Trang 15
Người Gia Rai có phong tục thờ cúng vạn vật hữu linh, trong đó thường thờ cúng Thần
Nhà (Yang sang), Thần Làng (Yang ala bôn), Thần Nước (Yang ia); Thần Vua (Yang
ptao) do Vua Nước (Pơ tao ta), Vua Lửa (Pơ tao put), Vua Gió chuyên cúng trời đất, cầu
mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt. Khi chết người Gia Rai theo tục tất cả người
cùng họ mẹ chôn chung một huyệt, người đàn ông chết phải khiêng về chôn ở huyệt phía
mẹ mình; trong huyệt chung ấy các quan tài được xếp kề sát bên nhau theo chiều ngang
rồi chồng lên theo chiều dọc, khi quan tài cao bằng miệng huyệt thì lấy ván kê thêm bốn
bề để chôn tiếp vài ba lớp nữa mới làm lễ “bỏ mả” (Họa lui, Thi nga hay Bô thi)-một nghi
thức lớn trong quá trình tang lễ; ngoài ra họ còn tin rằng khi chết các linh hồn biến thành
ma, thậm chí có hiện tượng gán cho người có ma thuật làm hại gọi là ma lai. Cưới xin
luật tục cấm những người cùng ngành và dòng mẹ lấy nhau, đến tuổi trưởng thành nam
nữ tự do lựa chọn người yêu, trong đó nữ chủ động lựa chọn lấy chồng, khi đã thành vợ
chồng thì đàn ông phải sang nhà vợ và không có trường hợp ngược lại. Khi sinh đẻ bà mẹ
được coi trọng, không làm việc nặng nhọc khi mang thai, kiêng khem nhiều thứ như
không ăn thịt mà chỉ ăn rau khi sinh nở
3.6 Những phong tục khác
Người dân tộc miền núi còn mang nặng tính sùng bái thần linh, nên còn nhiều hủ tục
chưa xóa bỏ được, nên khi chúng ta nghe nói đến những hủ tục này đều phải rùng mình
rợn tóc :
- Ma lai rút ruột: khi một người bị bệnh ngày một gầy yếu, gia đình cho rằng bệnh nhân
bị ma lai rút ruột.
Ma lai còn gọi là Ma Rừng, ban ngày là người nhưng ban đêm chỉ có cái đầu lăn đi tìm
phân người để ăn. Ai đi tiêu không đề phòng, bị ma lai ăn phân tức người đó bị ma lai rút
ruột, lâu ngày cơ thể không còn gì là phải chết. Nếu biết nhà con ma lai mà đến tạ lễ thì
sẽ sống.
Hiện tượng này trước đây xuất hiện ở tộc người Ê Đê, Mường, H’Mông, ai có cổ cao ba
ngấn xem người đó là ma lai, ai sinh con ra có cổ ba ngấn liền đem vào rừng sâu mà bỏ.
Sau này có người nói không phải do ma lai rút ruột, mà do các thầy mo dùng thuốc thư
tộc ở Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo
nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp;
càng đơn giản càng gần ý nghĩa là "vật tổ");
hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển
theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc
tròn).
Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên
vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai của nó: Dùng
để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín
ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên qua các lễ thổi tai, bỏ mả v.v , nghĩa
là vẫn thuần chức năng phục vụ đời sống con người. Trong khi ở các vùng Đông -Nam Á
khác, cồng chiêng đã "tiến hóa" đến mức thành phương tiện biểu diễn cung đình, mang
chức năng giải trí.
Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự biến chuyển tính năng nhạc khí (ở thời bấy giờ)
diễn ra trong hàng mấy trăm năm. Và có thể khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng
Trang 17
(mà những gì quý giá mới được khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất
2.000 năm.
Trở lại vấn đề lịch sử. Năm 43 sau Công nguyên, khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà
Trưng thất bại, tướng Mã Viện của Nam Hán đã cho tịch thu tất cả đồ đồng (bấy giờ chỉ
có cồng chiêng, được coi là vật thiêng của người Việt) đem đúc trụ chôn ở vùng biên
giới, nhằm tiêu diệt ý chí của người Việt.
Đây là cơ sở giải thích việc thất tán mạnh mẽ loại nhạc khí này trong quá khứ đời
sống tinh thần người Việt, song cũng có thể hiểu rằng tổ tiên người Việt đã đem cất giấu
ở vùng núi (bắt đầu sự "giao thoa" văn hóa cồng chiêng với các tộc người khác).
Đồng thời, dựa vào tài liệu khảo cổ về nguồn gốc tộc người và ngữ hệ ở Việt Nam,
vốn từ họ Nam Á và Nam Đảo (thậm chí gần đây còn có luận điểm gây bất ngờ rằng
trống đồng Việt có nguồn gốc từ Trường Sơn), có thể khẳng định rằng cộng đồng Việt,
Tày, các tộc người Tây Nguyên đã từng ở với nhau rất lâu đời, vì vậy sự "giao thoa" văn
hóa cồng chiêng là hiển nhiên.
Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:
Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của
nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là
chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-
Triêng cũng thuộc loại này.
Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người
Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc
dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng
núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu
như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc
Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc Mnông.
Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các
tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành
Steng).
Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp
chũm choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối
hợp.
Hầu hết các nghệ nhân đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả hai tộc
người Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả
chế độ mẫu hệ lẫn chế độ phụ hệ. Riêng ở ngành Bih tộc người Êđê, chỉ nữ giới mới được
đánh cồng, ở người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2
dàn: Dàn chiêng nam, dàn chiêng nữ. Ngày nay, đã có dàn chiêng hỗn hợp các nghệ nhân
cả nam lẫn nữ. Việc nữ giới đánh chiêng cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của
họ trong tâm thức các tộc người này.
Ngoài ra, ở nhiều tộc người như Churu, Xơđăng, Mnông và đặc biệt tộc người
Giarai, Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản
nhạc chiêng. Điều đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của
việc diễn tấu các bài cồng chiêng (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc
trình diễn giải trí). Nói cách khác, sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây
Nguyên là sinh hoạt cộng đồng, cuốn hút tất cả các thành viên tham gia. Đây là bằng
độc đáo. Các hiện vật khảo cổ của
văn hoá Đông Sơn như trống đồng,
cây đèn Lạch Trường có những hình
chạm khắc cách chơi các loại nhạc cụ
đó.
Khu vực Tây Nguyên hiện nay
nằm trong các tuyến văn hoá truyền
thống giao thoa và phát triển của 3
Trang 20
trung tâm đó, đồng thời cũng nằm trong bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á. Các
nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ khảo cổ Lung Leng (tỉnh Kon Tum), cũng như ở các di chỉ
khảo cổ khác tại Tây Nguyên nhiều hiện vật đồ đồng, đồ sắt, nhất là khuôn đúc rìu đồng
(Nguyễn Khắc Sử, Thông báo khảo cổ học, 2004). Điều đó có nghĩa là, cư dân cổ xưa ở
Tây Nguyên đã từng có một kỹ nghệ đúc đồng, một nền văn hoá thời kim khí.
Điều đáng nói là tất cả các nhạc cụ trên, nhất là cồng chiêng, đều tiếp tục được sử
dụng và tồn tại đến ngày nay như một thành tố hữu cơ trong nền âm nhạc của các dân tộc
Việt Nam, dù là họ sinh sống ở phía Bắc hay ở duyên hải miền Trung.
Cồng chiêng đóng vai trò là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hoá dân
tộc của cộng đồng các dân tộc ít người ở Tây Nguyên
Di sản văn hoá của các thế hệ tộc người ở Tây Nguyên gồm: Kho tàng ngữ văn
dân gian, nghệ thuật điêu khắc dân gian, tri thức dân gian, nhưng nổi trội nhất là sử thi và
cồng chiêng. Người dân nơi đây có cồng chiêng để ứng xử với thiên nhiên, cầu xin, giãi
bày với thần linh, tổ tiên, đối thoại với cộng đồng và với chính mình. Khó có nhạc khí
nào, sinh hoạt văn hoá nào lại có nhiều vai trò đến vậy. Với các dân tộc ít người ở Tây
Nguyên, phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc cộng đồng là cồng chiêng và
văn hoá cồng chiêng.
Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có một cách tổ chức dàn cồng chiêng khác nhau, cách chơi
cũng khác nhau. Có ít nhất 3 phong cách âm nhạc lớn của cồng chiêng Tây Nguyên:
Cồng chiêng Êđê nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng Mnông
phối hợp với một trống dùng trong nghi lễ hoặc giữ nhịp cho múa. Người Mường ở các
tỉnh miền núi phía Bắc có dàn cồng sắc bùa, bao gồm một biên chế 8-12 chiếc cồng núm.
Biên chế chiêng thành dàn là đặc trưng trong văn hoá của các tộc người Tây Nguyên.
Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên có nhiều điểm tương đồng với cồng chiêng
Đông Nam Á. Tuy vậy, nó có những nét khác biệt: Văn hoá và âm nhạc cồng chiêng Tây
Nguyên là văn hoá và âm nhạc dân gian. Nó là sở hữu cộng đồng, là chuẩn mực văn hoá
cho thành viên cộng đồng thực hiện. Ở những tộc người mà cồng chiêng dành riêng cho
nam giới thì mọi chàng trai tộc người đó phải biết đánh chiêng. Ở những tộc người, nơi
cồng chiêng do nữ giới đảm nhiệm thì mọi cô gái phải biết thực hiện nhiệm vụ này (ở
nhóm Noong dân tộc Mnông thì đó là nhiệm vụ của cả nam lẫn nữ).
Là sở hữu của cộng đồng, cồng chiêng Tây Nguyên có vai trò như một biểu tượng
cho năng lực sáng tạo văn hoá, âm nhạc của người dân trong không gian văn hoá Tây
Nguyên. Cho đến nay, cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá gắn bó với cồng chiêng vẫn tồn
tại trong từng gia đình, p’lei, bon, buôn. Trong khi ở một số nước Đông Nam Á, cồng
chiêng hầu như đã trở thành hoạt động âm nhạc có tính chuyên nghiệp như các dàn
Gamelan của Inđônêxia, dàn Khong wong trong Mahori của Thái Lan, trong Pin Peat của
Campuchia. Đặc điểm này cho thấy cồng chiêng Tây Nguyên có thể còn lưu giữ nhiều
yếu tố cổ xưa hơn.
4.2. Âm nhạc Tây Nguyên
Nếu coi văn hóa vật chất của các dân cư Tây Nguyên là một thực tế của nền văn hóa lúa
khô, nương rẫy cao nguyên, thì văn hóa tinh thần nói chung và âm nhạc nói riêng đang
hoạt động một cách tích cực trong thực tế ấy. Âm nhạc như một yếu tố cấu thành, không
thể thiếu được của cuộc sống trong suốt tiến trình lịch sử. Đặc biệt trong xã hội đương
Trang 22
đại, nó vẫn là một nhu cầu như cơm ăn, nước uống của con người vậy. Có thể đưa ra một
nhận xét rằng:
Nhân loại sắp bước sang thế kỷ 21, nhưng các dân cư bản địa Tây Nguyên vẫn còn bảo
lưu được một kho tàng âm nhạc (cả nhạc hát lẫn nhạc đàn) rất phong phú và nguyên sơ.
Các nhà nghiên cứu đã xếp âm nhạc của họ vào loại âm nhạc thời khuyết sử.
ở lĩnh vực nhạc khí: Nghiên cứu kỹ chúng ta thấy chúng đã được con người sáng tạo nên
2. Nhóm nhạc khí thổi hơi: Kèn lá, Kèn kêu thú, Sáo Ala, Kèn Tơ nốt, Kèn Tơdiép, Kèn
Alát, Klông Pút, Sáo Hol, Đinh Pi, Đinh Năm, Đinh Tút, Kèn Avơng, Sáo Pi, Tơ Pơl
3. Nhóm nhạc khí dây: Goong Đe
Trang 23
Các nhạc khí được chế tác kết hợp giữa chất liệu của thiên nhiên với kim loại như sắt,
đồng gồm có: Brõh, Kơ Ni, Tinh ninh (goong).
Nói đến nhạc khí có chất liệu hoàn toàn bằng kim loại, có lẽ không ở đâu trên đất nước ta
có nhiều và đa dạng như ở Tây Nguyên. Các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk là những
vùng văn hóa còn lưu lại một kho tàng nhạc khí được chế tác hoàn toàn bằng kim loại rất
đồ sộ, đó là cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng còn có lục lạc, chập chõa (Rang rai, Ha
kam). Mỗi vùng mỗi dân tộc đều có các loại nhạc chiêng của dân tộc mình và đặc biệt
khác nhau ở biên chế, phương pháp, mục đích và phạm vi sử dụng. Đó là các bộ chiêng:
T'Rum, M'Nhum, So, Avơng, L Náring, Vang, Vâm, Hơđứk, Kaná, Lào, Mong meng,
Tuk, K'Đo, Sa Kho tàng nhạc khí nói trên đã ra đời và tồn tại vượt xa điều kiện của cơ
sử kinh tế xã hội đương thời. Ngoài chức năng là nhạc khí, cồng chiêng còn biểu hiện sự
giàu có và niềm tự hào của mỗi gia đình và cộng đồng. Bởi âm thanh của chúng không
đơn thuần chỉ là tín hiệu âm nhạc mà còn là "Ngôn ngữ" của con người dùng để giao tiếp
với thế giới siêu nhiên. Thực tế cho thấy trong xã hội đương đại, các dân tộc Tây Nguyên
thông qua nghệ thuật sử dụng cồng chiêng, qua độ vang tiết tấu và âm sắc của từng loại
mà mọi người thêm hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết thương yêu nhau, cùng vượt qua những
thử thách gian nan. Cồng chiêng biểu hiện niềm vui, nỗi buồn, lòng yêu thương, căm
giận, tinh thần đoàn kết, bất khuất kiên cường và thượng võ - Đồng thời còn biểu hiện
cho sự giàu có, sự hùng mạnh và chiến thắng của các dân tộc Tây Nguyên.
ở lĩnh vực nhạc hát (dân ca) cũng đã thể hiện khá rõ nét sự kết hợp hài hòa giữa nghệ
thuật với cuộc sống, trải qua nhiều biến cố dồn dập của lịch sử nhưng nhiều loại dân ca
vẫn ra đời và đi theo con người từ thế hệ này sang thế hệ khác, mặc dù lúc ấy đồng bào
chưa có chữ để ghi chép lại thành văn. Cũng như văn học dân gian, dân ca đã mang theo
trong hành trang giữa sự chuyển giao các thế hệ bằng hình thức truyền miệng, một nhà
nghiên cứu âm nhạc Tây Nguyên đã nhận xét rằng: "Dân ca của các dân tộc Tây Nguyên
là những điệu hát huyền thoại được kết dệt từ ngàn xưa và lưu truyền từ đời này sang đời
bài dân ca trong cả hai nhóm trên đều sử dụng nhịp 2/4; 2/2; 4/4 cho đến những nhịp
phức tạp hơn như 3/4; 3/8
Dân ca Tây Nguyên cũng có nhiều hình thức như: hát đơn, hát tập thể, hát kể chuyện
trường ca (Khan của người Ê-Đê, Hơ-ri Jơrai, Hơ-mon Bahnar ), hát múa, hát đợi chờ,
hát giao duyên (đối đáp), hát ru, hát đồng giao (hát trò chơi con trẻ), v.v
Như vậy các loại nhạc khí và dân ca nói trên có thể đại diện cho các tầng văn hóa. Mỗi
tầng văn hóa ấy chứng minh cho sự tiến hóa của con người nơi đây. Có điều đáng lưu ý là
các tầng văn hóa mới lại không làm lấp đi tầng văn hóa cũ - Tây Nguyên đương đại vẫn
còn nguyên vẹn cả các tầng văn hóa xa xưa mà nhìn vào các nhạc cụ và những bài ca
chúng ta có thể đoán tuổi của chúng, ít nhất cũng cách thời đại chúng ta khoảng 3-4
nghìn năm như: Đàn đá (Thạch cầm), Goong teng leng, Goong tốc lốc, Dinh tút, Cồng
chiêng sự hiện diện của kho tàng âm nhạc nói riêng và văn hóa tinh thần nói chung
trong đời sống các cư dân bản địa tây Nguyên trong xã hội đương đại giữa sự bùng nổ
thông tin và thời đại tin học phát triển là điều kiện chúng ta không khỏi quan tâm. Mặt
khác, văn hóa ngoại lai vẫn như những đợt sóng vỗ vào bến bờ văn hóa các dân tộc chúng
ta. Đặc biệt trong cơ chế thị trường, các tầng văn hóa cũ rất dễ bị lu mờ bởi sức mạnh và
đặc thù cũng như phương tiện phổ cập hiện đại của nền văn hóa mới. Nhiều lúc văn hóa
truyền thống bị tấn công chao đảo nhưng nó vẫn còn đó, rất riêng, rất bản sắc mà không
dễ gì có thể hòa tan. Điều ấy chứng tỏ sự trường cửu của nghệ thuật dân gian Tây
Nguyên. Âm nhạc Tây Nguyên đương đại mà vẫn hiện rõ quá khứ xa xưa. Đó là một tài
sản vô cùng quí giá mà các thế hệ chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn. Chắc chắn với
chính sách và hướng đi đúng của Đảng và Nhà nước ta, âm nhạc Tây Nguyên đã và sẽ
Trang 25