Tiểu luận văn hóa việt nam - tây nguyên - Pdf 12

Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay nền kinh tế ngày càng phát triển và các quốc
gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc ngày càng
trở thành trung tâm của sự chú ý. Văn hóa là một lĩnh vực đang ngày càng
được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới và trong đó văn hóa của Việt
Nam cũng không phải là ngoại lệ. Nền văn hóa xuất hiện trong mọi mặt của
cuộc sống với mối quan hệ hai chiều, mọi lĩnh vực đều mang trong mình
tính văn hóa và văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực và tác động đến mọi lĩnh
vực.
Chỉ xét riêng về khái niệm “Văn hóa là gì ?”, tuy rằng có những điểm
chung nhưng mỗi khu vực, mỗi dân tộc, mỗi tổ chức lại có những định
nghĩa khác nhau. Bài tiểu luận này mang tính chất so sánh về văn hóa các
vùng trên đất nước Việt Nam, nhằm góp phần nhỏ bé trên con đường
nghiên cứu về nền văn hóa dân tộc Việt Nam.
Văn hóa vốn bao giờ cũng là nền tảng quyết định của xã hội, một văn hóa
cho sự phát triển mạnh mẽ, sâu sắc toàn diện nhất toàn cầu hóa và hôi
nhập, toàn cầu hóa như một tất yếu. Có thể khẳng định: Văn hóa là cốt hồn
của dân tộc, một dân tộc, nếu không giữ được bản sắc văn hóa riêng thì
dân tộc đó sẽ bị lu mờ thậm chí không còn dân tộc đó nữa. Vì thế, xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không
chỉ là trách nhiệm của ngành văn hoá mà còn là trách nhiệm của toàn
đảng, toàn dân và toàn xã hội. Tôi quan tâm và chọn đề tài : “ Văn hóa Tây
Nguyên” để làm đề tài cho bài tiểu luận này
1
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
2
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004

thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với
4
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
Campuchia. Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế. Tổng diện
tích của 5 tỉnh ở đây rộng 54.639 km
2
.
Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là
một loạt cao nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500
m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng
800 m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn Ma
Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000 m, cao nguyên
Lâm Viên cao khoảng 1500 m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1000
m. Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những
dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam).
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba
tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum
và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh
Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng).
Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu
vùng phía Bắc và Nam.
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600
m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp
như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm. Cây điều và cây cao su cũng đang
được phát triển tại đây. Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây
Nguyên. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam
Bộ. Và đang tiến hành khai thác Bô xít. Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt
Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng,
trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng

nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương.
6
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa
Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái
một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc
thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn
không có thói quen buôn bán nô lệ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn
manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng
đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài
liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách
(Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ
Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ)
để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.
Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn
thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều
chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn,
đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang
Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789) . Tây Sơn thượng đạo, vùng đất
phía Tây đèo An Khê là một căn cứ chuẩn bị lực lượng cho quân Tây Sơn
thủa ban đầu. Người lãnh đạo việc hậu cần này của quân Tây Sơn là người
vợ dân tộc Ba Na của Nguyễn Nhạc.
Sang đến triều nhà Nguyễn, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây
Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần
lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ -
1834). Người Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc
biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán
sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ). Trong
cuốn Đại Việt địa dư toàn biên, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có viết: Thủy

Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
ở Kontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn. Năm 1899, thực dân Pháp buộc
vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức
hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây.
Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định
chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát. Vùng đất cao nguyên Trung kỳ (Tây
Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân Pháp.
Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với
việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo. Những thực
dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồn điền đồng thời cũng
ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được. Năm 1917, tại đó, thị
xã Đà Lạt được thành lập.
4. Dân cư
Nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên
như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông Chính quyền Việt
Nam cộng hòa gọi chung những dân tộc này là "đồng bào sắc tộc" hoặc
"người Thượng"; "Thượng" có nghĩa là ở trên, "người Thượng" là người ở
miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh
sống trên cao nguyên miền Trung.Năm 1976, dân số Tây Nguyên là
1.225.000 người, gồm 18 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là
853.820 người (chiếm 69,7% dân số). Năm 1993 dân số Tây Nguyên là
2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là
1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số). Năm 2004 dân số Tây Nguyên là
4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là
1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số) . Riêng tỉnhĐắc Lắc, từ 350.000
người (1995) tăng lên 1.776.331 người (1999), trong 4 năm tăng 485% .
Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng
9
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004

Jarai, M’nông… cùng với những phong tục, tập quán, lễ hội đã tạo cho Tây
Nguyên trở thành vùng văn hóa dân gian đa dạng và đặc sắc.
Các lễ hội của đồng bào dân tộc Tây Nguyên ra đời từ niềm tin mãnh liệt
vào thần linh mà họ thường vẫn gọi là Yàng nên mang tính cộng đồng rất
cao. Các nghi lễ, lễ hội vừa là những sinh hoạt văn hoá có tác dụng to lớn
trong việc củng cố và tăng cường sức mạnh của tình đoàn kết, sự gắn bó
của cộng đồng nhưng cũng đồng thời tạo môi trường diễn xướng của nhiều
nhạc cụ dân tộc như: K’ni, Brố, đinh Tăk Tà, đinh Tút, đinh Năm Ở đây có
những nghi lễ, lễ hội đặc sắc, độc đáo như: lễ trưởng thành, lễ bỏ mả, lễ
cúng bến nước, mừng lúa mới, nhà mới, lễ rước Kpan mang đậm nét văn
hóa riêng của dân tộc Tây Nguyên .
Âm nhạc của Tây Nguyên cũng thật đặc sắc với tiếng đàn T’rưng, đàn
Klông pút. Nhưng cuốn hút hơn cả là những giàn cồng chiêng với những
âm thanh có sức vang động sâu xa. Tiếng cồng chiêng gắn liền với rất nhiều
lễ thức trong đời sống cộng đồng của các buôn làng Tây Nguyên.
Những lễ hội được quan tâm giao thoa văn hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở
đây, thể hiện qua những kiến trúc đặc sắc như nhà sàn dài, nhà rông, đời
sống văn hóa, ẩm thực Những họa tiết hoa văn được điểm xuyết khá tinh
tế xuất hiện trên các ngôi nhà của dân tộc Tây Nguyên
(*).Bản sắc văn hóa Tây Nguyên – Nguồn:
/>trong-qua-trinh-hoi-nhap aspx
11
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
các dụng cụ của họ, trên từng bộ đồ của dân tộc Tây Nguyên Nghệ thuật
dệt hoa văn, trang trí và điêu khắc của đồng bào cũng là một mặt rất đặc
sắc của văn hoá Tây Nguyên. Đặc biệt đáng chú ý là truyền thống đẽo
tượng mồ bằng những khúc gỗ tròn của các tộc người ở Bắc Tây Nguyên.
Rồi đến ẩm thực là rượu cần, cơm lam, canh cà đắng đã bắt đầu vượt ra
khỏi không gian của buôn làng trở thành những đặc sản mang thương hiệu

những đồ lặt vặt, người chị cả đại diện cho người mẹ là người có nhiệm vụ
chăm nom, giữ gìn.
Tất cả những cái bát vỏ bầu, cái thúng đựng tro, cái hòn để mài, các cái trã
để luộc rau, người chị cả là người phải bảo quản.
Các ché tuk đỏ, các ché êbak Mnông, các vòng đeo tay, các chén bát đẹp
bằng bạc bằng vàng là những của cải quý giá do tổ tiên xưa kia giàu có để
lại, chính người chị cả là người phải giữ gìn”
(1)
.
Tài sản trong gia đình đều thuộc về quyền quản lý của người mẹ hay người
đại diện cho mẹ là chị cả. Việc thừa kế tài sản chỉ thực hiện theo dòng họ
nữ. Khi vợ chết, mọi của cải và cả con cái đều thuộc về phía gia đình vợ (dì,
bà ngoại) quản lý, còn người chồng phải trở về sinh sống với cha mẹ mình
mà không được mang theo tài sản và con cái.
(1) Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn : Luật tục Êđê, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 187 –
188
13
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
Trong trường hợp người chồng được gia đình bên vợ cho nối dây (lấy em
vợ) thì cùng với vợ tiếp tục quản lý con cái và tài sản đó.Công việc quản lý
và phân chia tài sản được tiến hành như sau : nếu gia đình có nhiều chị em
sống chung với nhau, thì số tài sản, của cải đó do người con gái lớn nhất
quản lý. Trường hợp có người đi lấy chồng và ra ở riêng thì mới phân chia
cho họ một phần. Các anh em trai đều không được chia phần trong số tài
sản đó. Nếu không có các con gái thì các con trai về ở với bà ngoại hoặc các
dì và số tài sản do mẹ để lại thuộc về bà hoặc các dì.
Như vậy, luật tục Ê Đê về thừa kế tài sản có phần ưu ái với phụ nữ mà
không bình đẳng giữa chồng và vợ, giữa trai và gái, gia đình chồng và gia
đình vợ. Quy định này không phù hợp với pháp luật dân sự hiện hành.


Người phụ nữ có quyền đòi người chồng nộp đầy đủ của cải đền bù về việc
vi phạm phong tục truyền thống của mình.
Ở người Ê Đê, tục “nối nòi” (chuê nuê) được luật tục bảo vệ nghiêm ngặt,
cũng giống như : “Dầm nhà gãy thì phải thay, dát sàn nát thì phải thế. Chết
người này thì phải nối bằng người khác”
(4)
. Theo đó, khi chồng chết, người
đàn bà có quyền đòi hỏi nhà chồng một người em trai chồng để nối nòi.
Ngược lại, người vợ chết, người chồng cũng có thể lấy em gái của vợ để nối
nòi.Cũng có khi tục nối nòi truyền thống vượt ra ngoài phạm vi hôn nhân
chị em vợ và hôn nhân anh em chồng. Chẳng hạn, khi cậu (amiêt) chết thì
nối lại bằng cháu (a muôn), bà (a chuôn) chết cũng được nối lại bằng cháu.
Tập quán của người Gia Rai không để cho người đàn bà chịu cảnh góa bụa,
bất hạnh suốt đời mà cho họ đi bước nữa “để nối lại sợi dây bị đứt”, “không
để bếp lò rạn nứt, ngôi nhà bị thủng”, “không để nỗi buồn trùm lấp” :
15
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
(1) Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn : Luật tục Êđê, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trang 114
(2) Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn : Luật tục Êđê, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trang 127
(3) Ngô Đức Thịnh , Luật tục MNông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, trang 368
(4) Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn , Luật tục Êđê, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trang 115
Khi Bút chết, phải lấy Bang
Khi ngôi nhà lợp tranh dong đổ, phải dựng ngôi nhà lợp tranh …
Nếu cậu chết, phải lấy cháu
Những chiếc xà đỡ lấy sàn
Những chiếc xà đỡ lấy mái
(1)
.

Lợn cưới sẽ mất
Ché cưới sẽ mất
Nhà chồng không được thắc mắc
Nhà chồng không được bắt tội
Sau đó vợ có quyền đi lấy chồng khác
(3)
.
Lễ trao vòng (ba kông hay dja kông) của người Gia Rai tương tự như lễ
dạm hỏi của người Kinh (Việt), nhưng có ý nghĩa quan trọng hơn. Lễ này do
nhà gái tiến hành, chủ động sang phía nhà trai dạm hỏi. Sau lễ trao vòng,
đôi trai gái đã có thể ở với nhau với điều kiện không được có con trước khi
tổ chức lễ cưới chính thức. Việc trả vòng đồng nghĩa với việc từ chối đám
cưới và lúc này, hai bên có thể tự do tìm bạn tình mới, giao ước hôn nhân
giữa hai gia đình coi như được xóa bỏ. Luật tục bênh vực quyền lợi chính
đáng của người phụ nữ :
Của cải tôi sẽ lấy lại
Trâu bò lấy lại hết
Để tìm vợ tìm chồng không ai nói nữa
17
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
Tôi gặp ai yêu thương tôi
Tôi phải lấy làm chồng
(4)
(1) Phan Đăng Nhật : Luật tục Gia Rai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999,trang 182
(2) Ngô Đức Thịnh : Luật tục Ê Đê, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trang 125
(3) Ngô Đức Thịnh : Luật tục M Nông, nxb chính trị quốc gia, Hà Nội,1998, trang 476
(4) Phan Đăng Nhật : Luật tục Gia Rai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 315
Nếu người con trai đơn phương không thực hiện lời giao ước sau lễ trao
vòng, anh ta phải bồi thường danh dự cho cô gái đó, mức bồi thường có khi

nữ, thì ý kiến của họ thường được khoa phạt kđi (người xử kiện) coi trọng.
Luật tục Ê Đê có câu : “Êbuh mniê djê êkei” (con gái ngã là con trai chết).
Theo đó, nếu người phụ nữ đã khai thì dù có hay không, người đàn ông
cũng bị quy tội là đã có quan hệ bất chính với chị ta.
Tiếp đó, nếu người đàn ông có vợ sẽ bị vợ phạt. Nói chung, người ta tin lời
nói của người phụ nữ, mặc dù có khi sự thật là không có. Trong vấn đề ly
hôn, lỗi của người phụ nữ bao giờ cũng được đánh giá nhẹ hơn so với đàn
ông. Khi giải quyết các vụ kiện ly hôn, người ta vẫn có những quy định ưu
tiên quyền lợi của phụ nữ.
Tập tục của người Ê Đê, Gia Rai cho phép người phụ nữ có quyền “đi bước
nữa” trong trường hợp người phụ nữ đó có chồng đi vắng lâu năm, không
còn chờ đợi được nữa. Trường hợp khác, khi người chồng bị cầm tù hay bị
bắt làm nô lệ, luật tục không bắt buộc người vợ phải chờ mà có thể đi lấy
chồng khác.
Điều này được luật tục Êđê biện luận như sau : “Chị ta đã mòn mỏi trông
chờ, đã già đi, công việc nương rẫy lại không có người làm. Chòi không có
19
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
ai đi thăm, rẫy không có ai đi phát, con két, con vẹt không có ai xua đuổi.
Chị ta đã chờ hết năm này qua năm khác, hết mùa khô này đến mùa khô
khác. Đã đến lúc phải thôi đi những năm tháng đợi, phải để chị ta kiếm
người chồng khác, một đời chồng thứ hai”
(1)
. Phong tục cho phép người
phụ nữ đó mời họ hàng đến để thưa chuyện và sau đó được quyền đi lấy
chồng khác.
- Tập quán của nhiều dân tộc thiểu số rất quan tâm đến trẻ em bởi trẻ em là
hình ảnh ngày mai của mỗi dân tộc.
(1) Ngô Đức Thịnh : Luật tục Ê Đê, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trang 149

(1) Phan Đăng Nhật : Luật tục Gia Rai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 348
Có con sao bỏ cho ai
Cha mẹ bỏ rơi con, có tội
(1)

Đối với những đứa trẻ lang thang, cơ nhỡ do nhiều hoàn cảnh khác nhau xô
đẩy, có thể do cha mẹ chúng vô trách nhiệm, không thể nuôi nổi chúng vì
quá nghèo khổ hoặc rơi vào hoàn cảnh éo le cha mẹ không may bị mất sớm
khi tuổi chúng hãy còn nhỏ dại, luật tục cho phép quyền được nhận con
nuôi :
Tôi thấy chuột ở ngoài rừng
Thấy kỳ nhông ở ngoài làng
Thấy mang ở trong bụi cây
Thấy rái cá ở trong nước
Thấy vượn ở trên núi
Đến cửa nhà tôi
Tôi phải nuôi nấng chúng thôi
(2)

21
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
Luật tục cho phép mọi người dân có quyền nhận người khác làm con nuôi
hoặc được người khác nhận làm con nuôi mà không phân biệt họ hàng
dòng tộc. Việc nhận con nuôi chỉ cần có sự thỏa thuận giữa bà con họ hàng
đôi bên và mặc nhiên được buôn làng chấp thuận. Con nuôi có đủ các quyền
và nghĩa vụ như con đẻ, được tôn trọng và đối xử bình đẳng, kể cả quyền
được nhận tài sản thừa kế :
Nếu nó sống hiền lành tử tế
Biết làm vựa lúa, làm rẫy tốt

Trả bằng trâu chưa khớp
Trả bằng ché chưa đúng
Trả bản thân cũng chưa xong
(1) Ngô Đức Thịnh : Luật tục M Nông, nxb chính trị quốc gia, Hà Nội,1998, tr 512
Luật tục coi tội hãm hiếp trẻ con là tội không thể xóa sạch : Hãm hiếp trẻ
con xóa không sạch
(1)
.
- Tập tục truyền thống của các dân tộc có nhiều điều đề cập đến quyền của
người phụ nữ và trẻ em. Nhiều điều quy định đến nay vẫn có giá trị và phù
hợp với pháp luật Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những điều luật đề cao và
bênh vực người phụ nữ thì còn không ít những tập tục tỏ ra không phù
hợp, thậm chí lạc hậu. Có những tập tục xử phạt người phụ nữ quá nặng
như tội ngoại tình, loạn luân, hay quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Chẳng hạn, dân tộc Xê Đăng cư trú ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum quy
định, nếu phụ nữ có thai trước khi cưới sẽ bị phạt heo và rượu để cả buôn
làng cùng uống.
23
Văn Hóa Tây Nguyên
Nguyễn Đình Hiếu – 10LC651004
Còn theo tập quán của người Xê Đăng ở huyện Kon Plông, nếu người phụ
nữ có thai trước khi cưới thì gia đình, họ hàng, buôn làng không giúp đỡ
mà hai người tự tổ chức lấy, trường hợp không cưới sẽ bị phạt một con bò
và 10 ché rượu
(2)
.
3. Nền ẩm thực của dân tộc Tây Nguyên
Ẩm thực trong ngày lễ Tết ở Tây Nguyên
(*)
Tây Nguyên là nơi sinh sống của hàng chục dân tộc anh em, đông nhất là

đặc biệt như ở miền xuôi. Đáng chú ý là món nướng và làm món như tiết
canh, nem sống ở dạng thô sơ. Những món ăn này dùng để khoản đãi hay
để dâng cúng thần linh.
(*). Ẩm thực trong ngày lễ tết ở Tây Nguyên
/>Tay-Nguyen.aspx
Ngoài ra, họ còn dùng phèo lấy từ ruột con vật bốn chân để chế biến món
ăn là một đặc điểm trong cách thức ngả món của đồng bào Gia Rai, Ba Na.
Kỹ thuật băm sống và trộn bóp đóng vai trò quan trọng tạo ra nhiều món
từ thịt trâu bò, dê, nguồn thịt chính trong lễ hiến tế thần linh. Có món thịt
bóp với phèo. Có món thịt băm nhỏ trộn với muối đựng trong ống tre. Có
món thịt trộn với phèo rồi gói lá. Có món thịt trộn với tiết, phèo và muối ớt
để trên lá. Có món thịt, ruột non, gan, ruột già hỗn hợp đựng trong ống tre.
Lại có món thịt băm, tiết, phèo, muối ớt trộn nhuyễn. Da bóp với phèo cũng
thành một món. Món thường gặp là gan và lá sách thái miếng xiên xen kẽ
vào que tre để nướng.
Trong các món ăn kể trên họ đều dùng thịt sống, tuy không được nấu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status