Nghiên cứu đề xuất giải pháp quy hoạch khu nuôi trồng thủy sản vùng trũng tỉnh Ninh Bình - Pdf 27


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam Đồng bằng sông Hồng, với địa hình
đa dạng ( địa hình biển, ven biển, đồng bằng, gò đồi, bán sơn địa, núi đất, núi
đá vôi), Ninh Bình có nhiều cảnh quan du lịch, di tích lịch sử như vườn quốc
gia Cúc Phương, khu hang động Tam Cốc-Bích Động, Địch Lộng, đền vua
Đinh Lê, nhà thờ Phát Diệm, Chùa Non Nước, Khu du lich Tràng An…, có vị
trí địa lý thuận lợi trong giao thương với Thủ đô Hà Nội, các tỉnh đồng bằng
sông Hồng và cả nước. Ninh Bình có điều kiện thuận lợi để phát triển một nền
kinh tế tổng hợp bao gồm các ngành Công nghiệp, dịch vụ-du lịch, nông
nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên trong thời gian qua các
tiềm năng này của Ninh Bình chưa được phát huy và mang lại hiệu quả cao.
Huyện Nho Quan nằm ở phía Tây-Nam của tỉnh, cũng như những vùng
chiêm trũng khác, thuộc khu phân lũ của sông Hoàng Long. Đời sống nhân dân
còn rất nhiều khó khăn do sản xuất nông nghiệp bấp bênh. Ngành nuôi trồng thuỷ
sản nước ngọt tại huyện Nho Quan nói riêng và Ninh Bình nói chung mới chỉ
mang tính chất tận dụng các loại hình mặt nước sẵn có như ao, hồ nhỏ, các khu
ruộng trũng ngập nước và sông suối tự nhiên mặc dù đã hình thành từ lâu đời.
Thực tế tiềm năng diện tích ruộng trũng có thể chuyển đổi sang nuôi
trồng thuỷ sản của tỉnh là rất lớn, tiểm năng này vẫn chưa được khai thác một
cách tương xứng. Nguyên nhân là do việc chuyển đổi các diện tích ruộng
trũng sang nuôi trồng thuỷ sản hiện nay vẫn mang tính tự phát và thiếu các
quy hoạch chuyển đổi phù hợp nên hệ thống cơ sở hạ tầng của các vùng nuôi
được chuyển đổi hầu như chưa có, hệ thống ao nuôi được thiết kế quá đơn
giản. Qua khảo sát cho thấy người dân thường tận dụng ngay bờ ruộng cũ để
làm bờ ngăn, do vậy thường xuyên bị rò rỉ mất nước, chiều cao bờ thấp rất
khó khăn trong nuôi trồng nhất là mùa mưa lũ.Điểm quan trọng nữa là hệ
thống xử lý cấp và thoát nước thải vẫn chưa được đề cập đến nuôi trồng thuỷ
sản mà chủ yếu phục vụ mục đích nông nghiệp là chính.

yếu để phát triển kinh tế vùng.

3
Chính vì vậy, đề tài : “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quy hoạch khu
nuôi trồng thủy sản vùng trũng tỉnh Ninh Bình” là cấp thiết, sẽ tập trung
giải quyết được các vấn đề cho nuôi trồng thủy sản, nhằm đáp ứng yêu cầu
chuyển đổi sản xuất và phát triển nông nghiệp nông thôn, nâng cao đời sống
của nhân dân, góp phần ổn định chính trị xã hội và an ninh quốc phòng.
2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở hạ tầng thủy lợi đáp ứng được nhu cầu nước
cho vùng nuôi trồng thủy sản kết hợp. Từ đó hình thành vùng nuôi tập trung
quy mô khoảng 530 ha tại 03 xã Quỳnh Lưu, Phú Lộc, Sơn Thành thuộc
huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình phục vụ cho hình thức nuôi trồng thuỷ sản
quảng canh cải tiến chủ lực là nuôi cá rô phi đơn tính ghép với các đối tượng
là cá truyền thống, năng suất đạt từ (3,0 đến 3,3) tấn/ha/vụ, tạo nguồn nguyên
liệu phục vụ xuất khẩu thuỷ sản.
- Nghiên cứu chất lượng môi trường nước tại khu nuôi tập trung, đánh giá
được chất lượng nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản từ đó đề xuất biện
pháp công trình và phi công trình để đảm bảo chất lượng nước theo định
hướng phát triển bền vững.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Quy hoạch khu nuôi trồng thủy sản vùng trũng
tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi nghiên cứu: 03 xã Quỳnh Lưu, Phú Lộc, Sơn Thành thuộc
huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp thủy lợi để đáp ứng đủ cho vùng quy hoạch tập
trung nuôi trồng thủy sản tại 03 xã Quỳnh Lưu, Phú Lộc, Sơn Thành thuộc


5
d. Tiếp cận kế thừa, phát triển các kết quả nghiên cứu và tiếp thu
công nghệ:
+ Tiếp cận các kết quả nghiên cứu về tài nguyên nước vùng trũng thuộc
khu phân lũ của sông Hoàng Long để ứng dụng vào điều kiện cụ thể của vùng
nghiên cứu.
+ Sử dụng các công cụ tiên tiến để triển khai thực hiện đề tài như: Sử
dụng các phần mềm tính toán để phục vụ công tác tính toán, dự báo diễn biến
nguồn nước tại vùng nghiên cứu .
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp kế thừa;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu;
- Phương pháp phân tích, xử lý, đánh giá số liệu;
- Phương pháp sử dụng mô hình toán.
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình nằm ở phía Tây bắc tỉnh Ninh Bình,
Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam với diện tích tự nhiên gần 460 km2, gồm có thị
trấn Nho Quan và 26 xã.
- Phía Bắc giáp các huyện Yên Thủy và Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình
- Phía Đông giáp các huyện Gia Viễn, Hoa Lư

thị tại ngã ba Anh Trỗi.
+ Diện tích: 16,92 km²
+ Dân số: 7622 người
Vùng nghiên
cứu 9
+ Mật độ dân số: 450 người/km²
Địa giới hành chính, xã này nằm giáp các xã:
+ Phía đông giáp xã Sơn Lai, Nho Quan
+ Phía nam giáp các xã Sơn Hà và Quảng Lạc, Nho Quan
+ Phía tây giáp các xã Phú Long và Phú Lộc, Nho Quan
+ Phía bắc giáp xã Sơn Thành, Nho Quan
b. Xã Phú Lộc
Phú Lộc là một xã miền núi nằm ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Được thành lập theo quyết định số 199/QN ngày 22/7/1964 trên cơ sở tách từ
xã Yên Phú. Xã này nằm trên quốc lộ 12B nối thị xã Tam Điệp với thị trấn
Nho Quan đi các tỉnh Hòa Bình, Sơn La và quốc lộ 45 đi Thanh Hóa, ngã ba
Rịa là một nút giao thông trong xã. Xã cũng nằm trên Đại lộ Tràng An (đường
nối chùa Bái Đính - Cúc Phương) đi qua. Trụ sở xã cách trung tâm thành phố
Ninh Bình 24 km. Theo đề án điều chỉnh quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị
đến năm 2030, tầm nhìn 2050 của tỉnh Ninh Bình thì xã này được quy hoạch
thành đô thị Rịa.
+ Diện tích: 9,55 km²
+ Dân số: 5975 người
+ Mật độ dân số: 626 người/km²
Địa giới hành chính, xã này nằm giáp các xã:
+ Phía đông giáp xã Quỳnh Lưu, Nho Quan
+ Phía nam giáp các xã Phú Long, Kỳ Phú huyện Nho Quan

dịch vụ phát triển trên địa bàn nông thôn, nhất là các doanh nghiệp chế biến,
tiêu thụ nông sản, thực phẩm sử dụng nhiều lao động.
c. Xã Sơn Thành
Sơn Thành là một xã nằm ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Được thành
lập theo quyết định số 199/QN ngày 22/7/1964 trên cơ sở tách từ xã Thành
Công. Trụ sở xã cách trung tâm thành phố Ninh Bình 23 km.

11
+ Diện tích: 5,60 km²
+ Dân số: 3183 người
+ Mật độ dân số: 568 người/km²
Địa giới hành chính, xã này nằm giáp các xã:
+ Phía đông giáp xã Sơn Lai, Nho Quan
+ Phía nam giáp các xã Quỳnh Lưu và Phú Lộc huyện Nho Quan
+ Phía tây giáp xã Thanh Lạc, Nho Quan
+ Phía bắc giáp các xã Gia Phong và Gia Minh huyện Gia Viễn
Xã Sơn Thành có chợ Lam, là 1 trong 9 chợ quê trên địa bàn Nho Quan nằm
trong danh sách 107 chợ loại 1, 2, 3 ở Ninh Bình năm 2008.
1.1.2. Địa hình
Huyện Nho Quan là huyện nằm trong khu vực tiếp giáp giữa vùng
ĐBSH và vùng Bắc Trung bộ, vùng quy hoạch có địa hình khá phức tạp mang
tính chất đặc trưng của vùng núi cao và vùng bán sơn địa. Đồng thời đây cũng
là vùng đất trũng nằm trong khu vực phân lũ phía Nam đồng bằng sông Hồng.
Địa hình của vùng Quy hoạch mang đặc điểm của ba vùng rõ rệt nhất.
a. Vùng núi cao
Là vùng có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại
với các loại cây trồng và cây ăn quả đồng thời cũng là vùng có điều kiện thuận
lợi để phát triển chăn nuôi các loại đại gia súc và các loại con nuôi đặc sản.
b. Vùng bán sơn địa
Vùng này có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và công nghiệp sản xuất

đối rõ rệt. Mùa lạnh bắt đầu từ cuối tháng 9 đầu tháng 10 và kéo dài tới cuối
tháng 3. Nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông dưới 20
0
C, tối thấp dưới
15
0
C. Tuy nhiên, trong những tháng lạnh nhất cũng có ngày nhiệt độ trung
bình trên 20
0
C, tối cao trên 25
0
C giống những ngày thời tiết của của mùa
nóng. Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 và kết thúc khoảng trung
tuần tháng 10.
b. Chế độ mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1800 đến 1950mm, lượng mưa tập
trung vào 6 tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm từ 80 đến 85%
tổng lượng mưa cả năm. Lũ lụt cũng thường xảy ra vào thời điểm này. Về
mùa khô, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm khoảng 15 đến 20% tổng lượng mưa
năm. Thời gian mưa nhiều nhất từ tháng 7 đến 9, lượng mưa lớn nhất là
297,6mm (tháng 9).

13
c. Độ ẩm
Độ ẩm không khí trung bình năm là 83%, độ ẩm tương đối cao là 90%,
độ ẩm tương đối thấp là 70%. Giữa tháng có ẩm độ lớn nhất 91% (tháng 2) và
nhỏ nhất 80% (tháng 10) chênh lệch không nhiều. Vào nửa sau của mùa đông
thường có mưa phùn trong nhiều ngày đã duy trì tình trạng ẩm ướt thường
xuyên. Do đó, mùa đông ở đây không phải là mùa khô mà là mùa ít mưa, có
thời kỳ độ ẩm cao tới 82%.

Tháng
Tb
tiêu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
năm
Gió (m/s) 2,2 2,0 1,7 2,0 1,9 2,1 1,6 2,0 2,2 2,1 2,1 2,1 2,0
T
0
(
0
C)
16,3
17,0
19,7
23,4
27,3
28,2
29,2
28,4

T12
Tổng
Qninh - T. Hoá
1
17
22
33
25
4
-
1
103
N. Định-N.Bình
-
3
1
3
3
-
-
-
10
( Nguồn: Đề án khai thác tổng hợp và sử dụng hợp lý tài nguyên Bắc Bộ )
1.1.4. Địa chất
Là vùng đất được hình thành bởi sự bồi lấp của phù sa sông Hồng đồng
thời là vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên thành phần đất đai
của vùng quy hoạch tương đối phong phú. Bao gồm các loại sau:

15
Đất phù sa không được bồi lắng hàng năm. Đất có phản ứng ít chua, có


16
Sông Bến Đang nối từ đoạn sông Rịa đổ vào sông Hoàng Long tại Đồi
Khoai, xã Quỳnh Lưu, Nho Quan. Sông chảy qua các xã: Quỳnh Lưu, Sơn
Hà, Yên Sơn, Tân Bình, Yên Bình rồi đổ vào huyện Yên Mô làm ranh giới tự
nhiên giữa các xã Yên Thắng và Mai Sơn, Yên Hòa và Khánh Thượng, Yên
Hưng và Yên Phú, Yên Mỹ và Yên Phong, Yên Nhân vàYên Từ. Tại xã Yên
Hòa còn một nhánh nữa chảy qua làng Trinh Nữ, các xã Yên Thành, Yên Mạc
rồi đổ vào sông Bút được gọi là sông Trinh Nữ.
Sông Bến Đang là một con sông thoát lũ, úng được mở rộng từ những
năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX nên nó còn được gọi là sông Mới, đoạn hạ
lưu của nó là sông Trinh Nữ nổi tiếng trong sử sách. Đoạn đầu sông Bến
Đang có nhiệm vụ tiêu thoát lũ núi và nhận nước tiêu úng từ các khu vực sản
xuất nông nghiệp thuộc một phần diện tích 9 xã (Văn Phương, Văn Phú, Phú
Lộc, Thượng Hòa, Thanh Lạc, Sơn Thành, Phú Long, Quỳnh Lưu, Sơn Lai)
thuộc huyện Nho Quan và 4 xã (Gia Phong, Gia Minh, Gia Sinh, Gia Lạc)
thuộc huyện Gia Viễn chảy xuống phía Nam, qua sông Ghềnh gặp sông Bút
rồi chia ngả đổ vào sông Vạc, sông Càn ra biển Đông. Khi thoát nước sông có
thể ngược theo sông Rịa chảy lên phía đông bắc đổ ra sông Hoàng
Long thông qua Ân Lê cuối sông Rịa trên địa phận huyện Gia Viễn.
- Sông Đáy
Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng,
bắt đầu từ cửa Hát Môn chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam hợp biển
Đông tại Cửa Đáy. Nhưng đến năm 1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy,
nước sông Hồng không thường xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy trừ
những năm phân lũ, vì vậy phần đầu nguồn sông (từ km 0 đến Ba Thá dài
71km) sông Đáy coi như đoạn sông chết. Hiện tượng bồi lắng và nhân dân lấn
đất canh tác cản trở việc thoát lũ mùa mưa. Lượng nước để nuôi sông Đáy
chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông
Đào Nam Định, sông Nhuệ.


18
Sông Tích là chủ lưu lớn của sông Đáy, là nhánh sông cung cấp nước
tự nhiên lớn nhất cho thượng nguồn sông Đáy hiện nay. Sông Tích với diện
tích 1330km
2
bắt nguồn từ núi Tản Viên, đổ ra sông Đáy tại Phúc Lâm -
105°42’20” kinh độ Đông và 20°48’40” vĩ độ Bắc. Sông dài 91,0km với độ
dốc bình quân lưu vực là 5,8% chảy qua nhiều vùng đồi đất và nham cứng, độ
cao bình quân lưu vực ở mức 92m so với mặt biển, với độ rộng bình quân lưu
vực là 17,6km.
Lưu vực sông Tích có dạng hình lông chim, toàn bộ sông Tích có 25
nhánh cấp một, các nhánh phần lớn nhập lưu bên bờ phải, hệ số đối xứng là -
0,07, bên bờ phải có 16 suối với diện tích tổng cộng là 910km
2
, bờ trái có 9
suối với diện tích tổng cộng là 390km
2
.Các nhánh cấp một bên bờ phải đáng
lưu ý là :
+ Suối Hai bắt nguồn từ núi Ba Vì nhập lưu tại An Thịnh.
+ Sông Hang bắt nguồn từ núi Ba Vì nhập lưu tại đồi Ó.
+ Sông Giản bắt nguồn từ núi Viên Năm nhập lưu tại Trung Lạc.
+ Sông Bùi bắt nguồn từ núi Mỗ nhập lưu tại Bùi Xá.
+ Sông Bến Gõ bắt nguồn từ núi Đồi Bù nhập lưu tại Công An.
- Sông Hoàng Long
Sông Hoàng Long, thượng lưu dòng chính có tên là sông Bôi, bắt
nguồn từ phía Nam thị xã Hòa Bình. Từ hạ du chỗ hợp lưu sông Bôi, sông
Lạng, sông Đập (sông Canh Bầu) tại Kênh Gà gọi là sông Hoàng Long và
chảy vào sông Đáy tại Gián Khẩu. Chiều dài sông kể từ Hưng Thi đến Gián

hữu Hoàng Long, Gia Tường - Đức Long, Năm Căn được hình thành và từng
bước được nâng cấp. Hiện tại chỉ còn khu Xích Thổ là khu vực ngập lũ
thường xuyên. 20

Hình 1.4: Đập tràn Lạc Khoái bên sông Hoàng Long

Bảng 1.3.
Đặc trưng hình thái lưu vực của một số sông nhánh
TT
Sông
Nguồn sông
Cửa sông
Chiều
dài
(km)
DT lưu
vực
(km
2
)
1
Tích
Núi Tản Viên
Ba Thá
91
1300
2

185

21
Bên bờ trái có sông Cao Nhang bắt nguồn từ núi Phú Ngô nhâp lưu tại Cao
Nhang. Ba nhánh lớn Suối Hai, Đồng Mô, Ngải Sơn, Bến Gõ đã có hồ chứa.
Độ dốc đáy sông chính không lớn nhưng độ dốc các sông nhánh rất lớn,
trung bình từ 1,1 – 2% có suối lên tới 3%.
Lòng sông Tích có thể chia làm 3 đoạn:
+ Từ nguồn đến cống Chuốc: mặt cắt hẹp, lòng chính trung bình rộng
10 – 15m; độ dốc 0,8m/km.
+Từ cống Chuốc đến cống Trôi: lòng sông mở rộng hơn đoạn trên; độ
dốc 0,3m/km.
+Từ cống trôi đến Ba Thá lòng sông rộng trung bình từ 30- 40m, độ
dốc chỉ còn 0,1m/km.
Một đặc điểm quan trọng là tuy lòng sông Tích bé nhưng thềm sông
khá rộng, bề rộng trung bình của thềm sông khoảng 2000m – 3000m và hơn
nữa như các vùng Văn Miếu, Thạch Thất, Quốc Oai, thuận lợi cho việc dẫn lũ
nếu phân lũ qua Lương Phú.
Mùa lũ của sông Tích bắt đầu từ tháng VI đến tháng X. Với tâm mưa
lớn Ba Vì, lượng mưa trung bình nhiều năm đạt trên 2200mm, cường độ mưa
lớn, đã đo được 750mm trong 24 giờ. Tháng VII trên sông Tích gắn liền với
dông và bão, tháng IX là tháng có nhiều bão ảnh hưởng trực tiếp đến các tỉnh
Hoà Bình và Hà Tây, theo hướng đi thịnh hành của bão là Tây Tây Bắc nên
bão đổ bộ từ Thái Bình đến Vĩnh Linh đều gây ra mưa lớn trên lưu vực.
-Sông Rịa
Là một đoạn sông ngắn với lưu vực nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Tam Điệp
nhập với sông Bến Đang tại khu Đồi Khoai, sau đó nối với sông Hoàng Long
tại vị trí Âu Lê. Hai bờ sông hiện nay đã được đắp đê cao tới cao trình từ 3.5 -
4 m, bề rộng sông khoảng 30 - 40m. Lũ của sông Rịa chủ yếu tập trung vào
khu Lạc Khoái, tuỳ theo điều kiện tiêu thoát lũ hoặc qua Âu Lê ra sông Hoàng

vào tháng 9, tháng 10, còn lũ sông Hồng lớn nhất thường xuất hiện vào tháng
8. Sau khi có các hồ chứa Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang thì từ đầu tháng 9
các hồ chứa tích nước nên áp lũ sông Hồng đối với sông Đáy và sông Hoàng
Long giảm đáng kể.
Có thể nói, sông Hoàng Long là con sông lớn nhất của tỉnh Ninh Bình,
có chế độ thuỷ văn rất đa dạng. Thời kỳ mùa lũ, sông Hoàng Long vừa bị tác
động của lũ thượng nguồn của 3 nhánh sông Kim Bôi, Lạng, và sông Đập dồn
về. Mặt khác còn chịu tác động rất lớn của lũ sông Đáy, lũ sông Hồng phân
qua sông Đào Nam Định. Tổ hợp của 3 dạng lũ này khá phức tạp, ít khi xuất
hiện đồng bộ 3 dạng lũ lớn nhất. Nhưng thường gặp ở dạng lũ trung bình và
mực nước cao làm cản trở việc tiêu thoát lũ của sông Hoàng Long, nhất là hai
huyện Nho Quan và Gia Viễn.

23
-Các sông trục nội đồng
+ Sông Vạc là sông nội địa lớn trong khu Nam Ninh Bình, nó được nối
với sông Chanh, Hệ Dưỡng, sông Vân ở thượng lưu Cầu Yên và sông Bến
Đang qua Thắng Động. Chiều dài ra đến cửa Kim Đài là 27km, đoạn đầu cao
trình đáy ∇
đáy
= -3 ÷ -4m, bề rộng 40÷50m, đoạn cuối ∇
đáy
= -6 ÷ -7m, bề rộng
70 ÷ 90m. Ngoài nhiệm vụ là trục tiêu chính cho khu Nam Ninh Bình nó còn
nhiệm vụ trữ và dẫn nước tưới từ sông Đáy qua các âu Lê, âu Chanh, âu Vân
và âu Mới đưa vào các sông nhỏ khác cung cấp nước tưới cho hầu hết phần
đồng bằng Nam Ninh Bình.
+ Sông Gềnh nối sông Bến Đang với sông Vạc, cao trình đáy từ -1,0 ÷ -
2,0 m, bề rộng B= 40 ÷50m.
+ Sông Trinh Nữ nối sông Gềnh với sông Cầu Hội, sông hẹp và nông

+ Sông Đáy: Ở dưới ngã Ba Thá lưu lượng lớn nhất cũng chỉ đạt khoảng
500 m
3
/s. Trường hợp có phân lũ sông Hồng vào sông Đáy qua Vân Cốc và đập
Đáy thì lưu lượng lớn nhất như lũ tháng VIII năm 1971 cũng chỉ đạt 798 m
3
/s
Theo tính toán trước đây, lưu lượng đỉnh lũ về đến dưới Phủ Lý cũng
chỉ đạt khoảng 1000 m
3
/s.
Như vậy thành phần đỉnh lũ sông Đáy so với sông Hoàng Long thấp hơn
2 lần. Còn về tổng lượng nước thì chưa có số liệu đáng giá vì còn tuỳ thuộc
lượng nước bơm tiêu ra.
Theo tài liệu lũ được bổ sung từ tài liệu mực nước của hai trạm trạm
thủy văn Hưng Thi và Ba Thá, thống kê vẽ đường tần suất dòng chảy đỉnh lũ
Các đặc trưng thống kê đuợc xác định theo chuỗi lưu lượng đỉnh lũ đã bổ
sung và hoàn nguyên, kết quả tính toán lũ đỉnh lũ theo chuỗi hoàn nguyên
thống kê trong bảng 1.19 và bảng 1.20.
Bảng 1.4
. Lưu lượng đỉnh lũ theo tần suất tại trạm Ba Thá và Hưng Thi
Vị trí
Đặc trưng thống kê dòng
chảy lũ
Lưu lượng đỉnh lũ theo các
tần suất tính toán (m
3
/s)
max
Q

P(%)
Q m³/s
Thời gian
lặp lại
(năm)
Tần suất
P(%)
Q m³/s
Thời gian
lặp lại
(năm)
1
0.01
5315.01
10000.000
0.01
823.94
10000.000
2
0.10
4321.59
1000.000
0.10
695.92
1000.000
3
0.20
4015.52
500.000
0.20

8
2.00
2956.25
50.000
2.00
514.95
50.000
9
3.00
2759.17
33.333
3.00
488.18
33.333
10
5.00
2503.67
20.000
5.00
453.18
20.000
11
10.00
2139.44
10.000
10.00
402.59
10.000

- Dòng chảy kiệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status