Tổng quan lý luận về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái - Pdf 27

Tỷ giá hối đoái
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Nội dung
Chương 1: Tổng quan lý luận về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái
3
1.Tỷ giá hối đoái 3
1.1. Tỷ giá hối đoái là gì 3
1.2. Các loại tỷ giá trên thị trường 5
1.3 .Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở 6
1.4. Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái 8
1.5. Tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái 9
2. Chính sách tỷ giá hối đoái và những tiền đề ,mục tiêu cho việc hoạch định chính
sách tỷ giá hối đoái 10
2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái 10
2.2 Lựa chọn chế độ TGHĐ 12
Chương 2 Sự ảnh hưởng của chính sách tỷ giá hối đoái tới tốc độ phát triển
kinh tế của Việt Nam 21
1.Sự hình thành và vận động của tỷ giá cùng chính sách TGHĐ trong giai đoạn
trước tháng 3/1989 thời kế hoạch hoá , tập trung kinh tế. 21
2. Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ tháng 3/1989 đến nay, thời kì
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa.
24
2.1. Giai đoạn từ 1989-1992. 24
2.2. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993-1996 25
2.3. Giai đoạn từ tháng 7/1997 đến ngày 26/2/1999 30
2.4. Giai đoạn từ 26/2/1999 đến nay 33
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị 34
1.Một số nhận định chung 34
2. Định hướng về điều hành chính sách tỷ giá của NHNNVN. 36
3.Một số giải pháp . 37

Chương 1 Tổng quan lý luận về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái
Chương 2 Sự ảnh hưởng của chính sách tỷ giá hối đoái tới tốc độ phát triển
kinh tế của Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị
Tû gi¸ hèi ®o¸i
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI.
1. Tỷ giá hối đoái.
1.1 Tỷ giá hối đoái là gì?
Khái niệm của tỷ giá hối đoái rất phức tạp có thể tiếp cân nó từ những góc
độ khác nhau.
Xét trong phạm vi thị trường của một nước ,các phương tiện thanh toán quốc
tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước
theo một tỷ giá nhất định .Do đó có thể hiểu tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ
một được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác hay là bằng số
lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận
được khi đổi một đơn vị ngoại tệ .Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá trị
ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai .Chẳng hạn ở Việt Nam người ta thường nói
đến số lượng đồng Việt nam nhận được khi đổi một đồng USD ,DEM hay một FFR
…Trong thực tế ,cách sử dụng tỷ giá như vậy thuận lợi hơn .Tuy nhiên trong
nghiên cứu lý thuyết thì cách định nghĩa thứ nhất thuận lợi hơn
Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác ,đó là quan hệ so sánh
giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau . Một đồng tiền hay một lượng đồng tiền nào
đó đổi được bao nhiêu đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các
Tû gi¸ hèi ®o¸i
đồng tiền với nhau hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hay ngắn gọn là tỷ giá .Như vậy
,trên bình diện quốc tế ,có thể hiểu một cách tổng quát : tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa
giá trị của các đồng tiền so với nhau.

1.2. Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường
Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của
nền kinh tế nói chung ,hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng ,người ta thường phân
loại tỷ giá theo các tiêu thức sau đây :
* Dựa trên tiêu thức là đối tượng quản lý :
Tỷ giá chính thức : đây là loại tỷ giá được biết dến nhiều nhất và là tỷ giá
được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng do ngân hàng công bố chính
thức trên thị trường để làm cơ sở tham chiếu cho các hoạt động giao dịch , kinh
doanh ,thống kê…
Tỷ giá thị trường : tỷ giá được hình thành thông qua các giao dịch cụ thể
của các thành viên thị trường .
Tỷ giá danh nghĩa : là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau
,đồng này đổi được bao nhiêu đồng kia .
Tỷ giá thực: là tỷ giá phản ánh tương quan giá cả hàng hoá của hai nước
được tính theo một trong hai loại tiền của hai nước đó hoặc là giá trị tính bằng
cùng một đồng tiền của hàng xuất khẩu so với giá hàng nhập khẩu..v.v..
* Dựa trên kỹ thuật giao dịch : cơ bản có hai loại tỷ giá :
Tỷ giá mua/bán trao ngay, kéo theo việc thay đổi ngay các khoản tiền
Tỷ giá mua/bán kỳ hạn ,kéo theo việc trao đổi các khoản tiền vào một ngày
tương lai xác định.
Bên cạnh đó ,trong quá trình theo dõi hoạt động kinh doanh của ngân
hàng ,người ta còn đưa ra các khái niệm tỷ giá :
Tû gi¸ hèi ®o¸i
Tỷ giá điện hối : tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện ,thường được
niêm yết tại ngân hàng . Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá
khác.
Tỷ giá thư hối : là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư .
Tỷ giá của sec và hối phiếu trả tiền ngay : được mua và bán theo một tỷ
giá mà cơ sở xác định nó bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi của giá trị toàn bộ
của sec và hối phiếu phát sinh theo số ngày cần thiết của bưu điện để chuyển sec từ

1USD = 13500VND của năm 1998 ,tức tiền Việt Nam sụt giá và nếu giả định
mặt bằng giá thế giới không đổi ,thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính thành
tiền Việt Nam tăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình
trạng tương tự và trong đó có cả nguyên vật liệu ,máy móc cho sản xuất . Nếu các
yếu tố khác trong nền kinh tế là không đổi,thì điều này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá
cả trong nước tăng lên . Nếu tỷ giá hối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các
năm ( đồng nội tệ Việt Nam liên tục mất giá ) có nghĩa lạm phát đã tăng . Nhưng
bên cạnh đó , đối với lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước ,thì
sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực
này , giúp phát triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm , giảm thất
nghiệp ,sản lượng quốc gia có thể tăng lên . Ngược lại , nếu các yếu tố khác không
đổi thì lạm phát sẽ giảm ,khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực trong nước cũng có
xu hướng giảm ,sản lượng quốc gia có thể giảm ,thất nghiệp của nền kinh tế có thể
tăng lên … nếu tỷ gá hối đoái giảm xuống ( USD giảm giá hay VND tăng giá )
Tû gi¸ hèi ®o¸i
1.4. Những nhân tố tác động tới tỷ giá:
Về dài hạn có 4 nhân tố tác động tới tỷ giá :Năng suất lao động,mức giá cả
tương đối ở thị trường trong nước,thuế quan và hạn mức nhập khẩu,ưa thích hàng
nội so với hàng ngoại.
- Năng suất lao động(NSLĐ)trong nước đóng một vai trò quan trọng trong
việc ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ.NSLĐtrong nước tăng lên
tương đối so với nước ngoài, đồng nghĩa với việc các nhà kinh doan có thể hạ giá
thành sản phẩm,dich vụ của mình tương đối so với hàng ngoại nhập,dẫn đến sự gia
tăng mức cầu của hàng nội dịa so với hàng ngoại nhập,làm cho hàng nội địa vẫn
bán tốt khi giá đồng nội tệ tăng lên(TGHĐ)giảm xuống và ngược lại. Thực tế trên
thị trường thế giớiTGHĐ của đồng tiền phụ thuộc rất khăng khít vào NSLĐ tương
đối của nước đó.Một nền kinh tế phát triển có NSLĐ cao trong thời kì nào đó
thường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng giá của đồng tiền nước đó.
- Mức giá tương đối ở thị trường trong nước là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đếnTGHĐ.Theo thuyết mức giá cả tương đối,khi mức giá cả hàng

đồng tiền trong khu vực ( do đồng tiền của các nước này giảm giá so với đồng
USD ) nên giá cả của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế đang cao hơn so với
hàng hoá cùng chủng loại của các nước trong khu vực dẫn đến bị cạnh tranh một
cách gay gắt và thực tế là tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta trong năm 2000 và
mấy tháng đầu năm 2001 là không tăng mà có tăng thì cũng chỉ tăng một lượng
nhỏ.
2. Chính sách tỷ giá hối đoái và những tiền đề, mục tiêu cho việc hoạch
định chính sách tỷ giá hối đoái.
2.1. Chính sách tỷ giá hối đoái .
2.1.1 Khái niệm:
Tû gi¸ hèi ®o¸i
Chính sách TGHĐ là một hệ thống các công cụ dùng để tác động tới cung cầu
ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những
mục tiêu cần thiết.
Về cơ bản , chính sách tỷ giá hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớn là :
vấn đề lựa chọn chế độ ( hệ thống ) tỷ giá hối đoái ( cơ chế vận động của tỷ giá hối
đoái ) và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái .
2.1.2. Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Trong nền kinh tế mở động cơ hoạch định chính sách là những mục tiêu
cân đối bên trong và bên ngoài .Trong khi đó tỷ giá hối đoái lại là một yếu tố có
khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến những cân đối này nên việc hoạch định những
chính sách tỷ giá phải trực tiếp nhắm đến hai mục tiêu này.
Trên đây là hai nhóm mục tiêu cơ bản mà chính sách tỷ giá cuối cùng
phải hướng đến .Tuy nhiên trong giai đoạn nhất định nào đó , chính sách tỷ giá
cũng có thêm những mục tiêu cụ thể như : thường xuyên xác lập và duy trì mức tỷ
giá cân bằng , duy trì và bảo vệ giá trị đồng nội tệ, tiến tới thực hiện đầy đủ chức
năng của đồng tiền ( bao gồm việc thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng tiền)
,gia tăng dự trữ ngoại tệ..
Bây giờ sẽ lần lượt xem xét hai mục tiêu : cân bằng nội và cân bằng
ngoại.

của nhà nước để giữ vững ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia . Đây là biện
pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá hối đoái . Việc mua bán ngoại tệ được thực hiện
trên nguyên tắc diễn biến giá cả ngoại tệ trên thị trường và ý đồ can thiệp mang
tính chất chủ quan của nhà nước . Việc can thiệp này phải là hành động có cân
nhắc, tính toán những nhân tố thực tại cũng như chiều hướng phát triển trong tương
lai của kinh tế, thị trường tiền tệ và giá cả.
Tû gi¸ hèi ®o¸i
- Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái : Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ bình ổn
hối đoái thường là : phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia . Khi ngoại tệ
vào nhiều,thì sử dụng quỹ này để mua nhằm hạn chế mức độ mất giá của đồng
ngoại tệ .Ngược lại , trong trường hợp vốn vay chạy ra nước ngoài quỹ bình ổn hối
đoái tung ngoại tệ ra bán và tiếp tục mua các trái khoán đã phát hành để ngăn chặn
giá ngoại tệ tăng .Theo phương pháp này , khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm
hụt , quỹ bình ổn hối đoái sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cân
thanh toán , khi ngoại tệ và nhiều , quỹ sẽ tung vàng ra bán thu về đồng tiền quốc
gia để thu ngoại tệ nhằm duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái.
2.2. Lựa chọn chế độ TGHĐ
2.2.1. Các chế độ tỷ giá hối đoái
2.2.1.1Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
2.2.1.1.1 Chế độ đồng giá vàng (1880 - 1932):
Sau một quá trình phát triển lâu dài, tiền thống nhất từ các dạng sơ khai thành
hai loại: vàng và bạc sau đó cố định ở vàng. Chế độ bản vị vàng là chế độ ở đó,
vàng đóng vai trò là vật ngang giá chung, chỉ có tiền đúc bằng vàng hoặc dấu hiệu
của nó mới có thể đổi lấy nó. Theo đó, đồng tiền của các nước được đổi trực tiếp ra
vàng, tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng của các
đồng tiền, sự so sánh đó được gọi là ngang giá vàng (gold parity).
Ví dụ: 1 GBP = 5 USD có nghĩa là: 1GBP có chứa "một hàm lượng vàng"
tương đương với 5 lần hàm lượng vàng của 1 USD. Nói cách khác, ngang giá vàng
của GBP so với USD là: GBP/USD = 5.
Trong chế độ bản vị vàng, khi việc đúc tiền vàng , đổi tiền ra vàng và xuất

nguyên, xâm chiếm thuộc địa ở các nước kém phát triển. Khi lượng tiền phù hiệu ở
trong lưu thông quá lớn thì nó trở lại để đổi lấy tiền vàng sẽ không có lượng vàng
đủ lớn để đúc tiền vàng nữa.
Tû gi¸ hèi ®o¸i
Mạt khác, trước đại chiến thế giới I, chính phủ các nước chạy đua vũ trang
đã timg mọi cách vơ vét vàng, vì thế lượng vàng trong lưu thông giảm mạnh, các
dấu hiệu tiền tệ, tiêng giấy tăng lên, đến khi chiến tranh thế giới năm 1914 bùng
nổ, chế đọ bản vị vàng tan vỡ. Các nước bắt đầu áp dụng các hình thức biến tướng
của ngang giá vàng là chế độ bản vị vàng thoi và chế độ bản vị vàng hối đoái. Các
chế độ này không có tính chất ổn định như chế độ bản vị tiền vàng trước năm
1914. Đến năm 1923, Anh kêu gọi các nước thực hiện lại chế độ bản vị vàng
nhưng không nước nào tham gia. Năm 1925, Anh đơn phương thực hiện lại chế độ
bản vị vàng, các nước cùng nhau phá giá đồng tiền của mình mua GBP, đổi lấy
vàng gây nên nạn chảy máu vàng ở Anh. Năm 1931, Anh buộc phải xoá bỏ chế độ
đồng giá vàng - bảng Anh.
Đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 - 1933 đã đánh dấu sự sụp
đổ hoàn toàn của chế độ bản vị vàng dưới mọi hình thức và điều đó cũng có nghĩa
là đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ tỷ giá hối đoái ổn định và sức mua của đồng
tiền được giữ vững.
2.2.1.1.2. Chế độ tỷ giá cố định theo thoả ước Bretton Woods (1946 - 1971)
Nhằm ổn định lại sự phát triển thương mại quốc tế và thiết lập một trật tự thế
giới mới sau thế chiến thứ hai, Mỹ, Anh và 42 nước đồng minh đã họp hội nghị tại
Bretton Woods (Mỹ) tháng 7/1944 để bàn bạc xây dựng hệ thống tiền tệ và thanh
toán chung. Hội nghị được đánh giá là hội nghị thành công nhất thế kỷ. Tại đây 56
nước ký tên hiệp định chấp nhận thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng
Thế giới (WB) và một chế độ tỷ giá hối đoái mới. Theo chế độ này, các nước cam
kết duy trì giá trị đồng tiền của mình theo đồng USD hoặc theo nội dung vàng
trong phạm vi biến động không quá ± 1% tỷ giá đăng ký chính thức tại quỹ. Nếu
các nước tự thay đổi tỷ giá mà không được sự đồng ý của IMF thì sẽ bị phạt cấm
vận. NHTW các nước phải can thiệp vào thị trường tiền tệ nước mình để giữ cho tỷ

cao hoặc quá thấp. Vì tỷ giá là luôn cố định, việc các nhà đầu cơ mua, bán lượng
Tû gi¸ hèi ®o¸i
tiền lớn khiến cho NHTW phải chi tiêu những lượng ngoại tệ lớn để cố gắng duy
trì tỷ giá đã định theo thoả ước cho đến khi nó được thay đổi.
- Sức ép từ tương quan thực tế giữa các đồng tiền: Sự tăng trưởng khác nhau
về xuất nhập khẩu cũng như tỷ lệ lạm phát rất chênh lệch giữa các nước và hàng
loạt các nhân tố tác động khác đã làm cho có sự thay đổi tương đối về giá trị tương
đối giữa các đồng tiền xét về dài hạn. Vì vậy, một số nước đã xin thay đổi lại tỷ
giá, gây sức ép cho tỷ giá cố định.
Vào những năm 60, bối cảnh kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, khoa học kỹ
thuật phát triển làm cho các nước phục hồi kinh tế, thế giới chia làm 3 cực: Mỹ,
Nhật và Tây Âu. Do đó, các nước đã xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ và Mỹ trở thành
nước nhập siêu. Về phía mình, hàng hoá Mỹ không còn sức hấp dẫn như trước làm
cho cán cân thương mại Mỹ thường xuyên thâm hụt, dự trữ vàng ngày càng giảm,
nợ nước ngoài tăng, USD mất giá nghiêm trọng. Thêm vào đó Mỹ sa lầy vào cuộc
chiến tranh ở Việt Nam và một số nước khác khiến chính phủ Mỹ chi tiêu ngày
càng nhiều tiền. Các nước khủng hoảng lòng tin với USD, đã chuyển đổi USD dự
trữ ra vàng, làm cho dự trữ vàng của Mỹ giảm sút nhanh chóng. Trước những diễn
biến phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, tổng thống Mỹ Nixon sau 2 lần
tuyên bố phá giá: Lần 1(tháng8/1971) 1USD = 0,81gram vàng ròng và 42 USD =
1ounce vàng, lần 2 (tháng 3/1973) 1USD = 0,7369 gram vàng ròng và 45 USD = 1
ounce vàng. Đồng USD bị phá giá (-10%) thì chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Bretton Woods hoàn toàn sụp đổ.
2.2.1.1.3. Nhận định chung về chế độ tỷ giá cố định:
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên bố
sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng tiền
nào đó ở một mức độ nhất định. ở đây, NHTW đóng vai trò điều tiết lượng dư cầu
hoặc dư cung về ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua
vào số dư đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status