Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 1 Luận văn
Thực trạng về chính sách
quản lí tỷ giá hối đoái của
Việt Nam trong thời gian
qua
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
1.Lí do lựa chọn đề tài
Với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới , các mối quan hệ
kinh tế trên mọi lĩnh vực của một nước ngày càng được mở rộng ra các nước ,
do đó vấn đề thanh toán ,định giá , so sánh ,phân tích đánh giá về mặt giá trị và
hiệu quả trở nên phức tạp hơn nhiều . Đơn vị thanh toán không chỉ là tiền tệ
trong nước mà còn phải sử dụng các loại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc
trao đổi tiền của nước khác . Tiền của mỗi nước được quy định theo pháp luật
của nước đó và đặc điểm riêng của nó ,vì vậy phát sinh nhu cầu tất yếu là phải
so sánh giá trị ,sức mua của đồng tiền trong nước với ngoại tệ và giữa các
ngoại tệ với nhau . Hoạt động chuyển đổi đồng tiền này thành đồng tiền khác
trong quá trình quan hệ giữa các nước nhóm nước với nhau đã làm nảy sinh
phạm trù tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 3
Do những hạn chế về trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian và việc
sưu tầm tài liệu nên khoá luận không tránh được nhiều thiếu sót. Em rất mong
nhận được ý kiến đánh giá góp ý của các thầy cô và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo Đặng Ngọc Anh -
người trực tiếp hướng dẫn và các bạn đã nhiệt tình giúp đỡ trong việc tìm tài
liệu để em hoàn thành đề án này.
số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội
tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ .Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp
hơn giá trị ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai .Chẳng hạn ở Việt Nam người
ta thường nói đến số lượng đồng Việt nam nhận được khi đổi một đồng USD,
DEM hay một FFR …Trong thực tế ,cách sử dụng tỷ giá như vậy thuận lợi hơn
.Tuy nhiên trong nghiên cứu lý thuyết thì cách định nghĩa thứ nhất thuận lợi
hơn
Tỷ giá dùng để biểu hiện và so sánh những quan hệ về mặt giá cả của các
đồng tiền các nước khác nhau . Có hai loại giá : giá trong nước (giá quốc gia )
phản ánh những điều kiện cụ thể của sản xuất trong một nước riêng biệt ,và giá
ngoại thương ( giá quốc tế ) phản ánh những điều kiện sản xuất trên phạm vi
thế giới . Do phạm vi ,điều kiện sản xuất cụ thể trong mỗi nước và trên phạm
vi thế giới khác nhau nên hàng hoá có hai loại giá : giá quốc gia và giá quốc tế
. Giá trị quốc gia được biểu hiện dưới hình thức giá cả trong nước bằng đơn vị
tiền tệ của nước đó . Giá trị quốc tế biểu hiện qua giá cả quốc tế bằng các
ngoại tệ trên thị trường thế giới .Tiền tệ là vật ngang giá chung của toàn bộ
khối lượng hàng hoá và dịch vụ trong nước . Vì vậy trong sức mua của đồng
tiền được phản ánh đầy đủ các quan hệ tái sản xuất trong nước đó ,hay nói
cách khác ,sức mua của một đồng tiền do mức giá cả của toàn bộ các loại hàng
hoá dịch vụ trong nước đó quyết định.Tỷ giá thể hiện sự tương quan giữa mặt
bằng giá trong nước và giá thế giới . Do sự khác nhau giữa hai loại giá cả trong
nước và giá cả thế giới mà tiền tệ vừa làm thước đo giá trị quốc gia vừa làm
thước đo giá trị quốc tế. Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại khi tính đến
vấn đề hiệu quả kinh tế ,thì phải thường xuyên so sánh đối chiếu hai hình thức
giá cả với nhau : giá quốc gia và giá quốc tế. Muốn thế phải chuyển từ đồng
tiền này sang đồng tiền khác , phải so sánh giá trị đồng tiền trong nước với
ngoại tệ thông qua công cụ tỷ giá .Tỷ giá dùng để tính toán và thanh toán xuất ,
nhập khẩu ( không dùng để ổn định giá hàng hoá sản xuất trong nước ) . Tỷ giá
hàng xuất khẩu là lượng tiền trong nước cần thiết để mua một lượng hàng xuất
● Cơ chế hành chính : ở những nước theo đuổi chính sách kiềm chế tài
chính và kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn thường đưa ra một mức tỷ giá neo cố
định .Tỷ giá này có thể được thay đổi điều chỉnh song không phải do các lực
lượng thị trường quyết định. Nó được ấn định lại khi các nhà quản lý cần thấy
phải thay đổi nó để phục vụ cho một mục đích nào đó.
1.1.2. Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường
Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động của
nền kinh tế nói chung ,hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng ,người ta thường
phân loại tỷ giá theo các tiêu thức sau đây :
* Dựa trên tiêu thức là đối tượng quản lý :
-Tỷ giá chính thức : đây là loại tỷ giá được biết đến nhiều nhất và là tỷ
giá được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng do ngân hàng công bố
chính thức trên thị trường để làm cơ sở tham chiếu cho các hoạt động giao dịch
, kinh doanh ,thống kê…
-Tỷ giá thị trường : tỷ giá được hình thành thông qua các giao dịch cụ
thể của các thành viên thị trường .
-Tỷ giá danh nghĩa : là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau
,đồng này đổi được bao nhiêu đồng kia .
-Tỷ giá thực: là tỷ giá phản ánh tương quan giá cả hàng hoá của hai
nước được tính theo một trong hai loại tiền của hai nước đó hoặc là giá trị tính
bằng cùng một đồng tiền của hàng xuất khẩu so với giá hàng nhập khẩu v.v
Tỷ giá hối đoái thực tế (er) được xác định er = en * Pn/Pf
e*
Q*
Q (VND)
Q (VND)
e
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
đồng tiền của chính quốc gia đó ,hay nhóm các quốc gia đó (đồng nội tệ) với
các đồng tiền của các quốc gia khác ( các đồng ngoại tệ) Tỷ giá giữ vai trò
quan trọng đối với mọi nền kinh tế.Sự vận động của nó có tác động sâu sắc
mạnh mẽ tới mục tiêu,chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia thể hiện trên
hai điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, TGHĐ và ngoại thương:Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là
quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả
hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó.Khi đồng tiền của một quốc
gia tăng giá(Tăng trị giá so với đồng tiền khác)thì hàng hoá nước đó ở nước
ngoài trở thành đắt hơn và hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ
hơn.Ngược lại khi đồng tiền một nước sụt giá,hàng hoá của nước đó tại nước
ngoài trở nên rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt
hơn(các yếu tố khác không đổi).Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 7
vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế,gây ra thâm hụt hoặc thặng
dư cán cân.
Thứ hai,TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát.Tỷ giá hối
đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương ,mà thông qua đó tỷ
giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả
trong nước ,lạm phát khả năng sản xuất , công ăn việc làm hay thất nghiệp…
Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản (vốn) từ
quốc gia này sang quốc gia khác. Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm
mục đích kiếm lời nhuận và tránh rủi ro. Do đó, nếu tỷ giá giảm trong trường
hợp người ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ
gia tăng và tư bản xuất khẩu sẽ giảm .
Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994 thấp hơn mức
1USD = 13500VND của năm 1998 ,tức tiền Việt Nam sụt giá và nếu giả
định mặt bằng giá thế giới không đổi ,thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 8
- Thuế quan và hạn mức nhập khẩu là những công cụ kinh tế mà chính
phủ dùng để điều tiết và hạn chế nhập khẩu.Chính công cụ này nhiều hay ít đã
tác động và làm tăng giả cảcủa hàng ngoại nhập,làm giảm tương đối nhu cầu
với hàng nhập khẩu, góp phần bảo hộ và khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất
trong nước.Những công cụ mà nhà nước dùng để hạn chế nhập khẩu sẽ ảnh
hưởng và làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ có xu hướng giảm về lâu dài.
- Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại. Nếu sự ham thích của người nước
ngoài về mặt hàng trong nước tăng lên thì cầu về hàng nội sẽ tăng lên làm
đồng nội tệ tăng giá,bởi hàng nội địa vẫn bán được nhiều ngay cả với giá cao
hơn của đồng nội tệ.Cầu đối với hàng xuất của một nước tăng lên làm cho
đồng tiền nước đó giảm giá.
-Năng suất lao động : Năng suất lao động cao làm giá hàng của một nước
rẻ tương đối so với các nước khác . Cầu hàng xuất nước đó cao lên kéo theo sự
tăng giá của đồng tiền nước đó. Về lâu dài , do năng suất lao động của một
nước cao hơn tương đối so với nước khác , nên đồng tiền của nước đó tăng
giá.
-Yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến tỷ giá : Phần lớn các nước đang phát
triển đều phải đối mặt với tình trạng “Đôla hoá” trong nền kinh tế.Đó là sự mất
niềm tin vào đồng bản tệ , người dân và các tổ chức kinh tế găm giữ đôla và
chỉ tín nhiệm đồng tiền này trong thanh toán trao đổi . Do vậy cầu USD rất lớn
và giá các đồng bản tệ xuống thấp các nước luôn trong tình trạng căng thẳng
về dự trữ ngoại hối đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn .
-Tỷ lệ lạm phát: Nếu tỷ lệ lạm phát nước A cao hơn tỷ lệ lạm phát nước
B,nước A cần nhiều tiền hơn để đổi lấy một lượng tiền nhất định của nước B.
-Giá đồng tiền nước A giảm xuống .
-Cán cân thương mại: Nó liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu .Xuất
khẩu lớn tỷ giá lên giá
ngoài trở lên rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở lên đắt hơn.
Từ đó tỷ giá ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và xuất nhập khẩu của các
quốc gia và trở thành yếu tố chính ảnh hưởng tới việc thực hiện 2 mục tiêu lớn
của nền kinh tế . Điều này có thể nhận thấy một cách rõ ràng khi xem xét nền
kinh tế Việt Nam. Hiện nay,đồng VND đang được coi là tăng giá tương đối so
với các đồng tiền trong khu vực ( do đồng tiền của các nước này giảm giá so
với đồng USD ) nên giá cả của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế đang cao
hơn so với hàng hoá cùng chủng loại của các nước trong khu vực dẫn đến bị
cạnh tranh một cách gay gắt và thực tế là tổng kim ngạch xuất khẩu của nước
ta trong năm 2000 và mấy tháng đầu năm 2001 là không tăng mà có tăng thì
cũng chỉ tăng một lượng nhỏ.
1.3.Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế.
1.3.1.a.Thực trạng quan hệ giữa tỷ giá với ngân sách:
Mọi sự biến động của các loại tỷ giá đều tác động trực tiếp tới thu chi
ngân sách. Trước năm 1990 nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá kết toán nội
bộ, mức tỷ giá nhà nước công bố thường cố định trong thời gian tương đối dài.
ở thời điểm công bố mức tỷ giá thấp hơn nhiều so với mức giá trên thị trường
và tình hình sức mua của đồng tiền tính chung thời kỳ 1985 - 1988, 1rúp mua
trên dưới 1.500VND hàng xuất khẩu, 1USD trên dưới 3.000VND, trong khi đó
tỷ giá kết toán nội bộ thanh toán trong quan hệ xuất nhập khẩu giữ mức
150VND/Rúp và 225VND/USD. Nhìn chung 1Rúp hàng xuất khẩu phải bù lỗ
1.350VND và 1USD phải bù 2.775VND. Kim ngạch xuất khẩu của năm
1987là 650 triệu R-USD trong đó khu vực đồng Rúp 500 triệu và khu vực
đồng USD 150 triệu, Ngân sách nhà nước đã phải bù lỗ 900 tỷ. Đối với các
ngành, các địa phương càng giao nhiều hàng xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ
với bạn, thì ngân sách nhà nước càng phải bù lỗ nhiều. Ngân sách nàh nước
không bù lỗ đủ hoặc chậm trễ trong việc thanh toán thì công nợ giữa các doanh
nghiệp và các ngành càng tăng và càng thiếu vốn để tiếp tục kinh doanh. Đối
với hàng nhập, thì khi vật tư nguyên liệu thiết bị về nước nhà nước đứng ra
phân phối cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân với mức giá thấp (phù hợp
và quản lý được.
+Tỷ giá hối đoái bị bóp méo so với thực tế đã khiến cho thu chi ngân sách
Nhà nước không phản ánh đúng nguồn thu từ nước ngoài và các khoản cấp
phát của ngân sách Nhà nước cho nền kinh tế quốc dân và cho các hoạt động
khác có sử dụng ngoại tệ.
+Việc tạo ra một tỷ giá chính thức tưởng là giữ giá trị đồng Việt Nam so
với ngoại tệ để kế hoạch hoá và ổn định kinh tế, nhưng thực chất là đẩy xuất
khẩu Việt Nam vào ngõ cụt, không khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu và
đẩy mạnh hàng nhập khẩu, hệ quả là cán cân thương mại bị nhập siêu nghiêm
trọng, ngân sách Nhà nước phải gánh chịu thêm các thua thiệt.
+Khi buộc phải thả nổi và phá giá mạnh đã làm cho chi phí của các doanh
nghiệp tăng lên đáng kể và lợi nhuận bị giảm, do đó mức thu từ thuế lợi tức
của các tổ chức kinh tế cho ngân sách Nhà nước cũng bị ảnh hưởng. Mặt khác,
các khoản chi tiêu cho các cơ quan và tổ chức được Nhà nước cấp cũng được
tăng lên tương ứng với mức mất giá của đồng nội tệ. Tình hình đó đã tác động
đến yếu tố làm tăng bội chi ngân.
+Từ năm 1989, cùng với các cải cách kinh tế, tài chính, tiền tệ, Nhà nước
đã bỏ chế độ tỷ giá trước đây (tỷ giá kết toán nội bộ) , giảm căn bản bù lỗ cho
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 11
hoạt động xuất - nhập khẩu và thực hiện chính sách giá sát với tỷ giá thị
trường. Ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá chính thức của VNĐ với các ngoại
tệ mạnh, nhất là với USD trên cơ sở đó các ngân hàng thương mại xây dựng và
công bố tỷ giá hàng ngày với biên độ chênh lệch cho phép (khoảng 5%) so với
tỷ giá chính thức.
+Về mặt ngân sách Nhà nước, chính sách một tỷ giá hối đoái sát với thị
trường khiến cho việc tính toán thu chi Ngân sách Nhà nước phản ánh trung
thực và chính xác hơn, không bị bóp méo. Tỷ giá đó góp phần làm cho công
tác kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nước ngoài từ ngân sách Nhà nước thuận lợi
chưa trả được nợ mà đồng yên lại tăng giá, nên nợ gốc vay tăng từ 44 triệu
USD lên 58 triệu USD (chưa tính đến yếu tố lãi suất tiền vay và tỷ giá giữa
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 12
đồng Việt nam và USD). Do tổng hợp nhiều yếu tố, rong đó có yếu tố về tỷ
giá, nên đại bộ phận trong số 81 doanh nghiệp vay vốn theo phương thức này
đều bị sức ép của cả hai loại tỷ giá.
- Tỷ giá giữa Yên và USD (đại bộ phận doanh số vay của các doanh
nghiệp kể trên là vay đồng Yên của các công ty Nhật trong khi đó đồng Yên
tăng giá).
- Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD (trong khi đó đồng Việt nam bị
giảm giá).
Sự biến động của tỷ giá cùng các với yếu tố ngoại hối, nhưng nó có ý
nghĩa đặc biệt riêng của nó đối với việc huy động vốn, thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, thu chi ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế và xã hội.
Ngược lại, vực nợ nước ngoài nếu không quản lý tốt và không sử dụng có hiệu
quả sẽ trở thành gánh năngk đối với nền kinh tế hiện tại và tương lai, có khi
còn ảnh hưởng đến nền độc lập và chủ quyền quốc gia.
Về vay nợ chính phủ phải có quy chế chặt chẽ quy định được vay về trách
nhiệm,nghĩa vụ và quyền hạn của các pháp nhân kinh tế và pháp nhân công
quyền trước các khoản vay và khoản trả nợ. Hiện nay chúng ta có qui định Nhà
nước vay Nhà nước trả, doanh nghiệp vay doanh nghiệp trả, Nhà nước không
gánh hộ nợ doanh nghiệp.
Thiếu vốn phải vay, nhưng không phải ai cho vay với điều kiện nào cũng
chấp nhận cả. Phải thấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ, đồng
ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp sẽ
phải tăng , nhưng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là một bài toán
khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu mang lại cho phát triển kinh tế có bù
lại được thiệt hại của số tiền Ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp phải trả nợ
mà ngay cả nợ của các doanh nghiệp tư nhân các của nước cũng phải đưa vào.
Bởi vì, vốn đưa vào dù ai sử dụng thì vẫn là cho cả nền kinh tế và khi trả, dù ai
trả cũng phải lấy một phần GDP để trả nợ mà việc đó liên quan đến lợi ích
quốc gia, trực tiếp tác động đến sự cân bằng của cán cân thanh toán. là quốc
gia có số nợ nước ngoài lớn nếu so với GDP, trong tương lai còn phải vay và
đồng thời phải trả nợ đến hạn vì vậy với việc hình thành chiến lược vay và trả
nợ có ý nghĩa chiến lược to lớn.
1.3.1.c.Thực trạng tác động của tỷ giá đến lãi suất và trái phiếu chính phủ.
Tỷ giá ngoại hối có liên quan chặt chẽ đến lãi suất và có tác dụng điều
chỉnh lãi suất. Trong nền kinh tế thị trường khi đồng nội tệ mất giá khối lượng
nội tệ cung ứng ngoài thị trường lớn đòi hỏi phải điều chỉnh tăng lãi suất, trong
trường hợp này làm tăng chi ngân sách về thanh toán lãi suất huy động nội tệ.
Khi đồng nội tệ lên giá nhà nước phải điều chỉnh giảm mức lãi suất, điều này
sẽ giảm chi ngân sách về thanh toán lãi suất huy động nội tệ, nếu không điều
chỉnh mức lãi suất thì những nhà sản xuất kinh doanh sẽ bán ngoại tệ cho ngân
hàng lấy nội tệ gửi vào ngân hàng hoặc mua trái phiếu chính phủ để hưởng lãi
suất cao. Điều này sẽ tác động xấu đến sản xuất-kinh doanh trong khi đó ngân
sách phải tiếp tục thanh toán lãi suất về huy động tiền gửi. Kinh nghiệm của
một số nước châu á (như Malaixia, Thái lan, Indonexia) cho thấy việc xử lý hài
hoà phối hợp điều hành lãi suất và tỷ giá ngoại hối đã làm cho tỷ giá giữ được
biên độ ổn định và tiền tệ không có biến động mạnh.
Do đồng USD mất giá ở mức cao, nên hiện nay Mỹ đang đẩy mạnh xu
hướng nâng cao lãi suất. Việc làm này sẽ làm tăng lãi suất tiền vay bằng ngoại
tệ USD, và do đó sẽ tác động trực tiếp đến các khoản vay nợ của Việt nam.
Với diễn biến này đòi hỏi chúng ta cần có sách lược chọn đồng tiền với mức
lái suất thích hợp, nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay đạt hiệu quả.
Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên đây và thực trạng Việt nam cho
thấy, tình hình tài chính quốc gia (đặc biệt là ngân sách nhà nước) và chế độ
ngoại tệ, tỷ giá có quan hệ biện chứng qua lại hết sức chặt chẽ, một mặt tình
hình tài chính (mà biểu hiện tập trung là ngân sách nhà nước) là một nhân tố
Nói chung có hai tiếp cận để xác định tỷ giá hối đoái thực "cân bằng".
Tiếp cận đơn giản và phổ biến nhất là dựa vào khái niệm tỷ giá theo sức mua
so sánh. Nguyên lý trung tâm của tỷ giá so sánh sức mua là tỷ thực cân bằng tỷ
lệ với các mức giá tương đối giữa một nước với đối tác ngoại thương của
mình, tức là đối với sức mua so sánh giữa các đồng tiền các quốc gia. Như vậy
tỷ giá sức mua so sánh được coi là chỉ số thích hợp cho cân bằng tỷ giá giữa
các đồng tiền với tỷ lệ lạm phát quy định tỷ lệ thay đổi của tỷ giá danh nghĩa
theo thời gian. Việc áp dụng tỷ giá so sánh sức mua bao gồm việc sử dụng tỷ
giá hối đoái hiện hữu để tính mặt bằng giá tương đối theo các đại lượng tiền tệ
thông dụng. Bất cứ sự sai lệch nào của tỷ giá thực so với giá trị gốc của nó sẽ
được coi là dấu hiệu tỷ giá đã đi lệch ra khỏi giá trị tỷ giá so sánh sức mua cân
bằng.
Tiếp cận khác, có sức hấp dẫn hơn là định nghĩa tỷ giá hối đoái thực như
là giá so sánh tương đối giữa hàng hoá mậu dịch và hàng hoá không mậu dịch
hoá dược, nó đưa ra thước đo các động lực quyết định sự phân phối nguồn lực
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 15
giữa hai khu vực trọng yếu này của nền kinh tế: nếu giá nội địa của hàng hoá
thương mại hoa so với hàng hoá không thương mại hoá được thì nguồn lực sẽ
được phân phối lại sang khu vực hàng hoá thương mại hoá và cán cân ngoại
thương sẽ được cải thiện. Theo nghĩa đó, thì điểm cân bằng của tỷ giá thực sẽ
tương ứng với giá so sánh giữa hàng hoá thương mại hoá và hàng hoá không
thương mại hoá đem lại đồng thời sự cân bằng nội và cân bằng ngoại. Cân
bằng nội có nghĩa là thị trường hàng hoá không thương mại hoá được thanh
toán liên tục, cân bằng ngoại có nghĩa là thâm hụt cán cân vãng lai được tài trợ
một cách bền vững từ luồng vốn nước ngoài vào.
Ngoài chỉ số giá thực tế thì vẫn còn có các vấn đề tiềm tàng lên quan đến
biến động chỉ số và sức cạnh tranh với bên ngoài. Một số nghiên cứu gần đây
chỉ ra sự thay đổi chỉ số tỷ giá thực quan được có thể là biểu hiện của sự thay
cho hướng thành phần chi tiêu sang hàng hoá thương mại hoá sẽ giảm và tỷ giá
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 16
thực sẽ tăng. Cũng như vậy, một sự thay đổi cơ cấu thuế sẽ tác động tới tỷ giá
thực cân bằng bằng cách gây nên sự dịch chuyển của hành vi đầu tư-tiết kiệm
của nền kinh tế. Về nguyên tắc, nhiều sự kết hợp của biện pháp ngân sách sẽ
cho cùng một kết quả cân bằng ngân sách tổng thể, nhưng với mỗi sự kết hợp
sẽ cho một tỷ giá thực cân bằng. Vì vậy điểm cân bằng của tỷ giá hối đoái thực
không chỉ định do vị thế ngân sách quy định, mà còn do cơ cấu chi và thu của
chính phủ quy định.
Một sự tăng lên lãi suất quốc tế sẽ tác động đến điểm cân bằng của tỷ giá
hối đoái thực thông qua hai kênh: thứ nhất, dưới chế độ tỷ giá cố định thì lãi
suất trong nước tăng lên để giữ được mức so sánh với lãi suất quốc tế, do đó
làm giảm chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm. Một sự cải thiện cán cân vãng lai
như vậy sẽ gây nên việc giảm tỷ giá thực cân bằng. Thứ hai, phụ thuộc vào
việc nước đó là chủ nợ hay con nợ ròng, một sự cải thiện hoặc xấu đi phản ánh
sự thay đổi tương ứng của sự thay đổi vị thế chuyển giao các nhân tố thu nhập,
tác động này sẽ thúc đẩy thêm việc giảm tỷ giá thực cân bằng là không rõ ràng,
nếu một nước là con nợ lớn. Tác động của lãi suất quốc tế cao hơn cũng phụ
thuộc vào phản ứng ngân sách của chính phủ. Nếu chính phủ làm trung hoà tác
động của ngân sách lên sự thay đổi lãi suất bằng cách giảm chi tiêu hàng hoá
thương mại hoá, thì tỷ giá thực cân bằng sẽ có xu hướng giảm trong dài hạn.
mặt khác, tỷ giá thực cân bằng sẽ tăng nếu việc trả lãi suất được tài trợ bằng
cách tăng thuế, hoặc nếu kèm theo việc giảm chi tiêu chính phủ đối với hàng
hoá không thương mại hoá.
1.3.1.e.Tỷ giá hối đoái thực, sức cạnh tranh quốc tế và lạm phát,cán cân
thanh toán của quốc gia
Trong khi tỷ giá thực có thể chênh lệch ra khỏi điểm cân bằng vì một số
các cơn sốc gây nên thì nguyên nhân chủ yếu của việc xấu đi sức cạnh tranh
dài, và trong một số trường hợp có thể dẫn đến lạm phát, về phía cạnh khác,
trong nền kinh tế nhỏ, cung tiền tệ có thể bị gia tăng do nguồn bên ngoài tăng
lên, thì một sự bùng nổ giá cũng có thể xảy ra ngay cả khi chính sách tín dụng
không bành trướng.
Chính sách hỗ trợ đối với các biến động của giá thông qua điều chỉnh tiền
tệ và tỷ giá sẽ tác động đến quá trình hình thành tiền lương trong nền kinh tế.
Theo chính sách đó thì người lao động sẽ không quan tâm nhiều đến tác động
lên công ăn việc làm của việc định ra tiền lương danh nghĩa cao hơn, vì các
công ty có đủ khả năngchuyển chi phí tiền lương cao hơn sang giá cao hơn, vì
vậy sự tăng lương sẽ phản ánh đầy đủ trong tiền lương và tăng giá cả tiếp tục
theo đó. Tác động lên tổng sản phẩm của các chính sách hỗ trợ tài chính và tỷ
giá hối đoái sẽ phụ thu vào nguồn gây nên biến động. Nếu cơn sốt cung thống
trị, thì biến động của tổng sản phẩm sẽ tăng lên do chỉ số hoá đầy đủ tỷ giá hối
đoái. Ngược lại, nếu cơn sốt cầu thống trị thì các chính sách hỗ trợ sẽ làm ổn
định tổng sản phẩm.
Các nghiên cứu về hệ quả của quy tắc tỷ giá thực và ổn định giá chỉ mới
bắt đầu gần đây và có ít. Ađam và Gros(1966) nghiên cứu vấn đề bằng cách sử
dụng một số mô hình phân tíc đơn giản với các giả thiết khác nhau liên quan
đến cơ cấu hàng hoá, tính cứng nhắc của giá lương, độ tự do lưu chuyển vốn.
Họ kết luận rằng: chính sách tiền tệ có thể mất khả năng kiểm soát lạm phát
nếu đặt tỷ giá danh nghĩa theo quy tắc tỷ giá thực và nếu sau đó lại tìm cách
kiểm soát lạm phát, thì sẽ mất khả năng kiểm soát diễn biển kinh tế vĩ mô
khác, họ cũng lập luận rằng: nếu tỷ giá hối đoái thực nâng quá mức so với
điểm cân bằng thì lạm phát chắc chắn sẽ cao hơn.
Hoạt động của quy tắc tỷ giá thực và chính sách ngân sách liên quan chặt
chẽ với nhau Lizondc(1989) đưa ra lược đồ mối quan hệ giữa in tiền do thiếu
hụt ngân sách và tốc độ phá giá tỷ giá. Trong đó, giá trị cân bằng lâu bền của
tỷ giá thực là hàm không chỉ biến thực nêu trên mà còn của tỷ lệ lạm phát
trong nước. Đại lượng sau quyết định tổng thu được của chính phủ thông qua
thuế lạm phát, đến lượt nó lại tác động lên giá trị tài sản của tư nhân và chi tiêu
là hoàn toàn dồn cho điều chỉnh tỷ giá. Theo nghĩa đó thì cần phải chú ý rằng
các chính sách như vậy bản thân chúng có thể chịu tác động bởi chế độ tỷ giá
hối đoái mà chính phủ đưa ra.
Để phân tích tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế ta đưa ra khái
niệm khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh = E*Po/P
Trong đó:
Po: giá sản phẩm ngoài tính theo giá thị trường nước ngoài.
P: giá sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước tính theo đồng nội tệ.
E:tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước ngoài tính theo đồng nội địa.
Với P và Po không đổi khi E tăng , EPo sẽ tăng. Giá của sản phẩm nước
ngoài trở nên đắt tương đối so với giá của sản phẩm trong nước và ngược lại,
giá của sản phẩm trong nước trở nên rẻ, tương đối so với sản phẩm nước ngoài.
Sản phẩm trong nước do đó có khả năng cạnh tranh cao hơn xuất khẩu sẽ tăng
( X tăng ), nhập khẩu giảm đi (IMgiảm), điều này làm cho xuất khẩu ròng
(NX= X_IM) tăng lên. Vì AD=C+I+G+NV nên NX tăng lên làm cho AD dịch
phải, trên hình vẽ ta thấy sản lượng cân bằng Q tăng lên tỷ lệ thất nghiệp giảm.
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 19
AD'
P AS
LR
AS
SR
AD
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 20
1.4.2.Các chế độ tỷ giá hối đoái
1.4.2.1.Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
1.4.2.1.a.Chế độ đồng giá vàng (1880 - 1932):
Sau một quá trình phát triển lâu dài, tiền thống nhất từ các dạng sơ khai
thành hai loại: vàng và bạc sau đó cố định ở vàng. Chế độ bản vị vàng là chế
độ ở đó, vàng đóng vai trò là vật ngang giá chung, chỉ có tiền đúc bằng vàng
hoặc dấu hiệu của nó mới có thể đổi lấy nó. Theo đó, đồng tiền của các nước
được đổi trực tiếp ra vàng, tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở so sánh
hàm lượng vàng của các đồng tiền, sự so sánh đó được gọi là ngang giá vàng
(gold parity).
Ví dụ: 1 GBP = 5 USD có nghĩa là: 1GBP có chứa "một hàm lượng vàng"
tương đương với 5 lần hàm lượng vàng của 1 USD. Nói cách khác, ngang giá
vàng của GBP so với USD là: GBP/USD = 5.
Trong chế độ bản vị vàng, khi việc đúc tiền vàng , đổi tiền ra vàng và xuất
nhập khẩu vàng được thực hiện tự do thì tỷ giá hối đoái tách khỏi ngang giá
vàng là rất ít vì nó bị giới hạn bởi các điểm vàng. Thực hiện xuất nhập khẩu
vàng sẽ quay quanh "điểm vàng". Giới hạn lên xuống của tỷ giá hối đoái là
ngang giá vàng cộng (hoặc trừ) chi phí vận chuyển vàng giữa các nước hữu
quan. Điểm cao nhất của tỷ giá hối đoái gọi là "điểm xuất vàng" vì vượt quá
giới hạn này, vàng bắt đầu "chảy ra khỏi nước". Điểm thấp nhất của tỷ giá hối
đoái là "điểm nhập vàng" vì xuống dưới giới hạn này, vàng bắt đầu "chảy vào
trong nước".
Nhờ có đặc điểm trên, chế độ bản vị vàng có tính ổn định cao, tiền tệ
không bị mất giá, tỷ giá ít biến động, cán cân thương mại tự động cân bằng.
Chế độ này có khả năng tự điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà
không cần đến sự can thiệp của Nhà nước, do đó nó có tác động tích cực đối
với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn đầu phát triển. Đây cũng là
thời kỳ phát triển rực rỡ của thương mại quốc tế.
Tuy nhiên chế độ bản vị vàng tồn tại không lâu, đến 1914 nó sụp đổ do
của mình mua GBP, đổi lấy vàng gây nên nạn chảy máu vàng ở Anh. Năm
1931, Anh buộc phải xoá bỏ chế độ đồng giá vàng - bảng Anh.
Đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 - 1933 đã đánh dấu sự
sụp đổ hoàn toàn của chế độ bản vị vàng dưới mọi hình thức và điều đó cũng
có nghĩa là đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ tỷ giá hối đoái ổn định và sức mua
của đồng tiền được giữ vững.
1.4.2.1.b.Chế độ tỷ giá cố định theo thoả ước Bretton Woods (1946 - 1971)
Nhằm ổn định lại sự phát triển thương mại quốc tế và thiết lập một trật tự
thế giới mới sau thế chiến thứ hai, Mỹ, Anh và 42 nước đồng minh đã họp hội
nghị tại Bretton Woods (Mỹ) tháng 7/1944 để bàn bạc xây dựng hệ thống tiền
tệ và thanh toán chung. Hội nghị được đánh giá là hội nghị thành công nhất thế
kỷ. Tại đây 56 nước ký tên hiệp định chấp nhận thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và một chế độ tỷ giá hối đoái mới. Theo chế
độ này, các nước cam kết duy trì giá trị đồng tiền của mình theo đồng USD
hoặc theo nội dung vàng trong phạm vi biến động không quá ( 1% tỷ giá đăng
ký chính thức tại quỹ. Nếu các nước tự thay đổi tỷ giá mà không được sự đồng
ý của IMF thì sẽ bị phạt cấm vận. NHTW các nước phải can thiệp vào thị
trường tiền tệ nước mình để giữ cho tỷ giá nước mình không thay đổi bằng
cách mua bán đồng USD. Điều này cũng có nghĩa là các nước phải cùng nhau
bảo vệ giá trị cho đồng USD. Đổi lại, Mỹ cam kết ổn định giá vàng ở mức
35USD/ounce vàng ( biến động giá cả không quá 24 cent/ounce). USD là đồng
tiền chủ chốt số 1 với tiêu chuẩn giá cả 1USD = 0,88714 gram vàng.
Ví dụ: Trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng: 1USD = 5,55 FRF thì NHTW
Pháp phải duy trì tỷ giá ở mức 1USD = 5,4945 FRF (5,55*99%) đến 1USD =
5,6055 FRF (5,5*101%).
Trong thời kỳ đầu cứ 1USD giấy phát hành ra đã có từ 4 đến 8 USD vàng
bảo đảm. Lượng vàng đảm bảo đồ sộ như vậy nên cả thế giới tư bản chỉ lo có
vàng để đổi lấy USD mà mua hàng Mỹ chứ không quan tâm đến việc USD có
đổi lấy vàng được không. Chính vì vậy, các nước có xu hướng chuyển đổi từ
dự trữ vàng sang dự trữ USD để tiết kiệm chi phí. USD đã trở thành tài sản dự
trở thành nước nhập siêu. Về phía mình, hàng hoá Mỹ không còn sức hấp dẫn
như trước làm cho cán cân thương mại Mỹ thường xuyên thâm hụt, dự trữ
vàng ngày càng giảm, nợ nước ngoài tăng, USD mất giá nghiêm trọng. Thêm
vào đó Mỹ sa lầy vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam và một số nước khác khiến
chính phủ Mỹ chi tiêu ngày càng nhiều tiền. Các nước khủng hoảng lòng tin
với USD, đã chuyển đổi USD dự trữ ra vàng, làm cho dự trữ vàng của Mỹ
giảm sút nhanh chóng. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong
nước và thế giới, tổng thống Mỹ Nixon sau 2 lần tuyên bố phá giá: Lần
1(tháng8/1971) 1USD = 0,81gram vàng ròng và 42 USD = 1ounce vàng, lần 2
(tháng 3/1973) 1USD = 0,7369 gram vàng ròng và 45 USD = 1 ounce vàng.
Đồng USD bị phá giá (-10%) thì chế độ tỷ giá hối đoái cố định Bretton Woods
hoàn toàn sụp đổ.
1.4.2.1.c.Nhận định chung về chế độ tỷ giá cố định:
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên
bố sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng
tiền nào đó ở một mức độ nhất định. ở đây, NHTW đóng vai trò điều tiết lượng
dư cầu hoặc dư cung về ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán
ra hoặc mua vào số dư đó.
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 23
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lại một môi trường
ổn định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh.
+ Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô.
+ Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về
mục tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá.
- Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốc từ bên ngoài hoặc từ
thi trường hàng hoá trong nước, bởi khi đó mức chênh lệch thực tế quá lớn về
động của tỷ giá rất phức tạp, chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị,
Đề án môn học: Nhập môn tài chính tiền tệ GVHD: Đ
ặng Ngọc Anh
SVTH: Nguyễn Đức Toàn - Lớp 33K15 Trang 24
tâm lý, xã hội đặc biệt là nạn đầu cơ. Trên thực tế thì lại không có thị trường
thuần tuý nên không thể có một chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn. Sự can thiệp
của Chính phủ vào thị trường ngoại hối làm cho tỷ giá hối đoái có những diễn
biến thuận lợi hơn nên chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý ngày càng được nhiều
quốc gia lựa chọn đặc biệt là các nước đang phát triển.
1.4.2.3.Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (bán thả nổi):
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ cố định và thả
nổi. ở đó, tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường, chính
phủ chỉ can thiệp khi có những biến động mạnh vượt quá mức độ cho phép.
Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:
- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu
và sẽ can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá
chính thức có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động cho
phù hợp với từng thời kỳ.
- Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm
tỷ giá mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp.
Hiện nay, chế độ tỷ giá "bán thả nổi" hay "cố định bò trườn" có nhiều tính
ưu việt hơn và được nhiều nước sử dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là "thả nổi" hay "bò trườn" ở mức độ bao nhiêu nên
gần với thả nổi hay gần với cố định hơn? biên độ dao động là bao nhiêu? Rất
khó để đưa ra một câu trả lời chung cho mọi quốc gia mà phải tuỳ thuộc vào
điều kiện thực tiễn và mục tiêu của từng quốc gia theo đuổi. Nhìn chung, đối
với các nước kinh tế đang phát triển trong đó có Việt Nam, với một hệ thống
công cụ tài chính còn nhiều yếu kém, sự phối hợp giữa các chính sách còn
thiếu đồng bộ, đồng tiền yếu và dự trữ ngoại tệ còn hạn hẹp thì tỷ giá hối đoái
đối với các chính sách kinh tế quốc gia, có nghĩa rằng không thể theo đuổi các
chính sách kinh tế đối nội một cách độc lập.Ngược lại,tỷ giá linh hoạt là một
công cụ có thể sử dụng để giữ cho các hoạt động kinh tế của hệ thống quốc tế
không ảnh hưởng tới các chính sách quốc gia.Vì vậy có thể theo đuổi các chính
sách quốc gia mà không cần quan tâm đến thế giới bên ngoài và như vậy đặc
thù của chúng là hệ thống đóng.
1.5.Các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
1.5.1.Nguồn gốc phát sinh các rủi ro tỷ giá.
1.5.1.a.Đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Có thể nói rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu là loại rủi ro tỷ giá
thường xuyên gặp phải và đáng lo ngại nhất đối với các công ty có hoạt động
xuất nhập khẩu mạnh.
●Rủi ro tỷ giá đối với hợp đồng xuất khẩu.
Giả sử ngày 04/08 công ty Sagonimex đang thương lượng ký kết hợp
đồng xuất khẩu trị giá 200.000USD. Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán sáu tháng
sau kể từ ngày ký hợp đồng. Ở thời điểm thương lượng hợp đồng, tỷ giá
USD/VND = 15.888 trong khi tỷ giá ở thời điểm thanh toán chưa biết, vì chưa
đến hạn. Sự không chắc chắn của tỷ giá USD/VND vào thời điểm thanh toán
khiến cho hợp đồng xuất khẩu của Sagonimex chứa đựng rủi ro tỷ giá.
●Rủi ro tỷ giá đối với hợp đồng nhập khẩu.
Giả sử ngày 04/08 công ty Cholonimex đang thương lượng ký kết hợp
đồng nhập khẩu trị giá 200.000USD. Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán sáu
tháng sau kể từ ngày ký hợp đồng. Ở thời điểm thương lượng hợp đồng, tỷ giá
USD/VND = 15.888 trong khi tỷ giá ở thời điểm thanh toán chưa biết. Sự
không chắc chắn của tỷ giá USD/VND vào thời điểm thanh toán khiến cho hợp
đồng nhập khẩu của Cholonimex chứa đựng rủi ro tỷ giá.
1.5.2.b.Đối với hoạt động đầu tư
Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư thường phát sinh đối với công ty đa
quốc gia (multinational corporations) hoặc đối với các nhà đầu tư tài chính có