- Trang i -
Luận văn Thạc sỹ
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian, dƣới sự hƣớng dẫn tận tình của PGS.TS.Nguyễn Văn
Thắng, đƣợc sự ủng hộ động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cùng với sự nỗ
lực của bản thân, tác giả đã hoàn thành Luận văn thạc sỹ kỹ thuật chuyên ngành
Khoa học môi trƣờng với đề tài: “Nghiên cứu phƣơng pháp xác định yêu cầu duy trì
dòng chảy tối thiểu trên sông chính, áp dụng thí điểm cho hạ du sông Srêpôk”.
Trong quá trình thực hiện, tác giả đã có cơ hội học hỏi và tích lũy thêm đƣợc
nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc. Tuy nhiên do thời
gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác xử lý số liệu với khối lƣợng
lớn nên những thiếu sót của Luận văn là không thể tránh khỏi. Do đó, tác giả rất
mong tiếp tục nhận đƣợc sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng nhƣ những ý
kiến đóng góp của bạn bè và đồng nghiệp.
Qua đây tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.
Nguyễn Văn Thắng đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ cho tác giả hoàn thành Luận văn
này. Đồng thời, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Môi trƣờng
đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong suốt quá trình học tập.
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, đơn vị đã nhiệt tình giúp đỡ
trong quá trình điều tra thu thập tài liệu cho Luận văn này.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, cơ quan, bạn bè và
đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành Luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 08 năm 2014
Tác giả
- Trang iii -
Luận văn Thạc sỹ
CHỮ VIẾT TẮT
DCTT : Dòng chảy tối thiểu
DCMT : Dòng chảy môi trƣờng
ĐKS : Điểm kiểm soát
NMTĐ : Nhà máy Thủy Điện
QTVH : Qui trình vận hành
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
1.3.7 Nghiên cứu của chuyên gia Quốc tế 15
CHƢƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN XÁC
ĐỊNH DÒNG CHẢY TỐI THIỂU TRÊN SÔNG 17
2.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH DÒNG CHẢY MÔI
TRƢỜNG VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM 17
2.1.1 Các phƣơng pháp xác định dòng chảy môi trƣờng 17
2.1.2 Đánh giá khả năng áp dụng của một số phƣơng pháp ở Việt Nam 26
- Trang v -
Luận văn Thạc sỹ
2.2 CÁC QUY ĐỊNH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA LUẬN VĂN VỀ DÒNG CHẢY TỐI
THIỂU 31
2.2.1 Quy định về dòng chảy tối thiểu 31
2.2.2 Quan điểm tiếp cận 32
2.3 NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH ĐIỂM
KIỂM SOÁT DÒNG CHẢY TỐI THIỂU 33
2.3.1 Điểm kiểm soát dòng chảy tối thiểu trên sông 33
2.3.2 Cơ sở khoa học đề xuất các tiêu chí lựa chọn điểm kiểm soát dòng chảy tối
thiểu 34
2.3.3 Khung trình tự xác định điểm kiểm soát dòng chảy tối thiểu trên sông 36
2.4 NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH
DÒNG CHẢY TỐI THIỂU TRÊN SÔNG 38
2.4.1 Các thành phần tạo nên dòng chảy tối thiểu 38
2.4.2 Phƣơng pháp xác định thành phần dòng chảy duy trì môi trƣờng và hệ sinh
thái thủy sinh 39
2.4.3 Phƣơng pháp xác định thành phần dòng chảy đảm bảo nhu cầu nƣớc cho các
ngành khai thác sử dụng nƣớc dƣới hạ du 47
2.4.4 Các căn cứ cho việc đề xuất chế độ dòng chảy tối thiểu trên sông 50
2.4.5 Khung trình tự xác định dòng chảy tối thiểu trên sông 52
CHƢƠNG 3: ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM TÍNH TOÁN DÒNG CHẢY TỐI THIỂU CHO
3.8.1. Xác định chuỗi dòng chảy tại điểm kiểm soát và nhập lƣu khu giữa 91
3.8.2. Xác định thành phần dòng chảy đảm bảo cho duy trì môi trƣờng và hệ sinh
thái thủy sinh 96
3.8.3. Xác định thành phần dòng chảy đảm bảo yêu cầu nƣớc cho các ngành khai
thác, sử dụng nƣớc dƣới hạ du 98
3.8.4. Tổng hợp, phân tích đề xuất chế độ dòng chảy tối thiểu trên dòng chính sông
Srêpôk 100
3.9 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM DUY TRÌ DÒNG CHẢY TỐI THIỂU
CHO HẠ LƢU DÒNG CHÍNH SÔNG SRÊPÔK 102
3.9.1. Tăng cƣờng hợp tác quốc tế 102
3.9.2. Giải pháp quản lý, vận hành hệ thống liên hồ chứa 103
3.9.3. Giải pháp về thể chế chính sách 103
3.9.4. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao năng lực quản lý và nhận thức
cộng đồng 104
3.9.5. Giải pháp trồng, bảo vệ rừng đầu nguồn 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
PHỤ LỤC 110
- Trang vii -
Luận văn Thạc sỹ
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Quan hệ chu vi mặt cắt ƣớt và lƣu lƣợng nƣớc 28
Hình 2: Khung trình tự xác định ĐKS dòng chảy tối thiểu trên sông 37
Hình 3: Sơ đồ minh họa tuyến sông nghiên cứu 47
Hình 4: Khung trình tự xác định dòng chảy tối thiểu trên sông 52
Hình 5: Vị trí lƣu vực sông Srêpôk 54
Hình 6: Bản đồ mạng lƣới sông suối lƣu vực sông Srêpôk 60
Hình 7: Bản đồ mạng lƣới trạm khí tƣợng thủy văn lƣu vực sông Srêpôk 63
Hình 8: Vị trí các Vƣờn Quốc gia trên lƣu vực sông Srêpôk 76
Bảng 16: Nhu cầu sử dụng nƣớc cho nông nghiệp trên dòng chính sông Srêpôk 80
Bảng 17: Thông số kỹ thuật các công trình thủy điện lớn trên dòng Srêpôk 83
Bảng 18: Các thông số hiệu chỉnh của mô hình NAM 93
Bảng 19: Kết quả hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô hình mƣa - dòng chảy 95
Bảng 20: Lƣu lƣợng trung bình tháng nhỏ nhất tại các lƣu vực khu giữa 96
Bảng 21: Lƣu lƣợng đảm bảo cho duy trì môi trƣờng và hệ sinh thái thủy sinh tại
các ĐKS (theo PP Tennant) 96
Bảng 22: Lƣu lƣợng đảm bảo cho duy trì môi trƣờng và hệ sinh thái thủy sinh tại
các ĐKS (theo PP sử dụng chỉ số tần suất P% dòng chảy tb tháng min) 97
Bảng 23: Đề xuất DCTT đảm bảo cho duy trì môi trƣờng và hệ sinh thái thủy sinh tại các ĐKS 98
Bảng 24: Nhu cầu nƣớc dƣới hạ du các điểm kiểm soát (m
3
/s) 98
Bảng 25: Kết quả tính toán DCTT tại các ĐKS 100
Bảng 26: Đề xuất lƣu lƣợng tối thiểu tại các ĐKS 102
Bảng 27: Mực nƣớc tối thiểu tại các điểm kiểm soát (m) 102
- Trang 1 -
Luận văn Thạc sỹ
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nƣớc ta là một nƣớc có nguồn tài nguyên nƣớc đƣợc xếp vào loại trung bình
trên thế giới và đang tồn tại nhiều yếu tố không bền vững nhƣ: (i) tổng lƣợng nƣớc
sản sinh trên lãnh thổ nƣớc ta chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng lƣợng nƣớc có đƣợc và
khoảng 2/3 sản sinh ngoài lãnh thổ nên rất khó chủ động trong việc khai thác sử
dụng; (ii) sự phân bố tài nguyên nƣớc mặt và nƣớc dƣới đất không đều theo cả
không gian lẫn thời gian; (iii) tài nguyên nƣớc đang có nguy suy thoái, cạn kiệt.
Một trong những nguyên nhân chính của việc suy thoái, cạn kiệt nguồn nƣớc là do
việc khai thác, sử dụng nƣớc của con ngƣời phát triển quá nhanh nhƣng lại chƣa
quan tâm đúng mức đến nhu cầu nƣớc cho hệ sinh thái, cho môi trƣờng. Bên cạnh
đó, ngay trong việc khai thác sử dụng nƣớc của con ngƣời cũng đang thể hiện
làm tăng dòng chảy trung bình mùa kiệt của sông ở hạ lƣu. Với đặc điểm nổi bật của
việc sử dụng nƣớc của các hồ chứa thuỷ điện là nƣớc đƣợc trữ trong hồ và sử dụng
ngay ở dòng sông, sau khi phát điện nƣớc lại đƣợc trả ngay cho sông và các hồ thuỷ
điện đều có dung tích chứa nƣớc và khả năng điều tiết lớn nên nói chung các hồ chứa
thuỷ điện khi hoạt động đều có khả năng làm tăng dòng chảy trung bình mùa kiệt của
sông ở hạ lƣu. Thí dụ nhƣ hồ Thác Bà có dung tích hiệu dụng 2,16 tỷ m
3
đã làm tăng
lƣu lƣợng các tháng mùa kiệt từ 150-200 m
3
/s; hồ Hoà Bình cũng làm tăng dòng chảy
các tháng kiệt từ 400-600 m
3
/s cho sông Hồng ở hạ lƣu; hệ thống 5 công trình thuỷ
điện bậc thang trên sông Sê San (Pleykrong, Yaly, Sê San 3, Sê San 3A, Sê San 4 )
khi hoạt động có thể làm tăng lƣợng dòng chảy trung bình tháng mùa cạn tại sau
điểm nhập lƣu của sông Sê San với sông Sa thầy từ 1,3 đến 1,4 lần.
Ngoài tác động có tính tích cực của các hồ chứa thuỷ điện làm tăng dòng chảy
trung bình tháng và trung bình mùa cạn nhƣ trên, các hồ thuỷ điện còn có tác động
tiêu cực rất đáng kể đối với biến đổi dòng chảy của sông ở khu vực hạ lƣu do chế độ
vận hành điều tiết ngày đêm để phát điện của hồ. Hiện nay, các hồ chứa thuỷ điện ở
Việt Nam đều vận hành điều tiết ngày đêm theo chế độ phủ đỉnh biểu đồ phụ tải
điện năng của hệ thống điện quốc gia. Vì thế trong giờ cao điểm ban ngày các hồ
đều phát điện với công suất tối đa và trong giờ thấp điểm ban đêm thì phát điện với
- Trang 3 -
Luận văn Thạc sỹ
công suất tối thiểu. Nhiều hồ đã vận hành theo chế độ 12 giờ hoạt động với công
suất tối đa, còn 12 giờ ngừng hoạt động tất cả các tổ máy để thu đƣợc hiệu quả phát
điện tối đa. Điều này khiến cho trong các giờ thấp điểm vào ban đêm các ngày sẽ
không có dòng chảy xả xuống khu vực hạ lƣu của hồ chứa. Vận hành điều tiết ngày
Việt Nam.
IV. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các nội dung của Đề tài, sẽ dùng phƣơng pháp thống kê, tính
toán thủy văn, phƣơng pháp mô hình toán nhƣ sau:
- Phương pháp phân tích, thống kê: Các phƣơng pháp này đã đƣợc sử dụng
trong quá trình thực hiện thu thập, tổng hợp các tài liệu, đề tài, dự án liên quan đến
bài toán xác định dòng chảy tối thiểu trên sông.
- Phương pháp kế thừa: Trong quá trình thực hiện, luận văn đã tham khảo và
kế thừa các kết quả có liên quan đã đƣợc nghiên cứu trƣớc đây của các tác giả, cơ
quan và tổ chức khác. Những thừa kế nhằm làm kết quả tính toán của luận văn phù
hợp hơn với thực tiễn của vùng nghiên cứu.
- Phương pháp mô hình toán: sử dụng các mô hình thủy văn, thủy lực để tính
toán xác định các điều kiện ban đầu phục vụ tính toán xác định dòng chảy tối thiểu
cần duy trì cho hạ lƣu dòng chính sông Srêpôk.
V. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Bố cục luận văn bao gồm:
- Mở đầu
- Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu về dòng chảy tối thiểu trên thế giới và Việt Nam.
- Chƣơng 2: Nghiên cứu cơ sở khoa học và phƣơng pháp luận xác định dòng
chảy tối thiểu trên sông.
- Chƣơng 3: Áp dụng thí điểm tính toán xác định dòng chảy tối thiểu cho hạ
lƣu dòng chính sông Srêpôk.
- Kết luận và kiến nghị.
- Trang 5 -
Luận văn Thạc sỹ
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DÒNG CHẢY TỐI
THIỂU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM VỀ DÒNG CHẢY TỐI THIỂU
Nƣớc là một thành phần quan trọng của bất kỳ một hệ sinh thái nào xét cả về
về quan điểm tiếp cận, phƣơng pháp luận xác định dòng chảy tối thiểu mà chủ yếu
là các nghiên cứu về phƣơng pháp luận xác định Dòng chảy môi trƣờng.
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚÌ
Từ năm 1940, một cuộc cách mạng về phƣơng pháp đánh giá dòng chảy môi
trƣờng đƣợc tiến hành ở miền tây nƣớc Mỹ với bƣớc nhảy vọt vào những năm 1970.
Đây là hệ quả của thể chế về môi trƣờng và tài nguyên nƣớc cũng nhƣ nhu cầu của
các cộng đồng trong việc cần các tài liệu về dòng chảy môi trƣờng phục vụ cho việc
kế hoạch hoá tài nguyên nƣớc, có liên quan đến việc xây dựng các đập nƣớc. Ngoài
Mỹ ra, quá trình thiết lập các phƣơng pháp luận cho việc đánh giá dòng chảy môi
trƣờng không đƣợc nhiều. Tại một số nƣớc, cơ sở cho việc đánh giá dòng chảy môi
trƣờng thực sự đáng kể đạt đƣợc vào những năm 1980 (ví dụ nhƣ Úc, Anh, New
Zealand và Nam Phi) hoặc muộn hơn (ví dụ nhƣ Cộng hoà Czech, Brazil, Nhật và
Bồ Đào Nha). Phần khác của thế giới, bao gồm Đông Âu, Châu Mỹ La tinh, Châu
Phi và châu Á, có rất ít những nghiên cứu về lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong những
năm gần đây, các nghiên cứu về dòng chảy môi trƣờng đã bắt đầu đƣợc chú ý đến ở
châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Một số tổ chức Quốc tế đã đầu tƣ vào việc
nâng cao nhận thức và đánh giá dòng chảy môi trƣờng (nhƣ IUCN với các dự án
đƣợc tiến hành ở Thụy Điển, SriLanka, Ấn Độ, Việt Nam…). Tóm tắt các kết quả
nghiên cứu của một vài nƣớc trên thế giới nhƣ sau:
1.2.1 Những nghiên cứu ở Mỹ
Các nghiên cứu về dòng chảy môi trƣờng đƣợc bắt đầu từ khá sớm ở miền Tây
nƣớc Mỹ, bắt đầu từ năm 1940 và phát triển mạnh vào những năm 1970. Đó là hệ
quả của thể chế về môi trƣờng và tài nguyên nƣớc cũng nhƣ nhu cầu của các cộng
đồng trong việc cần các tài liệu về dòng chảy môi trƣờng phục vụ cho việc kế hoạch
hóa tài nguyên nƣớc, có liên quan đến việc xây dựng các đập nƣớc.
- Trang 7 -
Luận văn Thạc sỹ
Từ những nghiên cứu ở Mỹ cho thấy các phƣơng pháp đánh giá dòng chảy
môi trƣờng bao gồm 3 nhóm phƣơng pháp sau:
- Nhóm các phƣơng pháp thủy văn, thủy lực;
khung khái niệm linh hoạt, trong đó các thành phần đƣợc điều chỉnh theo các cách
tiếp cận tổng thể khác nhau và cho các nghiên cứu độc lập.
1.2.3 Những nghiên cứu ở Nam Phi
Nam phi là một trong những nƣớc đầu tiên ở Châu Phi thực hiện những nghiên
cứu về đánh giá dòng chảy môi trƣờng và giai đoạn phát triển mạnh của các nghiên
cứu này vào thập kỷ 90. Trong những năm gần đây, Nam Phi tập trung vào việc
nghiên cứu đánh giá dòng chảy môi trƣờng theo các phƣơng pháp phù hợp với điều
kiện giới hạn về nguồn số liệu thủy văn, sinh thái và địa mạo của hệ thống sông;
nguồn tài chính cũng nhƣ nhân lực hạn chế; áp lực về thời gian do những dự án khai
thác tài nguyên nƣớc trong tƣơng lai. Điển hình là sử dụng các phƣơng pháp phân
tích chức năng BBM (Building Block Methodology) và phƣơng pháp dánh giá phản
ứng của hạ lƣu đối với sự thay đổi dòng chảy bắt buộc DRIFT (Downstream
response to imposed flow tranformation) cũng nhƣ các cách tiếp cận phát sinh khác
để xác định sự bảo tồn đa dạng sinh học.
1.2.4 Những nghiên cứu ở Mêxico và Tây Ban Nha
Ở Mexico, Cơ quan bảo tồn tự nhiên đã đề xuất việc xây dựng quan hệ sinh
thái và sự biến đổi dòng chảy cho 2 lƣu vực sông nghiên cứu, từ đó xây dựng yêu
cầu dòng chảy cần duy trì để bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh. Phƣơng pháp này bao
gồm các bƣớc sau:
- Bƣớc 1: Thành lập một nhóm chuyên gia về tài nguyên nƣớc và sinh thái để
xây dựng kế hoạch nghiên cứu cụ thể;
- Bƣớc 2: Xây dựng cơ sở dữ liệu về dòng chảy, bao gồm:
+ Thu thập thông tin về dòng chảy tại các điểm kiểm soát và các vị trí
điều tra sinh thái để xây dựng quan hệ lƣu lƣợng và mực nƣớc và từ đó xác định các
mực nƣớc để duy trì hoặc đáp ứng cho môi trƣờng sinh thủy sinh
+ Phân tích thủy văn tại các vị trí có đủ số liệu và xây dựng các điều kiện
nền và điều kiện phát triển.
- Trang 9 -
Luận văn Thạc sỹ
- Bƣớc 3: Xây dựng cơ sở dữ liệu về sinh thái: thu thập và xây dựng cơ sở dữ
Quốc, Ấn Độ, Bangladesh,
Tại Trung Quốc: Từ năm 1998, có nhiều nghiên cứu về dòng chảy môi trƣờng
đã đƣợc thực hiện. Bắt đầu là từ Dự án Nghiên cứu về Hệ sinh thái cửa sông Vàng và
đƣợc xuất phát từ nhu cầu cấp thiết bảo vệ dòng sông Vàng, con sông lớn nhất của
Trung Quốc và sau này là các con sông khác ở phía Bắc. Dự án Nghiên cứu về Hệ
sinh thái cửa sông Vàng và nhu cầu nƣớc môi trƣờng sử dụng số liệu viễn thám và
mô hình hóa môi trƣờng sống để xem xét và lý giải một cách khoa học các đánh giá
dòng chảy môi trƣờng. Tại cuộc hội thảo về Bảo vệ Môi trƣờng, đƣợc tài trợ bởi
GWP, Trung Quốc đã đƣa ra một chƣơng trình kiểm soát trầm tích và sông có tên lý
thuyết khoa học và hệ thống chỉ thị sức khỏe sông. Hệ thống này xác định các chỉ thị
sinh thái, kinh tế xã hội của sông để xác định nhu cầu nƣớc môi trƣờng.
Tại Ấn Độ: đầu những năm 70, một đạo luật về kiểm soát ô nhiễm đã đƣợc
thông qua và gần đây là Kế hoạch bảo tồn sông quốc gia nhằm giảm ô nhiễm trong
sông. Bởi vì các con sông luôn giữ một vai trò quan trọng trong đặc điểm kinh tế xã
hội ở Ấn Độ. Sự gia tăng dân số nhanh chóng và nhu cầu về nƣớc trong nông
nghiệp, đô thị và phát triển công nghiệp tăng mạnh dẫn đến điều tiết mở rộng và
phân phối dòng chảy sông. Nguồn nƣớc trong sông suy giảm, hệ sinh thái ven sông
bị mất tính đa dạng. Cuộc sống của hàng triệu ngƣời dân ven sông bị ảnh hƣởng
nghiêm trọng. Tuy nhiên, bất chấp mọi cố gắng, chất lƣợng nƣớc vẫn tiếp tục suy
giảm. Rào cản chính trong sự nhận thức về tầm quan trọng của duy trì dòng chảy
trong sông là thiếu những nghiên cứu về mối quan hệ giữa dòng chảy và chức năng
của hệ sinh thái sông ở Ấn Độ. Vấn đề dòng chảy môi trƣờng đƣợc đặc biệt quan
tâm từ phán quyết của Tòa án Tối cao Ấn Độ tháng 5/1999 về duy trì dòng chảy tối
thiểu 10m
3
/s ở sông Yamuna. Sau đó, dòng chảy môi trƣờng đã đƣợc thảo luận tại
nhiều cuộc hội thảo vào khoảng tháng 5 năm 2001, Chính phủ Ấn Độ đã thông qua
Quyền đánh giá chất lƣợng nƣớc (WQAA) trong đó có đề cập đến “dòng chảy tối
thiểu trong các sông để bảo tồn hệ sinh thái”.
- Trang 11 -
Luận văn Thạc sỹ
- Giai đoạn 2: Xác định dòng chảy môi trƣờng theo kiến thức sẵn có (song
song với giai đoạn 1 và kết thúc vào năm 2004);
- Giai đoạn 3: Xác định dòng chảy môi trƣơng dựa theo nghiên cứu trực tiếp,
trong đó có các điều tra về hệ sinh thái (2004 - 2008).
1.3.2 Nghiên cứu của IUCN và Viện quản lý nguồn nƣớc quốc tế (IWMI) đối
với lƣu vực sông Hƣơng
Trong năm 2003 – 2004, IUCN phối hợp với IWMI và Ban Quản lý lƣu vực
sông Hƣơng thực hiện Dự án “Đánh giá dòng chảy môi trƣờng cho lƣu vực sông
Hƣơng” với mục tiêu là đƣa ra một phƣơng pháp phù hợp cho lƣu vực. Phƣơng
pháp DRIFT sửa đổi đã đuợc sử dụng trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu của dự án này còn rất hạn chế, không có độ tin cậy cao do hạn chế về
thời gian và kiến thức nhƣ sinh thái học, kinh tế xã hội và một số kiến thức khác.
Kiến nghị của dự án sau khi tổng kết những thành công và hạn chế, bao gồm các
điểm chính sau:
- Do các điều kiện sinh thái, thuỷ văn và kinh tế xã hội thay đổi đáng kể dọc
theo con sông nên môi trƣờng sống và tính tổng thể của dòng sông cần đƣợc đánh
giá cho từng đoạn sông, nhất là những đoạn sát ngay với vị trí nghiên cứu.
- Việc thiết lập mối quan hệ giữa lƣu lƣợng, mực nƣớc tại các vị trí nghiên
cứu sẽ giúp hiểu thêm về các tác động sinh thái và xã hội do chế độ dòng chảy bị
biến đổi gây ra.
- Các quy hoạch cụ thể và chi tiết về các thông số kỹ thuật và quy trình vận
hành các công trình cơ sở hạ tầng cũng cần cung cấp cho nhóm công tác đánh giá
dòng chảy môi trƣờng để đảm bảo rằng các kịch bản thảo luận là phù hợp và mang
tính thực tiễn.
- Dựa vào các đề cƣơng và tham chiếu nhiệm vụ đã đƣợc xây dựng, các khảo
sát sinh thái và kinh tế xã hội cần đƣợc hoàn thiện tập trung vào các vị trí nghiên cứu.
- Cần quan tâm nhiều hơn đến hợp phần kinh tế xã hội để hiểu biết rõ hơn về
nhu cầu và cách thức sử dụng nguồn nƣớc của các bên liên quan.
- Trang 13 -
- Trang 14 -
Luận văn Thạc sỹ
năm 2006 - 2008. Kết quả nghiên cứu của Đề tài đƣa ra phƣơng pháp tính toán
ngƣỡng giới hạn khai thác, sử dụng nƣớc và xây dựng phƣơng pháp tính toán dòng
chảy môi trƣờng cho lƣu vực sông Ba và lƣu vực sông Trà Khúc. Trong quá trình
nghiên cứu Đề tài đã phân tích ƣu điểm và nhƣợc điểm của một số phƣơng pháp
tính toán dòng chảy môi trƣờng trên thế giới, từ đó lựa chọn phƣơng pháp thích hợp
cho đề tài. Phƣơng pháp tính toán dòng chảy môi trƣờng đề tài đề xuất là phƣơng
pháp kết hợp giữa phƣơng pháp thủy văn (phƣơng pháp Tennant), phƣơng pháp
thủy lực (phƣơng pháp chu vi ƣớt) và sinh thái. Đặc trƣng dòng chảy môi trƣờng
trong phƣơng pháp đề xuất ngoài số lƣợng nƣớc (lƣu lƣợng nƣớc Q) ứng với cao
trình mực nƣớc làm ngập bãi còn bao gồm thêm hai đặc trƣng nữa đó là : (i) thời
gian duy trì giá trị lƣu lƣợng dòng chảy môi trƣờng trong năm (thời gian duy trì giá
trị dòng chảy môi trƣờng tại mỗi tuyến tính toán đƣợc xác định trên đƣờng cong
duy trì lƣu lƣợng bình quân ngày tại tuyến tính toán đó), và (ii) vận tốc nƣớc bình
quân tại mặt cắt đảm bảo sự sống cho cá và các sinh vật thuỷ sinh. Từ đó đƣa ra
bảng tiêu chuẩn lựa chọn dòng chảy môi trƣờng bao gồm các tiêu chuẩn thủy văn,
tiêu chuẩn thủy lực và tiêu chuẩn sinh thái.
- Tiêu chuẩn thuỷ văn: giới hạn dƣới của giá trị DCMT đối với mùa lũ, mùa
cạn không đƣợc nhỏ hơn số phần trăm (%) của lƣu lƣợng bình quân dòng chảy mùa
tƣơng ứng.
- Tiêu chuẩn thuỷ lực: giới hạn dƣới của vận tốc nƣớc bình quân mặt cắt
ngang tại tuyến tính toán dòng chảy môi trƣờng.
- Tiêu chuẩn sinh thái: cấp bãi để phân tích xác định điểm uốn (của quan hệ
lƣu lƣợng- diện tích nơi cƣ trú) và giá trị lƣu lƣợng dòng chảy môi trƣờng tƣơng ứng.
Đối với dòng chảy sinh thái, cho đến nay chƣa có đề án, công trình nghiên
cứu nào xác định đƣợc mức dòng chảy sinh thái trên sông, duy ở đề tài này có đề
xuất đƣợc tiêu chuẩn sinh thái ở mức độ xác định đƣợc cấp bãi và giá trị lƣu lƣợng
dòng chảy môi trƣờng tƣơng ứng.
- Trang 15 -
- Trang 16 -
Luận văn Thạc sỹ
- Số lƣợng rất lớn các phát triển mới đƣợc đề xuất;
- Tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ sự lành mạnh của dòng sông đối với sự
phồn vinh lâu dài của cộng đồng dân cƣ xung quanh và bản chất của các sinh vật
khác nhau sống phụ thuộc vào những con sông này.
Ông cho rằng với các con sông có điều tiết ở Việt Nam, các phƣơng pháp đƣa
ra dòng chảy môi trƣờng đơn lẻ không có giá trị. Fitzgerald khuyến cáo nên sử dụng
phƣơng pháp tiếp cận RVA (Range of Variable) và các phƣơng pháp tiếp cận tổng
thể trong việc đánh giá dòng chảy môi trƣờng ở các con sông có điều tiết. Tuy
nhiên, việc đánh giá dòng chảy môi trƣờng bằng phƣơng pháp tổng hợp thƣờng là
rất tốn kém, khó khăn trong điều kiện Việt Nam.
- Trang 17 -
Luận văn Thạc sỹ
CHƢƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP
LUẬN XÁC ĐỊNH DÒNG CHẢY TỐI THIỂU TRÊN SÔNG
2.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH DÒNG CHẢY
MÔI TRƢỜNG VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM