BÁO CÁO ĐỀ TÀI-HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG NHÀ TRƯỜNG - Pdf 27

ĐTKH - HƯỚNG - 2012 1
MỤC LỤC
I – Phần mở đầu trang 2
II – Chương Một:
Từ chủ nghóa nhân văn truyền thống đến
tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 5
1. Cơ sở của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 5
2.Những nội dung cơ bản của tư tưởng
nhân văn Hồ Chí Minh 11
3. Bước đầu xác đònh và nêu nhận xét về quá trình
phát triển của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 18
III – Chương Hai:
Nhận thức về tư tưởng nhân vănHồ Chí Minh qua một số
tác phẩm văn học trong chương trình 12 THPT hiện nay 25
1. Biểu hiện của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
qua các tác phẩm văn xuôi 25
2. Biểu hiện của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
qua các tác phẩm thơ 28
3. Vận dụng những hiểu biết về tư tưởng nhân văn
HCM vào việc giảng dạy các TPVH của Người
trong chương trình THPT 32
IV – Chương Ba:
Đề xuất một số biện pháp tuyên truyền và giáo dục tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong trường THPT hiện nay 38
1. Thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức
cho học sinh hiện nay 38
2. Các biện pháp cần thực hiện trong việc giáo dục tuyên
truyền tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong nhà trường 41
V– Kết luận: 48
VI – Tài liệu tham khảo: 49
PHẦN MỞ ĐẦU

dân, con người cũng có những thay đổi căn bản trong tư duy, nhận thức,
tính chất thực dụng của nền kinh tế thò trường đã làm cho con người có
những biến đổi quan trọng. Vì vậy việc giáo dục tư tưởng nhân văn cho thế
hệ trẻ là một yêu cầu cấp thiết, phải thực hiện thường xuyên, đồng bộ và
phải có những biện pháp cả về mặt đạo đức và pháp lý mới có thể đạt hiệu
quả mong muốn.
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 2
Bác Hồ đã là tấm gương sáng, là hình ảnh vô cùng quen thuộc với
mọi thế hệ con người Việt Nam hơn nửa thế kỷ nay. Từ lâu trong Nhà
trường Cách mạng, hình ảnh Bác và những áng văn thơ của Người đã trở
nên vô cùng quen thuộc. Đó không chỉ là nội dung của môn Văn thuần tuý
mà còn là nội dung phong phú của các môn học khác như Đạo đức, Luân
lý (ở tiểu học), Giáo dục công dân, Lòch sử… ở THPT, vì vậy mà tư tưởng
Nhân văn Hồ Chí Minh lại càng có ý nghóa to lớn đối với sự nghiệp giáo
dục thế hệ trẻ hiện nay. Nó vừa mang ý nghóa lý luận vừa có giá trò thực
tiễn sâu sắc. Hầu hết các trường học ở nước ta đều ghi khắc những lời dạy
của Người: “Non sông Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu
được hay không chính là nhờ công học tập của các cháu”[3 – 110]. Hoặc:
“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”[3 – 120].
Bởi thế mà việc giáo dục tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ có
nhiều thuận lợi. Đảng và Nhà nước đang cần những thế hệ thanh niên trí
thức có đạo đức cách mạng, biết cống hiến và sống trong sạch, lành mạnh
vì vậy trách nhiệm của ngành giáo dục – đào tạo càng trở nên nặng nề và
có tính cấp thiết hơn bao giờ hết: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”[3 – 48]. Thực hiện Di chúc
thiêng liêng của Người, ngành giáo dục – đào tạo càng phải đề cao chức
năng “trồng người”, có như thế mới đáp ứng được yêu cầu xây dựng con
người mới: Những con người thấm nhuần tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
Trong nhà trường, việc giảng dạy các tác phẩm văn chương của Người là
một điều kiện thuận lợi cho giáo dục đạo đức, lòng nhân ái, khoan dung,

3.2 – Nhiệm vụ của đề tài:
5 Góp phần làm sáng tỏ thêm về nguồn gốc, nội dung cơ bản và quá
trình phát triển của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
6 Tìm hiểu những biểu hiện của chủ nghóa nhân văn trong một số
tác phẩm Văn học, cách khai thác và vận dụng vào thực tiễn giảng dạy
Văn học và giáo dục nhân văn.
7 Đề xuất một số biện pháp trong tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ
chí Minh, tư tưởng nhân văn của Người trong Nhà trường THPT hiện nay.
4 – Phương pháp nghiên cứu:
Quán triệt phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lòch sử của
Chủ nghóa Mác – Lênin, và phương pháp Hồ Chí Minh.
Sử dụng phương pháp lòch sử, phương pháp lôgic; đồng thời sử dụng
các phương pháp khác như phân tích, so sánh, bình giảng … để làm sáng rõ
những nội dung của đề tài.
5 – Bố cục của đề tài:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
chương 8 tiết.
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 4
CHƯƠNG MỘT
TỪ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN NHÂN ĐẠO TRUYỀN THỐNG ĐẾN
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH
1 – Những cơ sở của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:
1.1- Từ tư tưởng nhân văn, nhân đạo truyền thống của dân tộc:
Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng người đã có một lòch sử tồn tại
hàng nghìn năm trên dải đất này. Trên cái nền lòch sử lâu dài ấy, người
Việt chúng ta đã có một nền văn minh rực rỡ mà cốt lõi là sự đoàn kết
thương yêu lẫn nhau, giàu tình thân ái “thương người như thể thương thân”,
đoàn kết để dựng nước và giữ nước, mà nói ngắn gọn là để sống tốt theo
lời khuyên:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

hót ca như bờ suối không tiếng đàn hát”.
Vónh biệt người thân, họ cũng khóc những tiếng khóc phi thường:
“Đam San khóc từ sáng đến tối, từ tối suốt sáng, … nước mắt ròng đầy
một bát, chảy ngập cả chiếc chiếu.”[24 – 22,23].
Có thể so sánh với chính sử nước nhà, nhiều vò anh hùng dân tộc như
Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi đánh giặc bằng “tâm công” (Ta đây mưu
phạt tâm công – Nguyễn Trãi), “đem đại nghóa để thắng hung tàn, lấy chí
nhân để thay cường bạo”. Suốt mấy mươi thế kỷ dựng nước và giữ nước,
cha ông ta đã đúc kết truyền thống dân tộc trong mấy chữ Nhân ái, Nhân
văn, nói như nhà thơ Tố Hữu:“Dệt tấm lòng nhân đựng gió mưa!”[21 –
452].
Một điều mà không phải ai cũng hiểu là chúng ta không chỉ “người
trong một nước phải thương nhau cùng”, mà với cả kẻ thù ta cũng “đánh
kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại”, Nguyễn Trãi từng nói:
“Tướng giặc bò cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.” [24 – 123]
Thử hỏi 500 năm trước đã có Công ước Quốc tế về tù binh chiến
tranh để Nguyễn Trãi thực thi? Cha ông ta chỉ có công ước về lòng người
để đối nhân xử thế mà Nguyễn Trãi là một điển hình.
Một điểm nữa trong cơ sở tư tưởng nhân văn, nhân đạo của dân tộc
ta là truyền thống yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh tính
mạng và tài sản vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do cho Tổ
quốc. Lòch sử đặt dân tộc ta trong những thử thách khắc nghiệt nhất và
chúng ta đã bước qua những khúc quanh đó một cách thật nhẹ nhàng và
vinh quang. “Lòng nhân ái đã gắn chặt vận mệnh của mỗi cá nhân vào
vận mệnh của dân tộc.”[1 – 4] Sự sống của mỗi cá nhân gắn với sự tồn
vong của dân tộc. Hơn ai hết mỗi người Việt Nam hiểu rõ về mình và hiểu
rõ điều này. “Máu chảy ruột mềm” khi đất nước có ngoại xâm thì họ cùng
nhau chung lưng đấu cật cầm vũ khí chống lại kẻ thù chung mà không suy
tính thiệt hơn, họ xả thân vì Nghóa mà thực chất là vì sự sống còn của cả

ái của dân tộc Việt Nam.”[17 – 23]
1.2 – Những vấn đề về chủ nghóa nhân văn trên thế giới:
1.2.a/ Văn hoá phương Đông:
Phương Đông từ xa xưa đã trở thành một nền văn minh lớn với nhiều
trường phái triết học nổi tiếng mà trước hết là Nho giáo.
Nho giáo do Khổng Tử và các môn đệ của ông sáng lập vào khoảng
thế kỷ VI – V tr.Cn với những nội dung cơ bản là thuyết chính danh với
chữ Nhân là cốt lõi, kêu gọi tinh thần trung quân, ái quốc, nhằm lập lại trật
tự xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến, nhà nước phong kiến.
Tuy nhiên bên cạnh mặt tiêu cực, Nho giáo có những mặt tiến bộ mà đến
nay vẫn còn nguyên giá trò. Đó là tính nhân văn, nhân đạo, tính nhân loại.
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 7
Nó răn dạy cá nhân làm điều nhân đức “nhân, lễ, nghóa, trí, tín.”, “kỷ sở
bất dục vật thi ư nhân”. Lòch sử đã chứng minh rằng Nho giáo khi nhập
vào nước ta được cha ông ta tiếp nhận có sáng tạo, phát huy mặt tích cực,
hạn chế tiêu cực, sáng tạo cho phù hợp với đặc điểm, phong tục, thể chế
của xã hội nước ta. “Lấy dân làm gốc”, “Việc nhân nghóa cốt ở an dân”
(Nguyễn Trãi). “Lòng nhân ái, yêu thương nhân dân, hết lòng vì việc dân
cũng được thể hiện rõ nét trong nhận thức, tư tưởng, hành động của những
nhà tư tưởng, nho só trí thức và các bậc đế vương” xưa.[20 – 21]. Hồ Chí
Minh sinh ra trong một gia đình Nho giáo vì vậy mà Người tiếp thu được
những gì tích cực tốt đẹp nhất của nó, gắn bó với quê hương, dân tộc,
Người đã tiếp thụ một cách tự nhiên lòng yêu nước và những phẩm chất tốt
đẹp của văn hoá dân tộc và nét đẹp của Nho giáo.
Phật giáo cũng truyền vào nước ta từ rất sớm. Phát tích từ n Độ,
qua một quá trình lâu dài du nhập vào nước ta, cũng như Nho giáo, mặt
tinh hoa và tích cực được phát huy bởi Đức Phật luôn mong muốn xây dựng
cho chúng sinh một cuộc sống “thiện chí, bình đẳng, yên vui, no ấm”. Vào
Việt Nam Phật giáo cũng dần dần được Việt hoá không còn y nguyên triết
lý đạo Phật mà phái Trúc Lâm của vua Trần Nhân Tông là ví dụ điển

những quan điểm thần học thời trung đại, và có những quan hệ chặt chẽ
với những quan điểm duy vật tiến bộ” [21 – 402, 403]. Những đại diện tiêu
biểu của chủ nghóa nhân văn thời kỳ này là Đăngtơ, L. đơ Vanhxi,
Môngtecxkiơ,… họ tuyên bố những khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”
bảo vệ quyền con người, tuy nhiên trong đó họ đề cao chủ nghóa cá nhân,
lấy nó làm cơ sở cho lý tưởng nhân đạo chủ nghóa.
Hồ Chí Minh đã sớm tiếp xúc với nền văn hoá Phương Tây và có ý
thức tìm hiểu nó một cách sâu sắc. Người cho biết:“… vào trạc tuổi 13, lần
đầu tiên tôi đã nghe được những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Thế là
tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằng
sau những từ ấy” (trích theo[1 – 24]). Đó là lý do mở đầu cho cuộc hành
trình hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước của Người, để rồi trong hành
trình ấy Người đã tiếp thu một cách sáng tạo các tư tưởng cách mạng tiến
bộ trên thế giới, và nhất là Chủ nghóa Mác – Lênin làm kim chỉ nam cho
cách mạng Việt Nam và kỷ nguyên Hồ Chí Minh.
1.3 – Chủ nghóa nhân văn Cộng sản:
Đây là chủ nghóa nhân văn của giai cấp công nhân, một giai cấp sinh
sau đẻ muộn nhưng lại bò áp bức bóc lột nhiều nhất, giai cấp tư sản và nền
kinh tế tư bản chủ nghóa vừa là nguyên nhân, vừa là điều kiện cho sự ra
đời và phát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân, do bò áp bức, bóc lột
thậm tệ nên nổ ra những cuộc đấu tranh trên phạm vi toàn thế giới. Mác
và ngghen đã làm nên học thuyết của mình về giai cấp công nhân và chủ
nghóa cộng sản. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Lênin đã bổ sung, cụ
thể hoá để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Nga và cách mạng thế giới.
Giờ phút lòch sử vó đại nhất của Hồ Chí Minh và cũng là của dân tộc
ta là lúc Người bắt gặp bản sơ thảo luận cương của Lênin “Về các vấn đề
dân tộc và thuộc đòa”. Người nói:
“Đề cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ,
tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 9

2.1 – Lòng yêu thương con người:
Người Việt Nam ta vẫn thường tự hào mình là dòng giống Lạc
Hồng,”con Rồng, cháu Tiên”, điều đó cũng đúng ở Hồ Chí Minh, trước lúc
đến với Chủ nghóa Mác – Lênin, Bác cũng hay nói về những điều này. Sau
khi đến vối chủ nghóa Mác – Lênin, Bác đã có quan niệm mới mẻ, Người
cho rằng trên thế giới này chỉ có hai giống người mà thôi, đó là giống
người đi áp bức bóc lột và người bò bóc lột hay giống người làm điều Thiện
và giống người làm điều c. Bác cho rằng mọi người trên trái đất này, khi
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 10
họ là những người bò áp bức, những người làm điều thiện thì dù khác nhau
về chủng tộc vẫn có thể coi nhau như anh em một nhà, vẫn có thể thực
hiện đại đoàn kết, đại hoà hợp. Người ta thường dùng khái niệm “lý luận
con người” để chỉ về mối quan tâm của Bác về con người:
“Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh từng bước hoàn
chỉnh lí luận về con người. Năm 1924, Người đã viết: “Vậy là dù màu da
có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và
giống người bò bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi:
tình hữu ái vô sản ’’
Năm 1949, trong tác phẩm Cần kiệm liêm chính, Hồ Chí Minh đã
viết như sau: “Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Song số người ấy
có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người c”. Và khi lí giải mối
quan hệ giữa người với người, Hồ Chí Minh giải thích: “Chữ người, nghóa
hẹp là gia đình, anh em , họ hàng, bầu bạn. Nghóa rộng là đồng bào cả
nước. Rộng nữa là loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít
thực dân là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả
những người khác thì ta phải yêu quý kính trọng giúp đỡ.
Chớ nònh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới… Phải học người
và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-i”.[17 – 265,266]. Ở Hồ
Chí Minh có sự phân biệt rạch ròi trong việc thể hiện quan niệm, và thái
độ của mình về con người để từ đó mà có những cách đối xử khác nhau,

cũng chính xuất phát từ lòng nhân ái bao la của Bác. Yêu thương con người
còn là phải biết lắng nghe ý kiến cuả người dân, biết lấy dân làm gốc, biết
học hỏi ở nhân dân. Bác chỉ ra rằng cần phải: “Học ở trường, học ở nhà,
học ở quần chúng, học ở nhân dân”, người cán bộ phải biết làm học trò
của dân, không nònh hót người trên, xem khinh người dưới. Bác lòng yêu
thương con người là không biên giới, Người từng nói:
“Quan san muôn dặm một nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em”
Lòng yêu thương con người không thay đổi ở Bác, nó có ở mọi nơi
mọi lúc, có trong mọi công việc dù lớn nhỏ của Người.
Tình yêu thương đối với con người ở bác đã tạo được nét riêng độc
đáo mà ta vẫn gọi là phong cách Hồ Chí Minh, bởi Người đã đứng trên lập
trường của giai cấp công nhân, dưới ánh sáng của chủ nghóa Mác – Lênin
và mạch nguồn dân tộc mà hun đúc nên. Người sống cho một mục đích duy
nhất là phấn đấu cho độc lâïp tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.
Hoàn cảnh của dân tộc và hoàn cảnh cá nhân là nguyên do lớn cho sự
đồng cảm của Bác đối với những người cùng cảnh ngộ, “thương người như
thể thương thân” khát vọng giải phóng luôn luôn thường trực trong Người,
đó là giải phóng cá nhân và giải phóng dân tộc, giai cấp. Bằng sự từng trải
và chiêm nghiệm từ những hiểu biết trong cuộc đời bôn ba của mình mà
Bác tạo nên được sự đồng cảm lớn lao ấy. Thậm chí có những lúc ta còn
thấy Bác chỉ “thương người” mà chẳng cần “thương thân”, những điều này
thể hiện rõ qua những năm tháng bò tù đày bởi chíng quyền Tưởng Giới
Thạch ở trung Quốc những năm 1942 – 1943, khát vọng duy nhất lúc bấy
giờ là được tự do, tự do để hoạt động cách mạng, tự do để cứu dân, cứu
nước.
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 12
Có thể khẳng đònh rằng “Lý luận về con người ở Hồ Chí Minh cho
thấy: … đồng bào cả nước là một đại gia đình… Tuy nhiên, Hồ Chí Minh
không bao giờ đóng khung “người trong một nước”, mà: “rộng hơn nữa,

cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, gào thét và sẽ bùng
nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến.”[4 – 28]. Niềm tin ấy còn thể hiện
sự tiên đoán tài tình của Hồ Chí Minh, ngay từ khi nhận mình là người
Cộng sản (1920) Bác quan niệm phải tin vào nhân dân, tin vào sức mạnh
của quần chúng và dựa vào họ để làm nên sự nghiệp cách mạng. Trong
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 13
quan niệm của Hồ Chí Minh về cái Thiện và c ta còn thấy người ác là
những kẻ gây ra tội ác cho dân tộc, cho đồng bào. Không có người xấu, chỉ
có những người chưa được giáo dục, cải tạo. Vì vậy mà Hồ Chí Minh
thương cảm đến mọi “ngươiø cùng khổ”, một “người tù cờ bạc vừa chết”
cũng thấy Người cất tiếng nói xót xa, cảm thông, đau đớn:
Thân anh da bọc lấy xương
Khổ đau đói rét hết phương sống rồi
Hôm qua còn ở bên tôi
Sáng nay anh đã về nơi suối vàng. [4 – 425]
Một cháu bé nửa tuổi phải theo mẹ ở tù vì cha trốn lính cũng gợi sự
thương cảm, sự xúc động sâu sắc ở Hồ Chí Minh:
Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi
Phải theo mẹ đến ở nhà pha. [4 – 476]
Những điều đó cho thấy ở Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân đạo đã mở
rộng quan niệm của nó, không giới hạn trong phạm vi tộc người, dân tộc,
quốc gia mà vì Con Người . Trong hành trình cách mạng của mình Hồ Chí
Minh luôn đặt niềm tin vào quần chúng nhân dân, “niềm tin ấy không hề
thay đổi rằng: Dân chúng rất tốt, rất sáng suốt, rất khôn khéo, rất anh
hùng… Người coi đó là chân lý, và đòi hỏi “người cán bộ phải ghi tạc vào
đầu cái chân lý đó” [17 – 271].
Triết học Mác – Lênin còn chỉ rõ mối quan hệ giữa con người và
hoàn cảnh, con người có thể cải tạo được hoàn cảnh, thắng lợi của cách
mạng là thắng lợi của một quốc gia, một dân tộc và cả trong từng mỗi con
người. Vì vậy mà Hồ Chí Minh luôn dạy bảo người cán bộ cách mạng phải

trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
2.3 – Suốt đời vì hạnh phúc của nhân dân:
Đó chính là “ham muốn tột bậc” của Hồ Chí Minh, từ thû ấu thơ,
Người đã chứng kiến bao cảnh lầm than của đồng bào, dân tộc. Ngày còn
là cậu học trò trường Quốc học Huếø, Nguyễn Tất Thành vì tham gia biểu
tình chống sưu cao, thuế nặng ở Trung kỳ mà bò thực dân Pháp truy lùng,
phải bỏ học và ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Suốt đời vì hạnh phúc
con người nhưng đó không phải là sự ban ơn của kẻ bề trên, không chỉ đối
với những nỗi đau tầm thường của con người mà “tầm cao của giá trò tư
tưởng nhân đạo đó là sự giải phóng con người”, vì con người.[1 – 2]. Hồ
Chí Minh luôn có quan niệm “lấy dân làm gốc”, coi quần chúng nhân dân
là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, giúp họ tự đứng lên làm
cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và tự giải phóng mình. Ở
mặt này ta thấy tư tưởng Hồ Chí Minh đã kế thừa và sáng tạo từ tuyền
thống đấu tranh của dân tộc và các triết lý, tư tưởng tiến bộ của phương
Đông và của thế giới, nhất là của chủ nghóa Mác – Lênin. Khát vọng giải
phóng con người có từ ngàn xưa, nhưng tìm được con đường đi đúng đắn,
tìm được đường lối chỉ đạo cho khát vọng đó thành hiện thực thì phải đợi
đến khi Nguyễn i Quốc bắt gặp chủ nghóa Mác – Lênin. Lòch sử của dân
tộc ta cho thấy đó cũng là khát vọng của biết bao thế hệ:
Cha ông ta từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 15
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
“Văn chiêu hồn” từng thấm giọt mưa rơi…
(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi – Chế Lan Viên)
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghóa Mác vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam, muốn cách mạng thắng lợi thì “đầu tiên là công việc
đối vối con người”, “Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và

tại và phát triển phải có những lớp người tiên tiến, trung thành với lý tưởng
của cha ông, toàn tâm toàn ý phục vụ cho lợi ích chung của cả cộng đồng.
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 16
Các chế độ xã hội đều xây dựng những mẫu con người lý tưởng của thời
đại mình, chế độ phong kiến đó là các đấng trượng phu, hiền nhân quân tử,
các hiệp só, hay các võ só đạo… Chế độ tư bản là những doanh gia, thương
nhân giàu “nứt đố đổ vách”… Chế độ xã hội chủ nghóa là hình ảnh những
“con người mới”, lấy tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng, cống
hiến, hy sinh cho hạnh phúc chung của giai cấp, của loài người, biết làm
chủ cuộc sống, làm chủ xã hội. nước ta Hồ Chí Minh đã dày công giáo
dục và rèn luyện con người, mỗi giai đoạn của cách mạng nước nhà lại có
một mẫu con người mới xuất hiện. Trong kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược (1946 – 1954) hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành
con người lý tưởng của thời đại, họ là mẫu người để cho mọi người ngưỡng
mộ, học tập và rèn luyện, những con người ấy đã làm nên những kỳ tích
lòch sử trong kháng chiến chống Pháp và cả chống Mỹ sau này (1965 –
1975), ở miền Nam thời chống Mỹ hình ảnh anh Giải phóng quân hiên
ngang trên tuyến đầu chống Mỹ cũng một thời làm rung chuyển thế giới:
Hoan hô anh Giải phóng quân
Kính chào Anh, con người đẹp nhất!
Lòch sử hôn Anh, chàng trai chân đất
Sống hiên ngang, bất khuất trên đời…
…Anh đi xuôi ngược tung hoành
Bước dài như gió lay thành chuyển non. [21 – 432,397]
Hồ Chí Minh là ngưòi mở đường chỉ lối, người lèo lái con thuyền
cách mạng Việt Nam và trên “con thuyền” đo,ù Người đã đào tạo ra nhiều
lớp “thuỷ thủ” xuất sắc, họ chính là mẫu người lý tưởng của một thời đạn
bom, một thời đầy máu lửa, cho đến bây giờ hình ảnh của họ vẫn còn là
tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ học tập, nhất là đức hy sinh, một lòng
một dạ cho Tổ quốc, cho lý tưởng.

mà Hồ Chí Minh nêu ra chỉ có thể gọi đó là đạo làm người. Đạo ở đây
cũng còn hiểu là đạo đức, đây là những biểu hiện cụ thể của tư tưởng nhân
đạo Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh thể hiện đạo đức của mình trên hai phương
diện: “Đạo đức chính trò và Đạo đức trong lối sống của con người”. [1 –
8]
- Về đạo đức chính trò, ta thấy Hồ Chí Minh trên hành trình cách
mạng đã tìm thấy lý tưởng cho đời mình là con đường đấu tranh giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân.
Người đã bắt đầu từ chủ nghóa yêu nước để đến với chủ nghóa Mác –
Lênin, hành trình cách mạng đầy gian khổ hy sinh để đưa về vận dụng vào
thực tiễn cách mạng Việt nam là một cuộc trường chinh vó đại của Người.
Đạo đức chính trò ở Hồ Chí Minh là làm chính trò không vụ lợi, chính trò ở
đây là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc. Làm chính trò không phải
để được là quan, làm quan không phải để “vinh thân phì gia”, mà là để
“phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân”. Đây là một nét hết sức quan
trọng làm nên tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, ngay cả những tình thế cấp
bách nhất trong tính mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng chỉ một lòng một
dạ nghó về những mục tiêu cao cả đó:
Canh bốn canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.[19 – 437]
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 18
…Sống khác loài người vừa bốn tháng
…May mà:
Kiên trì và nhẫn nại
Không chòu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần.[19 – 507]
Phải chòu biết bao cực hình và khổ nhục như vậy mà vẫn trung kiên
bất khuất là bởi Hồ Chí Minh xác đònh mục đích của lý tưởng cách mạng
của mình. Phải biết hy sinh chòu đựng chờ thời cơ cách mạng, biết vùng lên

3.2 – Quá trình phát triển tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:
Sự hình thành và quá trình phát triển tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
có thể thấy nổi bật ở ba giai đoạn trong suốt cuộc đời đầy sóng gió và vinh
quang của Người:
3.2.1 – Thời kỳ là anh thanh niên Nguyễn Tất Thành (1890 – 1911),
Người đã tiếp thụ được lòng nhân ái bao dung từ bà mẹ nghèo làm ruộng,
dệt vải Hoàng Thò Loan, từ những lời ru ầu ơ, đến những điệu ví dặm, câu
hò ở người mẹ và những người dân xứ Nghệ, từ những bài học về lòng độ
lượng và tấm gương học tập nghiêm túc của nhà Nho Nguyễn Sinh Sắc,
thân phụ của Người. Đây có thể gọi là thời kỳ “ẩn nhẫn nấp náu”, thời kỳ
chuẩn bò tiềm lực tinh thần cho con chim đại bàng sắp sửa tung cánh bay
cao, bay xa. Tư tưởng nhân văn đó chính là lòng yêu kính cha mẹ, ông bà,
anh em ruột thòt, quê hương, gia đình mà nguồn gốc sâu xa là truyền thống
dân tộc cộng với những nét đẹp của tư tưởng Nho giáo “trai thì trung hiếu
làm đầu”. giai đoạn này ta thấy “trung, hiếu” của Nho giáo đã có
những biến đổi về khái niệm trong quan niệm của Nguyễn Tất Thành.
Trong chữ “hiếu” đã bao hàm nghóa của chữ “trung” một sự kiện trong
cuộc đời của hai cha con Người còn được kể lại: đầu năm 1911, sau khi
“treo ấn từ quan” cụ Nguyễn Sinh Sắc vào Sài Gòn làm nghề bốc thuốc trò
bệnh cứu người, Nguyễn Tất Thành từ trường Dục Thanh (Phan Thiết) vào
tìm gặp, cụ đã nói với con trai, đại ý: nước đã mất, dân lầm than, anh còn
đến tìm ta làm gì nữa. Đây chính là động lực lớn lao để Nguyễn Tất Thành
quyết chí ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước. Trong lời dạy của cụ Phó
bảng, trung - hiếu chỉ là một. Trung là trung với nước, là phải tìm cách cứu
nước nhà khỏi họa thực dân. Muốn tỏ lòng hiếu với cha thì phải tìm cách
cứu dân, cứu nước. Rõ ràng hai chữ “trung hiếu” của Nho giáo đã thay đổi
về nội hàm của nó. Một điều nữa tác động lớn đến nhận thức của Nguyễn
Tất Thành là thực tiễn sinh động của đơiø sống xã hội Việt Nam trong phần
đầu thế kỷ XX, một xã hội thực dân nửa phong kiến với sự cai trò hà khắc,
tàn bạo của thực dân Pháp; với sự bóc lột thậm tệ của bọn đòa chủ và cuộc

đònh hình phong cách tư tưởng nhân văn. Trong nhiều nét phong cách tạo
thành tư tưởng đó thì tự do là điều mà Người luôn luôn quan tâm. Tự do ở
Phương Tây như là một biểu tượng của giai cấp tư sản, nhưng “đối với Hồ
Chí Minh, độc lập, tự do cho các dân tộc bò áp bức là nội dung qua trọng
hàng đầu, là mục tiêu chiến lược quan trọng nhất trong tư tưởng của Người
với thế giới chứ không phải tự do cá nhân đơn thuần theo quan điểm dân
chủ tự do tư sản” [2 – 935,936]. Có thể khẳng đònh đây là thời kỳ bổ sung
lý luận quan trọng nhất về chủ nghóa yêu nước, tư tưởng nhân văn của Hồ
Chí Minh, vừa thâm nhập thực tiễn cách mạng ở nước ngoài, vừa học tập
tìm hiểu thông qua các học thuyết nổi tiếng của các nhà văn hóa Phương
Tây, đặc biệt là chủ nghóa Mác – Lênin. Đối với Hồ Chí Minh độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghóa xã hội mà mục tiêu cao cả nhất là mang lại
hạnh phúc cho đồng bào, đưa lại những quyền cơ bản nhất cho con người
đấy mới là nội dung quan trọng nhất của tư tưởng nhân văn, thời kỳ này
Người đang chuẩn bò mọi tiềm lực cho lý luận để sau này khi về nước vận
dụng nó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 21
3.2.3 – Thời kỳ Hồ Chí Minh với những thắng lợi của cách mạng
Việt Nam (1941 – 1969) là thời kỳ vó đại nhất trong cuộc đời cách mạng
sôi nổi của Người. Tấm lòng yêu nước thương dân của Người thể hiện từ
những hình ảnh sinh động và cao cả: “Xa nước ba mươi năm một câu Kiều
Người vẫn nhớ”, “Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong
màu hồng hình đất nước phôi thai” (Chế Lan Viên). Đây là giai đoạn tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được biểu hiện cụ thể, đa dạng và sinh động.
Sau khi về nước, thành lập mặt trận Việt Minh, chuẩn bò cho cuộc khởi
nghóa vũ trang sau này, Người sang Trung Quốc nhằm liên hệ với Đảng
cộng sản đế liên minh chống phát xít Nhật thì bò chính quyền Tưởng Giới
Thạch bắt giam. “Mười bốn trăng tê tái gông cùm”[21 – 459] nhưng đã thể
hiện một nhân cách Hồ Chí Minh. Đọc Nhật ký trong tù của Người ta thấy
Bác là bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng” (Viên Ưng), bậc “đại nhân” ấy đã

người nhưng Hồ Chí Minh cũng rất cương quyết với kẻ thù của dân tộc và
của nhân loại. Trước những diến biến ngày càng phức tạp của thế giới, Hồ
Chí Minh một mặt chèo lái con thuyền cách mạng, mặt khác kiên đònh lập
trường chính trò và lập trường nhân văn của mình. Vừa chống Mỹ vừa xây
dựng Chủ nghóa xã hội ở miền Bắc, nhưng Hồ Chí Minh vẫn quan tâm đến
con người, Người đã có những dự cảm thiên tài về tình hình cách mạng thế
giới nên Người hết sức chú trọng trong việc giáo dục rèn luyện những lớp
người kế tục. Trong Di chúc để lại Người nói nhiều về việc giáo dục, đào
tạo con người mới, nhất là thế hệ trẻ: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho
đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Tư tưởng nhân văn của
Người thể hiện một tầm cao mới đó là quan tâm đến tương lai của đất
nước của dân tộc và cả thời đại. “Bởi vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
là đỉnh cao của chủ nghóa nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam ở mọi
thời đại”[1 – 26].
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 23
CHƯƠNG HAI
NHẬN THỨC VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH QUA
MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC CỦA NGƯỜI
1 – Biểu hiện của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh qua các tác
phẩm văn xuôi:
Ngay từ thû thiếu thời, Hồ Chí Minh đã tâm đắc hai câu thơ của
Viên Mai mà thân phụ Người vẫn thường đọc:
Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thò văn chương
(Khuya sớm những mong ghi sử sách
Lập thân hèn nhất ấy văn chương)
Người xưa thường quan niệm muốn lập thân mưu danh lợi thì lấy văn
chương khoa cử làm con đường duy nhất. Nhưng mưu danh lợi mà quên
mất trách nhiệm của mình trước hoàn cảnh của non sông Tổ quốc thì đó là
điều đáng trách. Hồ Chí Minh cũng không coi văn chương chỉ có ý nghóa

các sáng tác của Người. Hạt nhân của cảm hứng này cũng chính là tư
tưởng nhân văn. Nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ Hồ Chí Minh trước hết là
một chiến só cách mạng, đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập tự do của
dân tộc và giai cấp. Khi một số người gọi Bác là nhà văn, Người nói: “gọi
tôi là nhà tuyên truyền, tôi cũng không tranh cãi, nhà cách mạng chuyên
nghiệp là đúng nhất” [19 – 619]. Nói như nhà phê bình văn học Hoài
Thanh: “Bác Hồ không tự coi mình là nhà thơ nhưng trên con đường hoạt
động cách mạng, Người đã lỡ tay đánh rơi vào kho tàng văn học của nước
nhà một viên ngọc quý”. Hành trình hoạt động văn học của Người bắt đầu
từ những năm hai mươi của thế kỷ XX với những tác phẩm tố cáo mạnh
mẽ trước công luận những tội ác của chủ nghóa thực dân Pháp như : Bản án
chế độ thực dân Pháp, Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nhật
ký chìm tàu, Con người biết mùi hun khói, Vi hành, Những trò lố hay Varen
và Phan Bội Châu… Các tác phẩm trên đã lên án một cách mạnh mẽ, sâu
sắc từng mặt, từng vấn đề về những tội ác tàn bạo, những trò bóc lột thậm
tệ của chủ nghóa thực dân, của bọn đế quốc đối với nhân dân các nước
thuộc đòa …, bên cạnh đó ta còn thấy toát lên một tinh thần sôi sục đấu
tranh của một ngòi bút luôn luôn đặt mục đích cách mạng cho các sáng tác
của mình. Mặc dù thể hiện nhiều phong cách khác nhau nhưng ta cũng
thấy nổi bật trong những trang viết đó một tấm lòng nhân ái, biểu hiện một
triết lý nhân văn sâu sắc. Những tác phẩm chính luận của Người đã thể
hiện những tư tưởng cách mạng của thời đại mới của giai cấp vô sản và
dân tộc. Nhiều tác phẩm mang tính đả kích châm biếm sâu cay kẻ thù và
bọn vua quan bù nhìn (Vi hành) nhưng ẩn đằng sau cái cười chua xót đó là
lòng nhân hậu, yêu thương đồng bào. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân
Pháp Người viết năm 1925 tại Pari, đây không chỉ là tác phẩm có giá trò
lớn về tư tưởng, chính trò, văn học mà còn có giá trò nhân văn. Việc lên án
ĐTKH - HƯỚNG - 2012 25

Trích đoạn TAØI LIEƠU THAM KHẠO:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status