BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài: Anh, (chị) hãy tìm hiểu về tưởng “Thân Dân” của Hồ Chí Minh
so với các bậc tiền bối. Vấn đề này được đảng và nhà nước ta giải quyết như
thế nào? Liên hệ bản thân.
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Lê Thị Hoa
Họ và tên sinh viên: Chu Kiều Oanh
Ngày tháng năm sinh: 02/11/1991
MSSV: CQ512384
STT: 68
Lớp: Tư tưởng Hồ Chí Minh (103) _33
Khoá: 51
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2010
1
Đề Cương:
I/. đặt vấn đề
II/. Giải quyết vấn đề
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về “ Thân Dân”.
- Lấy dân làm gốc:
- Tư tưởng “thân dân”:
2. Quan điểm của các bậc tiền bối:
-
nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Cả cuộc
đời hoạt động của Người đều hướng vào mục tiêu cao cả là giải phóng
giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc
lột bất công, khỏi đọa đày và đau khổ, khỏi nghèo nàn và lạc hậu.
Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng” và kế thừa hệ tư tưởng phương Đông: “Nước lấy dân
làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn ra sức mạnh của con người
trong sự cố kết với cộng đồng dân tộc, giai cấp với sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không
gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Sự đoàn kết của nhân dân là
lực lượng vô địch, dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không
chống lại nổi. “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tượng đồng
3
xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn xảo quyệt đến mức nào đụng đầu
nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”.
Những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng từ sau ngày cách mạng
Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ vai trò to
lớn của nhân dân, đồng thời vạch ra 12 điều răn rất cụ thể để giáo dục bộ đội,
cán bộ “khi tiếp xúc và chung sống với nhân dân”. Đảng ta tiếp thu tư tưởng
“Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó khẳng định: Cần
thắt chặt hơn nữa quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, chính Đảng cũng
từ nhân dân, là một bộ phận tiên tiến của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân
thực sự là người chủ, trực tiếp tham gia công việc quản lý đất nước, quản lý
xã hội trong giai đoạn mới của cách mạng.
“Dân làm gốc”, “Dân làm chủ”, trong tư tưởng và hành động phải nhất
quán, gắn bó hữu cơ. Bước vào công cuộc đổi mới đất nước “người chủ” chưa
thể làm chủ ngay trên tất cả các mặt hoạt động của xã hội, cần phải có người
hông hiểu biết nhân dân. Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích
thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ
phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân không thể lý luận suông, chính
trị suông.
Không yêu thương nhân dân. Do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không
thiết thực giúp đỡ nhân dân. Thí dụ: Họ yêu cầu nhân dân đóng góp, nhưng
không biết giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi
dưỡng sức của, sức người của nhân dân.
Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh,
dọa nạt dân!
Sinh thời Bác Hồ thường nhắc nhở: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao
nhiêu quyền hạn đều do dân. Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của
dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ
xã đến chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã
do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân…”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra bài học: Cách mạng là sự nghiệp của dân, do
dân, vì dân. Do vậy, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phải:
“Động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại
5
của toàn dân…” (Di chúc). Bài học mà Người chỉ ra đến nay vẫn còn nóng
hổi và mãi mãi định hướng cho chúng ta: Phải lấy dân làm gốc. Phải gần gũi
nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì tài tình mấy
cũng không làm gì được.
Dân là gốc của nước, dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng
và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước. Nước do dân
xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước.
Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực lượng của
Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân. Nhân dân là người xây dựng,
biết cái gì, “chỉ mấy ông cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy
mà viết, cứ tưởng những cái mình làm ra là đúng, mình viết là hay. Nào có
biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”,
không ăn thua, không thấm thía, không lợi ích gì cả”.
Thời đại Hồ Chí Minh, những giá trị văn hóa chính trị yêu nước, thương
dân, lấy dân là gốc được soi sáng và phát triển rực rỡ, trở thành chân lý khoa
học, kim chỉ nam cho hành động. Thân dân, luôn coi dân là gốc là đạo đức
cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự đặt mình vào
địa vị của người dân mà mình đại diện để hiểu, suy xét, chia sẻ tâm tư,
nguyện vọng, kiến nghị, đề xuất , mong muốn của họ. Có lắng nghe, thấu hiểu
nguyện vọng chính đáng của dân thì đại biểu dân cử mới thực hiện tốt việc
“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến cho dân ta phải hết
sức tránh”. Bởi, ta có yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.
Thân dân biểu hiện ở việc cán bộ, đảng viên thực hiện nghĩa vụ và quyền
lợi do pháp luật quy định. Tức là, phải trung thành với mục tiêu lý tưởng, với
chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải hướng đến một nền hành chính, một
tổ chức, một bộ máy phục vụ nhân dân; luôn gương mẫu hoàn thành kế hoạch
được giao và nếu có chức vụ phải biết sử dụng quyền lực để giao việc, kiểm
tra, theo dõi, đánh giá, phê bình, khen thưởng một cách công minh chính trực;
phải lắng nghe và dựa vào quần chúng nơi cơ quan để xây dựng quy chế làm
việc, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế chi tiêu tài chính, các biện pháp thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, làm cho cơ quan đoàn kết
nhất trí; không xu nịnh, không ưa nịnh, không chia bè chia cánh, cục bộ, bản
7
vị; phải luôn đề cao trách nhiệm vì dân để giải quyết nhanh chóng, kịp thời
những chế độ, chính sách liên quan đến người dân; phải thận trọng trong việc
xem xét, quyết định các vấn đề hệ trọng có ảnh hưởng đến quyền bình đẳng,
quyền lợi của các tầng lớp nhân dân. Khi nhân dân có ý kiến, khiếu nại, tố
11
Như vậy, trên vũ đài chính trị và tư tưởng thời Lý - Trần, nhân dân đã
được nhìn nhận như một lực lượng xã hội cần phải quan tâm đến khi tiến
hành những cuộc chiến tranh giữ nước và duy trì trật tự xã hội nhằm đem lại
sự thịnh vượng cho nước nhà. Và giá trị tích cực của quan điểm thân dân,
"khoan thư sức dân" trong thời Lý - Trần chính là ở chỗ đó.
3. Điểm khác biệt trong quan điểm của Hồ Chí Minh và các bậc tiền
bối.
Có thể thấy so với tư tưởng “thân dân” của các nhà tư tưởng phong
kiến ở phương Đông và tư sản ở phương Tây thì tư tưởng “thân dân” của Hồ
Chí Minh đã vượt lên hơn cả. Từ quan niệm “dân là gốc” và “lấy dân làm
gốc” một cách chật hẹp và mang nặng tính hình thức của các nhà tư tưởng
phong kiến và tư sản, Hồ Chí Minh đã phát triển thành một quan niệm rộng
mở về dân và nhất là đã trả lại vị thế thực sự của dân, từ thụ động tiêu cực trở
thành chủ động tích cực; từ là công cụ, phương tiện duy trì quyền lực của giới
thống trị trở thành thực sự là gốc và làm gốc và tiến cao hơn nữa để là chủ và
làm chủ đất nước. Đây là một tư tưởng lớn (tư tưởng “thân dân) vừa mang
tính nhân văn cao cả, vừa có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, là một trong những
đóng góp xuất sắc của Hồ Chí Minh vào kho tàng tư tưởng nhân văn của nhân
loại.
Như vây, từ xác định dân là hạt nhân, là gốc của đất nước, tiến đến xem
dân là con của đất nước và tiến hơn nữa coi việc dân được hưởng hạnh phúc
tự do là tiêu chí quan trọng nhất của một nước độc lập, đó là các cung bậc
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân và nước, thể hiện bước phát
triển mới của Người về vấn đề này. Rõ ràng, so với quan niệm của các nhà
yêu nước tiền bối, quan niệm của Hồ Chí Minh đã hơn hẳn về chiều sâu tư
tưởng, giá trị nhân văn, nhân đạo và Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta một
tấm gương mẫu mực về nhận thức và phát huy vai trò của nhân dân - với ý
trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao
năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai
trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ
thống chính trị.
13
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy.
Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân
dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật...
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối
quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: "Trong bầu
trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực
lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được
tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch". "Làm việc gì cũng phải
có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được... Việc gì có
quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt.
Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức,
thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch
Hồ Chí Minh căn dặn: "Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách
trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải
kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt
đối không được lên mặt "quan cách mạng", ra lệnh, ra oai... phải khiêm tốn,
gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ
Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn "những người liên lạc mật thiết với dân
chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế,
thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ".
Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: "Hiện
của Đảng, đồng thời thể hiện ý chí, lợi ích và quyền lực của nhân dân. Quốc
hội là do dân bầu ra, phải thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp, quyết định
những vấn đề lớn của đất nước và giám sát tối cao, vì cuộc sống của nhân
dân. Chính phủ và chính quyền các cấp hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan hành pháp, đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia bao gồm thể
chế hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức và tài chính công. Chú
trọng xây dựng bộ máy tư pháp và cải cách tư pháp. Nắm vững quan điểm của
Đảng: quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước vững mạnh, đồng thời kiên quyết
phòng, chống tham nhũng, lãng phí và những tiêu cực khác.
Thực hiện các mục tiêu:
- Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân.
- Việc gì cũng bàn với dân, giải thích cho dân hiểu rõ.
16
- Có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan
nghênh nhân dân phê bình mình. Tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt
đảng còn cần có sự tham gia và giám sát của quần chúng và phải đạt tới mức
độ làm rung động tình cảm cách mạng của đông đảo quần chúng. Dám nhìn
thẳng vào sự thật và từ đó có những quyết sách để đổi mới Đảng và chỉ có đổi
mới Đảng thì mới có thể có những bước bứt phá đưa đất nước sớm đạt đến
mục tiêu cao cả Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Sẵn sàng học hỏi nhân dân.
- Người đứng đầu phải là tấm gương sáng : Tự mình làm gương mẫu,
Cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo .
- Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cần tiến bộ, sẵn chí phụng
sự nhân dân. Mong rằng anh chị em đều cố gắng thi đua dùng đơn thuốc này
III. kết luận
Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc,
là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Về thực chất,
đây cũng chính là tư tưởng thân dân. Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư, là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của
nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, là thân dân.
Tư tưởng “Thân Dân” đã khái quát lên được tư tưởng Hồ Chí Minh về
Dân tộc và con người , đó là:
- Mục tiêu chung: là không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.
- Chế độ chính trị: là chế độ do nhân dân làm chủ.
- Về kinh tế: phải xây dựng nền kinh tế XHCN có công nông nghiệp hiện
đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến,được tạo lập trên chế độ công hữu về
TLSX.
* Phát triển kinh tế là để nâng cao đời sống của nhân dân. Quan hệ giữa
phát triển kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân như nước với thuyền.
- Mục đích của mọi đường lối chính sách kinh tế của
Đảng và Nhà nước ta là để nâng cao đời sống nhân dân.
18
- Nâng cao đời sống nhân dân phải căn cứ vào điều kiện kinh tế hiện có.
- Sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân có mối quan hệ biện chứng tác
động thúc đẩy lẫn nhau.
- Sự vận dụng của Đảng ta.
19