Tìm hiểu về tư tưởng thân dân của Nguyễn Ái Quốc so với các bậc tiền bối. Vấn đề này ngày nay được Đảng và Nhà nước ta giải quyết như thế nào - Pdf 87

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài:” Tìm hiểu về tư tưởng thân dân của Nguyễn Ái Quốc so với
các bậc tiền bối. Vấn đề này ngày nay được Đảng và Nhà nước ta giải quyết
như thế nào.”

Người hướng dẫn:
Th.S Lê Thị Hoa
Sinh viên thực hiện:
Vũ Huy Phong
Mã SV: CQ 512404
Lớp tín chỉ: Tư tưởng Hồ Chí Minh_01
Hà nội, ngày 30 tháng 10 năm 2010
MỤC LỤC
A/ Tư tưởng “Thân dân”
I-/ Khái quát chung về tư tưởng thân dân
1. Nguồn gốc tư tưởng
2. Tìm hiểu chung về tư tưởng
II-/ Tư tưởng “Thân dân” của các nhà tư tưởng trước Hồ Chí Minh
5. Dòng tư tưởng Nho Giáo
6. Tư tưởng của Nguyễn Trãi
III-/ Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Thân dân”
IV-/ So sánh tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh và các nhà tu
tưởng đi trước
7. Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh và dòng tư tưởng Nho
giáo
8. Tư tưởng thân dân của Hồ CHí Minh và Nguyễn Trãi
B/ Vấn đề giải quyết tư tưởng “Thân dân” của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay
I-/ Những mặt tích cực đáng ghi nhận
II-/ Hạn chế, cần khắc phục

viết khá hấp dẫn về nhà Lê và nhà văn hoá Nguyễn Trãi:" Triều đại nhà Lê
(Lê sơ, 1428 -1527) do một chủ đất bình thường là Lê Lợi sáng lập. Ông trở
thành Hoàng đế dưới danh hiệu Lê Thái Tổ (1428-1433), được một nhà nho,
nhà văn, nhà chiến lược, nhà chính khách tài ba là Nguyễn Trãi giúp đỡ. Lê
Lợi đã điều hành một cuộc chiến tranh giải phóng quốc gia thật mẫu mực,
cho đến ngày nay, triều đại ông lập nên vẫn còn là một trong những triều đại
được hâm mộ và có tiếng tăm lừng lẫy nhất. Nhưng các vua Lê còn làm
được những việc hơn thế nữa, bằng Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh
Tông (1470 - 1497) soạn thảo, các vua Lê đã thể nghiệm và xác định được vị
trí "con người Việt" trong tổng thể các mối quan hệ xã hội". Cụ thể, Bộ luật
Hồng Đức đã thể hiện sâu sắc tư tưởng "Lấy dân làm gốc" của dân tộc ta,
trong "Điều 294: Trong kinh thành và phường ngõ, làng xóm có kẻ ốm đau
mà không ai nuôi, nằm ở đường xá, cầu điếm, chùa quán thì xã quan ở đó
phải dựng lều lên mà chăm sóc họ cơm cháo, thuốc men, cốt sao cứu sống
họ. Nếu không may mà họ chết thì phải trình quan trên và tổ chức chôn cất,
không được để lộ thi hài. Nếu phạm tội này thì quan làng xã bị tội biếm hay
bãi chức". Tính chất nhân đạo - "Thân dân" được nêu trong điều này của Bộ
luật Hồng Đức chỉ xuất hiện ở châu Âu mấy thế kỷ sau đó, khi nổ ra cách
mạng tư sản .
Như vậy, tư tưởng thân dân đã tồn tại rất lâu đời, gắn liền với các trang sử
trọng đại của dân tộc ta, nó được xem là một truyền thống tốt đẹp của cả dân
tộc. Nó bắt nguồn từ truyền thống nhân nghĩa của con người, từ những giá
trị tốt đẹp đúc kết từ thực tiễn.
2. Tìm hiẻu chung về tư tưởng thân dân
a/ Thân dân là gì?
Tuy mỗi thời đại, mỗi dân tộc có một cách nhìn nhận khác nhau về tư
tưởng thân dân. Nhưng nhìn chung chúng ta có thể nhận thấy điểm chung
của tư tưởng thân dân đó là: Đây là một tư tuởng tiến bộ, coi trọng vai trò
của nhân dân, lấy dân làm gốc, gần gũi, chia sẻ khó khăn, đau khổ cùng
nhân dân, tiếp cận nhân dân dưới góc độ xem nhân dân là sức mạnh của cả

nguyện vọng của nhân dân đã được khẳng định là điều quan trọng hàng đầu
trong đạo trị nước. Trong bài văn lộ bố khi đánh Tống của Lý Thường Kiệt
có viết: "Trời sinh ra dân chúng; vua hiền tất hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt
ở nuôi dân". Rồi đến bài Minh bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn đã ca
ngợi công đức của Lý Thường Kiệt: "...làm việc thì siêng năng, sai bảo dân
thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ
yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng... Thái úy biết dân lấy sự
no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ.
Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng đến người già ở nơi thôn dã,
cho nên người già nhờ đó mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là
cái gốc trị nước; cái thuật yên dân; sự đẹp tốt đều ở đấy cả". Và một khi việc
bồi dưỡng sức dân, chăm lo đời sống nhân dân có một tầm quan trọng như
vậy trong đạo trị nước, thì cũng dễ dàng trở thành một tiêu chuẩn chính trị
để nhà vua dựa vào đó mà tự răn mình.
Bên cạnh đó, thân dân còn có ý nghĩa, toàn dân không phân biệt vua tôi,
cao thấp chung sức, chung lòng xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao
đời sống nhân dân, góp phần bảo vệ tổ quốc.
II- TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG TRƯỚC
HỒ CHÍ MINH
1/ Dòng tư tưởng Nho giáo
Tư tưởng Nho Giáo từng là căn bản văn hóa của dân Việt từ thời lập quốc
và hợp với Lão Giáo, Phật Giáo và rồi với nền văn hóa Tây Phương thành
nền nếp, kỷ cương người Việt ngày nay. Người Việt rất trọng nhân nghĩa,
thủy chung và đối tượng của nhân nghĩa chính là người dân. Từ xưa đến
nay, những áng văn thư lịch sử nổi tiếng vẫn nhắc nhở chính quyền luôn lấy
dân làm gốc và đề cao vai trò của người dân.
Dòng tư tưởng Nho Giáo nổi tiếng với các đại diện tiêu biểu đó là: Khổng
tử, Mạnh tử và Tuân tử. Trong đó, Khổng Tử là một học giả học rộng, nhớ
nhiều, là nhà tư tưởng vĩ đại; tư tưởng của người đã gây ảnh hưởng lớn đến
thế hệ sau này. Ông được xem là ông tổ của Nho giáo. Mạnh Tử là học trò

văn chương,…
Nguyễn Trãi sinh ra trong thời kỳ “binh đao loạn lạc” chiến tranh, tranh
chấp chính trị giữa các triều đại diễn ra liên miên vì vậy tư tưởng của ông
mang nặng tính nhân nghĩa, lòng thương dân. Bên cạnh đó, do chịu sự ảnh
hưởng của nhiều luồng tu tưởng khác nhau: Nho giáo, Phật giáo, Lão .. nên
tư tưởng của ông có những nét khá riêng biệt.
Tư tưởng “thân dân” của ông thể hiện chủ yếu qua tư tương nhân nghĩa, với
Nguyễn Trãi, trước hết “Nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Ông coi trọng vai trò
của nhân dân đối với đất nước, xem nhân dân là gốc. Cuộc đời Nguyễn Trãi,
trừ những năm ông sống ở Thăng Long và Côn Sơn, là cuộc sống của một
Nho sĩ nghèo, thiếu thốn, mười năm cùng Lê Lợi chống quân Minh là mười
năm cực kỳ gian khổ. Nguyễn Trãi đã có cuộc sống gần gũi với nhân dân,
hòa mình vào nhân dân, nên ông đã nhìn thấy những đức tính cao quý của
nhân dân, hiểu được nguyện vọng tha thiết của nhân dân và tin vào sức
mạnh vĩ đại của nhân dân. Vì thế, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đậm
đà, sâu sắc, mang nhiều nét độc đáo, rất gần gũi với nhân dân. Đối với
Nguyễn Trãi, “yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân, và
cứu nước là để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người”. Cho nên
không có gì là lạ khi chúng ta thấy Nguyễn Trãi nhắc đến dân rất nhiều lần
trong các tác phẩm của ông . Nguyễn Trãi là người đầu tiên trong lịch sử
Việt Nam nói đến “dân đen con đỏ” một cách tha thiết, cảm động và chân
thành. Ông viết: “… Bọn có phận sự chăn dắt dân, thì không lấy chữ (phủ
dân) làm cốt yếu, mà chỉ vụ lợi tham nhũng. Bọn tướng suý thì không lấy
chữ (vệ dân) làm cốt yếu, lại đi lộng hành lăng ngược. Cho đến cả bọn hoạn
quan, cũng tha hồ đi vơ vét áp bức lương dân, thu nhặt vàng ngọc. Nguyễn
Trãi thương dân bởi ông thấy dân đã phải chịu nhiều đọa đày dưới sự thống
trị hà khắc của giặc Minh. Trên nhiều trang thư gửi cho các tướng giặc,
Nguyễn Trãi đã thống thiết nói lên điều đó: “Phương Chính, Mã Kỳ chỉ
chuyên làm điều tàn ác, nhân dân khốn khổ, thiên hạ đều oán giận. Chúng
khai quật mồ mả ấp ta, bắt cóc vợ con dân ta, người sống đã bị hại, người

tờ tấu thể hiện tư tưởng "thân dân", bài tấu có đoạn viết: " Thời loạn thì dùng
võ, thời bình thì dùng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc là đúng lúc. Song
không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn hóa thì không thể lưu
hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần phụng
chiếu định ra âm nhạc, không dám không gắng hết tâm lực; song học vấn sơ
sài, nông cạn, sợ trong âm thanh luật khó làm được hài hòa. Dám mong bệ
hạ rũ lòng thương yêu mà chăn nuôi muôn dân, khiến trong thôn cùng, xóm
vắng không còn một tiếng hờn giận, oán sầu, đó là cái gốc của nhạc vậy.."
Ta thấy được lòng thương yêu dân của ông qua đoạn tấu trên. Có thể nói tư
tưởng thân dân của Nguyễn Trãi là lòng yêu thương dân chúng, quan hệ gần
gũi với nhân dân và đặc biệt là coi trọng vai trò của nhân dân.
III-/ TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA HỒ CHÍ MINH
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn gần gũi với dân,
sống vì dân, thấu hiểu tâm trạng quần chúng và phấn đấu quên mình để
đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân. Là lãnh tụ của Đảng, của dân tộc và
nhân dân, Hồ Chí Minh đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta thành một Đảng
cách mạng chân chính, sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là nước
công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra thời đại mới trong lịch sử dân tộc.
Sau khi tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho nhân dân Việt
Nam, Người đã không ngừng phấn đấu cho mục tiêu: Dân tộc độc lập, dân
quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Hồ Chí Minh còn thể hiện sự nhất quán
giữa lời nói và việc làm, gắn lý luận với thực tiễn, nói ít làm nhiều, lấy hành
động làm chủ yếu. Các bài nói và viết đều nhằm hướng dẫn quần chúng, cổ
động phong trào nên rất dễ hiểu, giản dị, cốt để cho quần chúng hiểu đúng
và làm đúng. Mọi suy nghĩ và hành động của Bác đều hướng tới nhân dân,
đem lại lợi ích cho quần chúng. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên:
Việc gì có lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân phải hết sức
tránh; phải đặt lợi ích quần chúng nhân dân lên trên hết, trước hết; phải
gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân; phải làm kiểu mẫu cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư. Đó là những điều căn bản nhất trong quan niệm về

dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc
của dân. Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân... Không có dân tham gia,
dân ủng hộ thì việc dễ cũng thành khó, có dân thì có tất cả việc khó mấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status