A. Phần mở đầu
Trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình xây dựng và phát triển đất nước,
nhân dân luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng. Từ khi đất nước được hình
thành, nhân dân là những người đặt nền móng đầu tiên, giúp đất nước có đủ
kiều kiện tồn tại và được công nhận. Hình thành thôi chưa đủ mà quá trình
phát triển của đất nước mới thực sự là chặng đường dài. Một đất nước hưng,
thịnh, suy, yếu cốt là ở dân. Nếu cho rằng bộ máy lãnh đạo có vai trò đặc biệt
quan trọng, đây là những người lãnh đạo, người khởi xướng, chính những
người này đứng đầu một đất nước, đưa ra những quyết định, những chủ
trương, chính sách để phát triển đất nước theo kế hoạch đã định sẵn nhưng
những chủ trương chính sách đó phải hợp lòng dân, phải phù hợp với điều
kiện của dân, phải giúp cho cuộc sống của dân được tốt hơn mới thực sự làm
đất nước phát triển được. Từ xưa đến nay, luôn tồn tại quan điểm, dân có giàu
nước mới mạnh. Người dân phải được sống ấm no, đầy đủ mới có thể dồn
tâm trí vào lao động, làm việc, đưa đất nước tiến thêm những bước mới trên
chặng đường vươn ra với thế giới. Hiểu được tầm quan trọng của nhân dân,
các vị lãnh tụ, người lãnh đạo đất nước ta từ trước đến giờ luôn coi trọng dân,
coi tư tưởng thân dân làm gốc, phải luôn gắn chặt với dân, hiểu dân mới có
được lòng dân, mới tìm ra cách tốt nhất đưa đất nươc phát triển. Bởi những
điều lệ, chính sách mà người đứng đầu đưa ra âu cũng chỉ là lý thuyết, việc
thực hiện nó nằm hoàn toàn ở dân, định hướng có cải thiện cuộc sống của
dân, giúp dân được sống yên bình mới thực sự có hiệu quả, nhân dân mới dồn
hết sức đóng góp cho hoạt động của đất nước. “Chèo thuyền cũng là dân, lật
thuyền cũng là dân”, dù việc có dễ nhưng không được dân ưng thuận cũng
không thể thực hiện suôn sẻ được, nhưng việc có khó khăn, vất vả nhưng dân
chúng một lòng ủng hộ, nghe theo thì với sức dân to lớn có thể vượt qua được
mọi sóng to gió lớn, mọi cửa ải, đánh tan mọi kẻ thù để đi tới bến bờ tốt đẹp.
Tư tưởng thân dân là dòng tư tưởng tiến bộ của Nho gia thời Xuân Thu-
Chiến quốc của Trung Quốc trong đó những đại biểu lỗi lạc là Khổng Tử,
Mạnh Tử, Tuân Tử, theo đó phải luôn quý trọng, quan tâm tới đời sống của
nhân dân. Tư tưởng thân dân cũng đã ăn sâu vào tâm khảm các vị vua, bậc
viên là đầy tớ của nhân dân. Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính,
chí, công, vô tư là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân
dân, của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết là thân dân. Thân dân biểu hiện ở
việc cán bộ, đảng viên thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi do pháp luật quy định,
tức là phải trung thành với mục tiêu lý tưởng, với chính sách, pháp luật của
nhà nước, phải lắng nghe và dựa vào quần chúng nơi cơ quan để xây dựng
quy chế làm việc, quy chế dân chủ cơ sở…, phải luôn đề cao trách nhiệm vì
dân để giải quyết nhanh chóng, kịp thời những chế độ, chính sách liên quan
đến người dân, thận trọng xem xét các vấn đề liên quan đến quyền lợi của các
tầng lớp nhân dân.
2. Tư tuởng thân dân của các bậc tiền bối
Dân tộc Việt Nam trong lịch sử đã từng trải qua biết bao thăng trầm, bao lần
bị đặt trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, muốn tồn tại, dân ta đã không ngại
hi sinh máu xương để bảo vệ quê hương, đất nước, bảo vệ truyền thống tốt
đẹp của dân tộc từ thuở khai thiên lập địa. Quan điểm nhân nghĩa, thủy chung
đã thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của những vị lãnh đạo. Các bậc vĩ nhân thời
xưa luôn coi trọng tư tưởng nhân nghĩa, bao trùm lên cuộc đời, ảnh hưởng tới
suy nghĩ và hành động của họ. Phải kể đến trước hết là Nguyễn Trãi- một lãnh
tụ kiệt xuất của dân tộc, với ông nhân nghĩa là thương dân, vì dân, an dân,
nhân nghĩa là sự khoan dung, độ lượng, là lý tưởng xây đựng đất nước thái
bình. Nhân nghĩa với Nguyễn Trãi là một tư tưởng, là một trong những quan
điểm nền tảng trong hệ thống tư tưởng của ông, tư tưởng đó được nhắc đến
trong hầu hết các tác phẩm ông viết. Tuy rằng tư tưởng của Nguyễn Trãi có
2
kế thừa tư tưởng của Khổng- Mạnh nhưng vẫn mang ý nghĩa tích cực, mở
rộng hơn. Nhân nghĩa trong quan điểm của Nguyễn Trãi được thể hiện “việc
nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo”, “ dùng quân nhân
nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”, trước hết phải gắn chặt với vì dân và an
dân. Nguyễn Trãi coi an dân là mục đích của nhân nghĩa và trự bạo là đối
tượng của nhân nghĩa, nhân nghĩa là phải đấu tranh cho dân tộc Việt Nam tồn
quyền phải quan tâm, đề cao vai trò của nhân dân. Năm 1010 khi chuyển dời
kinh đô từ Hoa Lư về Đại La, Lý Công Uẩn đã viết “Chiếu dời đô” trong đó
có ghi “Ngày xưa nhà Thương đến Bành Canh là 5 lần dời đo, nhà Chu đến
Thành Vương là 3 lần dời đô, há phải là các vị vua thời tam đại ấy tự dời đô
theo ý riêng đâu, mà là mưu chọn chỗ ở trung tâm, giữ mối giềng muôn đời
cho con cháu, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ thích hợp thì
dời đổi. Bởi thế ngôi truyền dài lâu, xã tắc hưng thịnh…” Nhà vua làm điều
3
gì, nhất là thay đổi có ảnh hưởng tới tương lai của dân tộc, của nhân dân đều
phải cân nhắc chín chắn và quyết định thay đổi vì lợi ích chung của toàn dân.
Thời nhà Trần, Trần Quốc Tuấn đã trông cậy vào sức mạnh của toàn dân mà
thắng được giặc Nguyên, tư tưởng của ông đã được cô đọng lại “Dựa vào sức
dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước”. Trước thế
mạnh của quân Nguyên mà gót chân của đạo quân thiện chiến này từng đạp
đổ thành trì bao nhiêu nước từ Á sang Âu, Trần Quốc Tuấn đã tự tin vào tài
thao lược của tướng sĩ nhà Nam và dựa vào sức mạnh đoàn kết của dân tộc để
ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Trước một quyết định quan trọng đến
vận mệnh dân tộc, nhà Vua cùng các cấp lãnh đạo chẳng tự ý định đoạt mà
triệu tập Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than hỏi ý kiến muôn dân từ
bậc bô lão đến người niên thiếu để thống nhất ý chí toàn dân. Cụ Trạng trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói:
“Cổ lai quốc dĩ dân vi bản
Đắc quốc ưng tri tại đắc dân”
(Từ xưa đến nay, nước luôn lấy dân làm gốc
Được nước nên biết là nhờ được lòng dân)
Một trong những hình ảnh thể hiện sự thân dân rõ nhất trong thời xưa đó là
việc vua đi cày ruộng, tham gia lễ tịch điền cùng với người nông dân. Nước ta
là nước nông nghiệp, vua đã biết chăm lo đến nghề nông thật là nên thay. Hơn
nữa, như người xưa đã nói hành động có công hiệu hơn ngàn lời nói, chẳng
thế mà kỉ cương phép nước giữ vững, đất nước vững vàng, kinh tế cực phát
lẫy, các vua Lê còn làm được nhiều việc hơn thế, vua Lê Thánh Tông soạn
thảo bộ luật Hồng Đức, các vua Lê đã thể nghiệm và xác định được vị trí con
người trong tổng thể các mối quan hệ. Bộ luật Hồng Đức đã thể hiện sâu sắc
tư tưởng “lấy dân làm gốc”. “Trong kinh thành và phường ngõ, làng xóm có
kẻ ốm đau mà không ai nuôi, nằm ở đường sá, chùa quán thì xã quan ở đó
phải dựng lều lên mà chawmc sóc, cơm cháo, thuốc men cốt sao cứu sống họ,
nếu không may họ chết phải trình lên quan trên và tổ chức chôn cất, không
được để lộ thi hài, nếu phạm tội này thì quan làng xã bị tội hay bãi chức”.
Thương nước tức là thương dân, đối với văn hóa truyền thống của Việt Nam,
lòng thương dân của nhà vua xuất phát từ đức thương người mà thương người
thì trước hết những nhà lãnh đạo phải sống trọn đạo làm người, phải đối nhân
xử thế, tu thân tề gia trước khi trị quốc, bình thiên hạ.
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử Việt Nam có
những bước chuyển đổi hết sức to lớn. Thực dân Pháp xâm lược và biến nước
ta thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. chế độ phong kiến Việt Nam cùng
hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc
chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, nhiều nhà yêu
nước tiêu biểu, từ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch đến Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh… đã thực hiện một bước chuyển tư tưởng
chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đặng Huy Trứ đã đề xuất những tư tưởng
canh tân đất nước. Trong tư tưởng của ông, quan niệm về dân là một nét mới
nổi bật trong tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông coi “dân là
gốc của nước, là chủ của thần”, “khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc. Bồi
bổ cái gốc đó mới là thầy thuốc giỏi”. Các nhà tư tưởng như Đặng Huy Trứ,
Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đã nắm bắt được xu thế đó và bước
đầu tạo ra một bước chuyển trong tư tưởng chính trị, từ tư tưởng quân chủ
sang tư tưởng dân chủ, từ vương quyền sang dân quyền. Về mục đích Cách
mạng, các nhà tư tưởng đều thống nhất mục đích là cứu nước, cứu dân, giành
độc lập dân tộc. Phan Bội Châu viết “lấy việc cứu quốc làm chủ nghĩa, cho
nên muốn cho nước ta độc lập; lại lấy việc cứu dân làm chủ nghĩa, cho nên
phúc. Phan Bội Châu cho rằng phải xóa bỏ chính thể quân chủ, xây dựng
chính thể dân chủ cộng hòa gồm có ba việc do dân làm chủ, quyền lực ở nơi
dân và được thực hiện thông qua các đại biểu, mọi việc do dân định liệu. Ông
viết “Bao nhiêu việc đều do công chúng quyết định. Phàm nhân dân nước ta
không cứ là sang hè, giàu nghèo, lớn bé đều có quyền bỏ phiếu bầu cử”, Phan
Bội Châu coi cái gốc tạo nên họa phúc của nhân dân chính là ở nền chính trị.
3. Hồ Chí Minh đã thực hiện và phát triển tư tuởng thân dân
Tiếp nhận dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc và thời đại, Hồ Chí
Minh đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân, không chỉ dừng lại
ở đó, Người còn luôn tôn trọng, tin tưởng và đặt lợi ích của nhân dân lên trên
hết. Chính vì vậy cả cuộc đời của Người chỉ có một ham muốn tột bậc là là
làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Theo Hồ Chí
Minh: dân là gốc của nước, dân là người đã không tiếc máu xương để xây
dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước, nước do
dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của
6
nước. Dân như nước, cán bộ như cá, cá không thể sinh tồn và phát triển được
nếu như không có nước. Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống
đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Bác đã thẳng thắn phê phán
nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao khi xuống cấp dưới triển khai công việc thì
khệnh khạng như ông quan và nội dung truyền đạt thì rất đại khái, hình thức
vì vậy mà quần chúng không hiểu và rất sợ đi họp. Đó là bệnh xa quần chúng,
bệnh hình thức, không phải vì lợi ích của quần chúng. Là người phục vụ nhân
dân, cán bộ Đảng, nhà nước đồng thời là người lãnh đạo, người hướng dẫn
của nhân dân. Người không bao giờ đối lập vai trò người lãnh đạo với người
đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ của Đảng và Nhà nước mà
trái lại Người yêu cầu phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo,
vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Thân dân, coi dân là gốc là
đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự đặt
7
không phải là để hạ mình cho khổ sở mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo
cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Trong trang phục hàng
ngày của Bác có lẽ ấn tượng nhất phải kể đến đôi dép cao su và bộ quần áo
ka-ki, đôi dép được Bác dùng hơn 20 năm đến khi mòn gót phải lấy một
miếng cao su khác vá vào, các qui hay bị tuột phải đóng đinh giữ, còn bộ
quần áo ka-ki Bác mặc đến khi bạc màu, sờn cổ áo. Những người giúp việc
xin Bác thay bộ quần áo mới thì Bác nói: “Bác mặc như thế phù hợp với hoàn
cảnh của dân, của nước, không cần phải thay”. Nơi ở của Bác cũng hết sức
giản dị, những nơi ở từ Pác Bó đến Phủ Chủ tịch là một phần trong cuộc sống
đời thường của Bác. Ngôi nhà vừa là nơi Bác ở, làm việc, tiếp khách, đồ dùng
trong phòng rất giản dị, tiện lợi. Bác không muốn sống xa cách cuộc sống của
nhân dân.
Bác sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nhưng là nhà ngo có
nguồn gốc từ nông dân. Từ tấm bé Bác sống giữa những người nghèo khổ ột
nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ của những người
nông dân, việc nhà nông với Bác không có gì xa lạ. Cùng đổ mồ hôi với
người nông dân mới quí hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến
cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau
khi giành được chính quyền, tuy bận trăm công nghìn việc Bác vẫn dành
nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt mà
còn trực tiếp xuống các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông
Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trựa tiếp xuống kiểm tra
việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa
phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn. Khi đắp đê xong bác
xuống thăm, Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ,
Người nhắc nhở phải tăng cường gia cố mới an toàn, Bác khen đắp nhanh
nhưng chưa lèn chặt, cần tăng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo
đảm lâu dài. Hậu quả nạn đối năm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên
cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó