A. M BI
Tip nhn dũng chy vn hoỏ truyn thng ca dõn tc v thi i, H
Chớ Minh ó sm nhn thc c vai trũ to ln ca nhõn dõn. Khụng ch
dng li ú, Ngi cũn luụn tụn trng, tin tng v t li ớch ca nhõn
dõn lờn trờn ht, trc ht. Chớnh vỡ vy, c cuc i ca H Chớ Minh ch cú
mt ham mun, ham mun tt bc, l lm sao cho nc ta c hon ton c
lp, dõn ra c hon ton t do, ng bo ai cng cú cm n, ỏo mc, ai
cng c hc hnh.
Với tấm lòng yêu nớc nồng nàn, Hồ Chủ Tịch đã sớm đến với chủ nghĩa
Mác- LêNin ánh sáng soi đờng cứu dân, cứu nớc Ng ời là linh hồn, là ngọn cờ
chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến
đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của tổ quốc ta. Dân tộc ta,
nhân dân ta, non sông đất nớc đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, ngời anh hùng dân tộc vĩ
đại và chính Ngời đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nớc
ta
Sinh thi, Bỏc H ó tng núi: Chỳng ta cú trng dõn, yờu dõn, kớnh
dõn thỡ dõn mi yờu ta, kớnh ta. Tụn trng v tin tng nhõn dõn l tụn
trng v tin tng nhng ngi lm ra lch s, nhng ngi sỏng to ra ca
ci, vt cht, nhng ngi c sỏnh vi Tri, t "Trong bu tri khụng cú
gỡ quý bng nhõn dõn". T tng yờu nc, thng dõn, trng dõn, sut i
vỡ cỏch mng, vỡ nhõn dõn m hy sinh phn u, khụng ham danh li, vi
mt li sng chõn thc, gin d, khiờm nhng ca Bỏc H l tm gng
o c vụ cựng trong sỏng ton ng, ton dõn, ton quõn chỳng ta hc
tp v noi theo.
Qua ú ta cú th thy c phn no t tng "thõn dõn" ca Ngi.
Trong thi i H Chớ Minh, nhng giỏ tr vn húa chớnh tr yờu nc, thng
dõn, ly dõn l gc c soi sỏng v phỏt trin rc r, tr thnh chõn lý khoa
hc, kim ch nam cho hnh ng. Thõn dõn, luụn coi dõn l gc l o c
cỏch mng ca cỏn b, ng viờn.
1
Để thấy rõ được tư tưởng "thân dân" thấm nhuần trong quá trình lãnh
là "khoan thư sức dân làm kế rễ bén gốc". Đó là điều kiện tiên quyết để chiến
thắng kẻ thù. Ông đã thấy vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với
vĩ nhân trong lịch sử. Trần Quốc Tuấn nói: "Chim hồng học bay được cao là
nhờ ở sáu cái lông cánh, nếu không có sáu cái lông cánh ấy thì cũng như chim
thường thôi". Như vậy, anh hùng xuất chúng làm nên nghiệp lớn là nhờ sự
ủng hộ của quần chúng nhân dân tộc.
Thấy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong việc giữ
nước, cho nên ngay từ thời Lý việc chăm lo đời sống nhân dân, quan tâm đến
nguyện vọng của nhân dân đã được khẳng định là điều quan trọng hàng đầu
trong đạo trị nước. Trong bài văn “Lộ bố” khi đánh Tống của Lý Thường Kiệt
có viết: "Trời sinh ra dân chúng; vua hiền tất hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở
nuôi dân". Và một khi việc bồi dưỡng sức dân, chăm lo đời sống nhân dân có
một tầm quan trọng như vậy trong đạo trị nước, thì cũng dễ dàng trở thành
một tiêu chuẩn chính trị để nhà vua dựa vào đó mà tự răn mình. Năm 1207,
vua Lý Cao Tông đã hạ chiếu rằng: "Trẫm còn bé mà phải gánh vác việc lớn,
ở tận nơi cửu trường, không biết cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời tiểu
nhân là gây nên oán với kẻ dưới. Dân đã oán thì trẫm còn biết dựa vào ai?
Nay trẫm sẽ sửa lỗi cùng dân đổi mới" (theo Đại Việt sử ký toàn thư).
Với tinh thần khoan dung nói trên, nhà Lý đặt chuông lớn ở Long Trì
để dân "ai có điều oan ức không bày tỏ được" thì đến đánh chuông tâu vua.
Nhà Lý còn dựng cung Long Đức ở ngoài Hoàng thành, trong khu vực phố
phường cho Hoàng thái tử ở, để có điều kiện "gần dân và xem xét việc dân" .
Hay trước họa xâm lăng của đế chế Mông - Nguyên, nhà Trần mở hội nghị
Diên Hồng để cùng các vị bô lão - những người đại biểu đầu bạc có uy tín của
dân - bàn kế đánh giặc. Trong ngày hội non sông đó, các bô lão đã nói lên
3
tiếng nói của toàn dân "muôn người như một" là "quyết đánh". Điều đó cho
thấy, thời Lý - Trần, sự quan tâm đến dân được đề ra như một vấn đề khẩn
thiết của đạo trị nước, nhưng vấn đề đó lại được coi là một yếu tố của khái
niệm đức trị. Bởi thời đó quan niệm rằng, vua mà có đức và biết sửa đức thì
nhắc đến Ông, người ta thường nói đến tư tưởng nhân nghĩa. Tư tưởng đó
được thể hiện trên nhiều tác phẩm chủ yếu và tiêu biểu của ông, như: Quân
trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa
chí.
Theo đó, tư tưởng nhân nghĩa trong quan điểm của Nguyễn Trãi, trước
hết được gắn chặt với tư tưởng vì dân và an dân: “việc nhân nghĩa cốt ở an
dân”, “dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”, “đại đức hiếu
sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân”. Như
vậy, nhân nghĩa chính là yêu nước, thương dân, là đánh giặc cứu nước, cứu
dân. Nguyễn Trãi đã coi “an dân” là mục đích của nhân nghĩa và “trừ bạo” là
đối tượng, là phương tiện của nhân nghĩa.
Như vậy, với Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa gắn kết biện chứng với
tư tưởng thuận dân, an dân là một yêu cầu cao, một hoài bão lớn, một mục
đích chiến lược cần phải đạt tới. Tư tưởng an dân, Nguyễn Trãi đưa ra một
chân lý, đó là: phải giương cao ngọn cờ “nhân nghĩa, an dân”, phải cố kết
lòng dân làm sức mạnh của nước, làm thế nước. Ông chủ trương cứu nước
bằng sức mạnh của dân, muốn lấy lại được nước phải biết lấy sức dân mà
kháng chiến. Đó là một chiến lược bất khả biến, có tính trường tồn, một quy
luật dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Và một khía cạnh rất đáng
quý trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng trọng dân, biết ơn
dân. “Dân chúng” vẫn luôn được ông nhắc tới và chú ý đề cao ngay cả sau khi
kháng chiến đã thành công, đất nước đã giành được độc lập và bước vào xây
dựng cuộc sống mới. Nguyễn Trãi nhận thức được rằng lực lượng làm ra thóc
gạo, cơm ăn, áo mặc là do ở nhân dân; rằng điện ngọc cung vàng của vua
5
chúa cũng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà có: “thường nghĩ quy
mô lớn lao, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân”. Chính xuất phát từ suy
nghĩ như vậy, nên khi đã làm quan trong triều đình, được hưởng lộc của vua
ban, Nguyễn Trãi đã nghĩ ngay đến nhân dân, những người dãi nắng dầm
mưa, những người lao động cực nhọc. Ông viết: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”.
của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất
nước. Nước không có dân thì không thành nước. Nước do dân xây dựng nên,
do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước. Nhân dân đã
cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực lượng của Đảng có lớn
mạnh được hay không là do dân. Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng
là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Dân như nước, cán bộ như cá.
Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước. Nhân dân là
lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Do vậy, nếu
không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính
phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải
tin ở dân, gần gũi dân, và biết dựa vào dân; Phải có ý thức rõ “dân chúng rất
khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng”. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn
biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức
mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên
“phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì
nhất định thất bại”. Cán bộ đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học
hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt
phải có nhiệt thành, có quyết tâm”.
Cũng theo Người, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần
làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề dân là gốc. Người thường nói: “Chế độ
ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”. Vậy quyền hạn, nghĩa vụ của
7