So sánh tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh và một số tiền bối thời kì trước - Pdf 87

MỤC LỤC
Mở đầu ....................................................................................................... 2
I- Tư tưởng thân dân của các vị tiền bối trước Hồ Chí Minh .................... 3
1. Thân dân theo tư tưởng thời phong kiến ............................................. 3
1.1 Thân dân theo Nguyễn Trãi ............................................................... 5
1.2 Thân dân theo Quang Trung – Nguyễn Huệ ...................................... 6
2. Tư Tưởng thân dân của các bậc tiền bối cuối thế kỷ XIX – đầu XX 7
2.1 Phan Bội Châu(1867- 1940) ............................................................. 7
2.2 Phan Chu Trinh ................................................................................. 8
II- Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh ...................................................... 9
1. Quan điểm về “nhân dân” của Hồ Chí Minh ...................................... 9
2. Tư tưởng “thân dân” của Hồ Chí Minh ............................................. 10
III- Việc áp dụng tư tưởng thân dân trong Đảng và Nhà nước ta ........... 14
1. Đã thực hiện tốt .................................................................................... 14
2. Những hạn chế ...................................................................................... 16
Kết luận ................................................................................................... 18
1
Mở đầu
Đất nước Việt Nam ta trải qua hàng nghàn năm văn hiến. Trong bề dày lịch
sử đã phải đấu tranh chống lại rất nhiều giặc ngoại xâm từ phương Bắc cũng như
phương Tây. Với những chiến công lừng lẫy của các vị anh hùng đã đưa nước ta
trở thành một đất nước độc lập tự do. Những chiến công ấy có được phải kể đến
công lao rất lớn của quần chúng nhân dân, lực lượng quan trọng nhất để có thể
giành thắng lợi. Nhân dân chính là cái gốc, cái rễ của mọi chiến công, trên cả
chiến trường cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước.
Từ các vị anh hùng thời phong kiến như Quang Trung – Nguyễn Huệ,
Nguyễn Trãi đến các nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã rất coi
trọng vai trò của quần chúng nhân dân. Đặc biệt vai trò đó được khẳng định rõ
nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người luôn nhắc nhở với chính mình và với
các cán bộ rằng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”, “Thân với
dân như hiếu với nước”. Dựa vào lấy dân làm gốc, Người đã dẫn dắt dân tộc ta

sản xuất, phải hiểu cải tạo lý "có đức thì có người, có người thì có đất (nước), có
đất nước thì có của, có của thì có dùng. Vì hiểu như vậy cho nên Minh Mạng,
một ông vua chuyên chế điển hình luôn luôn lấy nguyên tắc "dân vi bang bản" ra
đốc thúc quan lại làm việc, tất nhiên Minh Mạnh nhắc điều đó và cũng nhấn
mạnh trách nhiệm lo cho dân, dạy dân là của vua. Và cũng vì vậy mà Bảo Đại ,
sau đảo chính Nhật dám đưa "dân vi quý" làm nguyên tắc hiến cho "đế quốc".
3
Dân, người bị trị, được quan tâm, được yêu thương, được tôn trọng nhưng là
thuộc về vua, người cai trị, người có chủ quyền. Đó là quan điểm dân của Nho
gia.
Quan điểm "dân" của Nho gia hình thành rất sớm, trải qua đấu tranh gay
gắt với Mặc gia và Pháp gia, được ổn định và chế độ chuyên chế thừa nhân là
đạo lý, làm tinh thần lập pháp. Quan điểm đó vốn ra đời theo tinh thần "tôn
Chu", lấy xưa làm thầy nghĩa là noi theo truyền thống. Theo tư tưởng truyền
thống đó, người dân phải sống theo mệnh Trời và mệnh vua. Vua là bậc "thánh
nhân" có đạo đức, được trời lựa chọn, giao cho trị nước, trị dân nên tự xưng là
"thiên tử". Vua theo mệnh trời thực hiện sự thống nhất tức là lập ra một trật tự
trên dưới quy tụ tất cả vào một người là thiên tử. Chỗ dựa để trị nước là họ hàng
và người thân tín (thân cựu), làm vua không chỉ là làm kẻ bề trên, kẻ cầm đầu
mà còn là kẻ làm cha mẹ, kẻ làm thầy của dân. Thiên Thái Thế trong Kinh Thư
nói: "Trời thương hạ dân đặt vua cho họ, đặt thầy cho họ". Cho nên dân không
phải là cái vua có, vua chiếm được - một thứ của cải, súc vật mà là những con
người được uỷ trị, và vì vậy trị dân không phải bằng hình phạt mà bằng đức,
bằng lễ, bằng giáo hoá. Trong thực tế thì sự tập trung tuyệt đối quyền hành vào
thiên tử, đường lối dựa vào họ hàng và kẻ thân tín, sự phân biệt quân tử, tiểu
nhân - người cai trị và kẻ lao động – trong xã hội làm nổi bật sự bất công vô lý.
Mặc gia và Pháp gia là những học phái chống tư tưởng trên mỗi bên theo
một phía. Mặc Tử cũng chủ trương một chính quyền có hiệu lực và tập trung,
nhưng lại phản đối sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội. Mặc tử lên án
"Vương công đại nhân" "bóc lột, sống dựa vào sức của "nông phu chức phụ"

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (1)
(Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi)
Nhân nghĩa, trong quan điểm của Nguyễn Trãi, trước hết được gắn chặt với
tư tưởng vì dân và an dân: “dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”,
5
“đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an
dân”. Như vậy, nhân nghĩa chính là yêu nước, thương dân, là đánh giặc cứu
nước, cứu dân. Nguyễn Trãi đã coi “an dân” là mục đích của nhân nghĩa và “trừ
bạo” là đối tượng, là phương tiện của nhân nghĩa. Đặc biệt, có một khía cạnh rất
đáng quý trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng trọng dân, biết
ơn dân. “Dân chúng” vẫn luôn được ông nhắc tới và chú ý đề cao ngay cả sau
khi kháng chiến đã thành công, đất nước đã giành được độc lập và bước vào xây
dựng cuộc sống mới. Nguyễn Trãi nhận thức được rằng lực lượng làm ra thóc
gạo, cơm ăn, áo mặc là do ở nhân dân; rằng điện ngọc cung vàng của vua chúa
cũng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà có: “thường nghĩ quy mô lớn
lao, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân”. Chính xuất phát từ suy nghĩ như
vậy, nên khi đã làm quan trong triều đình, được hưởng lộc của vua ban, Nguyễn
Trãi đã nghĩ ngay đến nhân dân, những người dãi nắng dầm mưa, những người
lao động cực nhọc. Ông viết: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. Trong suốt cuộc đời
của mình, Nguyễn Trãi đã có cuộc sống gần gũi, gắn bó với nhân dân, hoà mình
vào nhân dân. Do đó, ông đã nhận thấy rất rõ những đức tính cao quý của nhân
dân, hiểu được nguyện vọng tha thiết của nhân dân, thấy rõ được sức mạnh vĩ
đại của nhân dân trong sáng tạo lịch sử.Tóm lại, trong tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi, cái cốt lõi nhất chính là “nhân dân”, mọi lí luận đến hành động đều
hướng về tạo dựng cuộc sống an vui, hạnh phúc cho nhân dân.
1.2 Thân dân theo Quang Trung – Nguyễn Huệ
Quang Trung- Nguyễn Huệ (1751 – 1792) là một vị vua có công rất lớn
không chỉ trong cuộc kháng chiến chống quân Mãn Thanh mà còn cả trong nhận
thức tích cực trong cai trị đất nước. Được nhắc đến với một tên gọi khác rất gần
gũi đó là “người anh hùng áo vải”, ông thực sự là một vị vua, vị anh hùng của

Nam, kiến thiết quân chủ lập hiến quốc".
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status