Dàn ý bài viết
A. Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh .
I. Nguồn gốc quan điểm thân dân của Hồ Chí Minh .
II. Quan điểm thân dân của Hồ Chí Minh .
III. So sánh giữa quan điểm thân dân của Hồ Chí Minh và
các bậc tiền bối.
B. Thực tiễn .
I. Nhận thức của Đảng về tư tưởng thân dân .
II. Những hoạt động thực tiễn thể hiện tư tưởng thân dân.
C. Nhận thức của bản thân.
1
Khai triển tư tưởng.
A. Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là người con ưu tú của dân tộc ta. Người sinh ra trong một
gia đình có truyền thống nho học, khoa cử và được tiếp thu một nền giáo
dục Nho học từ người cha, một nhà nho có khí phách là cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929).
Chính từ đây Người đã chắt lọc những giá trị tốt đẹp về tư tưởng nho
học.Một trong những tư tưởng đầy tiến bộ đó là tư tưởng thân dân hay lấy
dân làm gốc.
I. Nguồn gốc quan điểm thân dân của Hồ Chí Minh
1.Tư tưởng thân dân trong Nho giáo.
Khổng Tử - người sáng lập ra Nho giáo với hạt nhân là đường lối “Đức
trị”. Tuy nhiên, phải đến Mạnh Tử đường lối “Đức trị” mới được phát triển
tương đối hoàn chỉnh và trở thành đường lối nhân chính (chính trị nhân
nghĩa).
Khổng Tử quan niệm: “ Làm chính trị( trị dân) mà dung đức( để cảm hóa
dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả(tức
thiên hạ về theo). Tư tưởng “Đức trị” biểu hiện ở quan niệm coi nhẹ chính
hình và giảm bớt sưu thuế cho dân, đề cao vai trò của dân. Dưỡng dân,
theo Khổng Tử trước hết là phai làm cho dân no đủ. Ông coi trọng việc
xuất một đường hướng kinh tế khá hoàn chỉnh nhằm hướng đến cải thiện
đời sống của dân, "nếu bậc quốc trưởng làm cho việc ruộng nương được dễ
dàng (đừng bắt họ làm xâu lúc cày cấy gặt hái) và bớt thuế má cho dân, thì
dân trở nên phú túc... bực thánh nhân cai trị thiên hạ, khiến ai nấy đều có đủ
ruộng và lúa, cũng như họ có đủ nước và lửa vậy. Nếu dân chúng có bề phú
túc về đậu và lúa cũng như họ có đủ về nước và lửa thì họ còn ăn ở bất
nhân làm chi". Với Mạnh Tử giảm bớt tô thuế không chỉ là việc làm có ý
nghĩa đối với dân chúng mà còn là một trong những tiêu chuẩn của người trị
dân theo đường lối nhân chính. Trong đường lối nhân chính ngoài việc lấy
nhân nghĩa làm gốc, coi “dân là quý” , thi hành chế đọ điền địa và thuế khóa
công bằng, Mạnh Tử còn chủ trương phải giảm nhẹ hình phạt và tăng
cường giáo hóa dân.
Tóm lại, đường lối “Đức trị” trong Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử
lấy nhân nghĩa làm gốc, coi trọng vai trò của dân. Học thuyết này chứa đụng
hầu hết các giá trị tinh hoa của Nho giáo tiên Tần và ngày nay vẫn rất cần
được chúng ta tiếp tục nghiên cứu.
2.Tư tưởng thân dân trong các triều đại Việt Nam
Tư tưởng tiến bộ này không chỉ có trong nền Nho học, mà tư tưởng
này còn được thể hiện ở rất nhiều bậc đi trước.
Nếu đọc lại Chiếu dời đô, ta thấy Lý Công Uẩn đã trình bày trước đại
chúng về đạo quản lý đất nước của nhà cầm quyền. Đó là việc triều đình
luôn nhằm mục đích vì nước vì dân, vì lợi ích lâu dài của đất nước, của dân
tộc.
Di chúc Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh "khoan thư sức dân". Nhà cầm
quyền thời bình, nhiệm vụ quan trọng nhất là phải lo cho đời sống của dân,
3
cấm kỵ nhất là làm cho dân thêm khổ cực, có như vậy thì vào thời chiến mới
đủ người, đủ của, đủ ý chí để bảo vệ biên cương. Cho nên, khi chiến thắng
rồi các triều Lý - Trần không bắt dân lên núi xẻ đá, vào rừng đẵn gỗ, xuống
biển mò ngọc để xây dựng cung điện, đền đài, lăng tẩm... Bởi Việt Nam
xã quan ở đó phải dựng lều lên mà chăm sóc họ cơm cháo, thuốc men, cốt
sao cứu sống họ. Nếu không may mà họ chết thì phải trình quan trên và tổ
chức chôn cất, không được để lộ thi hài. Nếu phạm tội này thì quan làng xã
bị tội biếm hay bãi chức". Tính chất nhân đạo - "Lấy dân làm gốc" được nêu
trong điều này của Bộ luật Hồng Đức chỉ xuất hiện ở châu Âu mấy thế kỷ
sau đó, khi nổ ra cách mạng tư sản .
Đỉnh cao của tư tưởng coi trọng nhân dân trong thời kì phong kiến phải kể
đến Nguyễn Trãi. Tư tưởng coi trọng nhân dân của ông được thể hiện qua
4
tư tưởng nhân nghĩa. Là một trong những lãnh tụ hàng đầu của nghĩa quân
Lam Sơn và sau đó giữ các chức quan đầu triều của nhà Lê sơ, Nguyễn
Trãi cần phải có quan niệm về vai trò của con người, cách khai thác, phát
huy nguồn lực con người để có thể tiến hành thắng lợi nhiệm vụ chính trị đặt
ra. Tư tưởng của ông về vấn đề này thể hiện trên mấy điểm chủ yếu như
xem dân là gốc của nước, tôn trọng cộng đồng, bồi, dưỡng tư tưởng cộng
đồng.
Nguyễn Trãi nhận thức rất rõ vai trò vả sức mạnh của dân. Dân là số đông,
là lực lượng có vai trò quyết định đối với thắng lợi của kháng chiến, đối với
sự tồn tại hay bị phế truất của một triều đại. Trong Chiếu răn bảo Thái tử,
thay lời vua Lê, ông viết: "Mến người cố nhân là dân, mà chở thuyền và lật
thuyền cũng là dân", "Thuyền bị lật mới tin rằng dân như nước". Từ đó,
Nguyễn Trãi cho rằng mọi chủ trương, đường lối, mọi quan hệ đối xử của
triều đình đều phải căn cứ vào lòng dân. Dân đồng lòng thì có sức mạnh. Vì
vậy, việc gì hợp lòng dân thì làm, việc gì không được dân ủng hộ thì bỏ,
không được trái lòng dân. Để dân đồng lòng, theo Nguyễn Trãi, cần phải cố
kết họ lại bằng tình thương, bằng đối xử công bằng về quyền lợi, chăm lo
đến nguyện vọng, lợi ích chính đáng của họ. Đây là quan niệm rất đúng đắn
của Nguyễn Trãi, mặc dù ông chưa đặt ra được vấn đề mối quan hệ giữa
nghĩa vụ và quyền lợi.
Nhân nghĩa, trong quan điểm của Nguyễn Trãi, trước hết được gắn chặt với
tư tưởng an dân, Nguyễn Trãi đã đưa ra một chân lý: phải giương cao ngọn
cờ “nhân nghĩa, an dân”, phải cố kết lòng dân làm sức mạnh của nước, làm
thế nước. Ông chủ trương cứu nước bằng sức mạnh của dân, muốn lấy lại
được nước phải biết lấy sức dân mà kháng chiến. Đó là một chiến lược bất
khả biến, có tính trường tồn, một quy luật dựng nước và giữ nước của dân
tộc Việt Nam.
Tiếp sau đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Kế thừa tư tưởng nhân đạo của
các thế hệ nhà Nho đi trước, Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ trương một đường lối
vương đạo cho phép khai thác nguồn lực xã hội từ đội ngũ những người
cầm quyền đến sức mạnh dân chúng. Đặc điểm lớn trong đường lối vương
đạo Khiêm là đường lối đó dựa vào nhân nghĩa, lấy nhân nghĩa để cảm hóa,
tập hợp mọi lực lượng xã hội chứ không dựa cả vào Tam cương, Ngũ
thường để ràng buộc con người.
Đường lối nhân nghĩa của Nguyễn Bỉnh Khiêm có lập trường thân dân, coi
dân là gốc của nước. Kế thừa tư tưởng của người xưa ông viết: "Trời sinh
ra chúng dân, sự ấm no ai cũng có lòng mong muốn cả" (Duy thiên sinh
chúng dân, Bão noãn các hữu dục). "Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc,
nên biết rằng muốn giữ được nước, cất phải được lòng dân" (Cổ lai quốc dĩ
dân vi bản. Đắc quốc ưng tri tại đắc dân - Cảm hứng).
Làm thế nào để có dân làm gốc, để được lòng dân là vấn đề không đơn
giản, không phải lúc nào người cầm quyền cũng có thể thực hiện được.
Dưới chế độ tư hữu phong kiến, lợi ích vật chất gắn liền với địa vị, điều đó
dễ làm cho các bậc vua chúa, quan lại lợi dụng chức quyền vơ vét của cải
để làm giàu. Kế thừa tư tưởng người xưa về nguyên lý "tài tụ, nhân tán"
Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên những người cầm quyền rằng muốn có bình trị
thì không được tham lam, đừng vì tiền bạc mà mất đi lòng nhân nghĩa vì
không có nhân nghĩa sẽ mất lòng dân: "Người xưa câu ví đâu có lầm, lấy
thuở dương mà biết thuở âm. Yên bách tính thì yên trị đạo, thất thiên kim
chớ thất nhân tâm". Mặt khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm yêu cầu nhà cầm quyền
phải chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là dân nghèo. Trong bài Cảm
hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của chia sẻ,
đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi suy nghĩ và hành động
đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình
cảm, nguyện vọng của dân.
Tháng 10-1945, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “...Nếu nước độc lập mà dân không hưởng
hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì... Chúng ta phải hiểu
rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là
công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để
đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì
lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.
7
Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung
thành của nhân dân. Theo Người: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng,
Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân
dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”.
Từ thực tế, Bác đã thẳng thắn phê phán nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp
cao, khi xuống cấp dưới triển khai công việc thì khệnh khạng như “ông
quan” và nội dung truyền đạt thì rất đại khái, hình thức, vì vậy mà quần
chúng không hiểu và rất sợ đi họp. Đó là bệnh xa quần chúng, bệnh hình
thức, không phải vì lợi ích của quần chúng.
Việc đặt ra chương trình làm việc, kế hoạch hành động, tuyên truyền, nhiều
cán bộ cũng không hỏi xem quần chúng cần cái gì, muốn nghe, muốn biết
cái gì, “chỉ mấy ông cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà
viết, cứ tưởng những cái mình làm ra là đúng, mình viết là hay. Nào có biết,
cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, không
ăn thua, không thấm thía, không lợi ích gì cả”.
Là người phục vụ nhân dân, cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể đồng thời là
người lãnh đạo, người hướng dẫn của nhân dân. Theo Người: Nếu không