1
CHƯƠNG 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1.
Khái niệm dân tộc ?
Đến với phần đầu của đề tài nghiên cứu, ta sẽ đi sâu tìm hiểu về những
khái niệm dân tộc được Mác- Lênin nghiên cứu, tìm tòi với sự chọn lọc, chắt
chiu để hình thành được khái niệm chung mang tính bao hàm, tổng quan nhất để
tạo tiền đề cho sự ra đời về những xu hướng phát triển và cương lĩnh dân tộc
mang tính thống nhất toàn vẹn về việc giải quyết vấn đề dân tộc trên thế giới.
Với sự phát triển của xã hội loài người, từ những hình thức cộng đồng
người trong xã hội thời xa xưa: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc,.. và cho đến nay đã hình
thành hoàn chỉnh xã hội chung loài người thì khái niệm dân tộc được thay đổi,
biến đổi phú hợp theo từng giai đoạn. Nhưng chính Lênin là người đã tổng hợp
và đề ra khái niệm dân tộc với sự chọn lọc những giá trị tinh hoa trong từng thời
kì đã hình thành được khái niệm dân tộc được mọi người biết đến và sử dụng
rộng rãi hiện nay. Và khái niệm dân tộc được làm rõ trên hai phương diện có
mối liên kết gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau được Lênin làm sáng tỏ.
Đầu tiên, Lênin đã đưa ra khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng
người trong xã hội mang tính cụ thể xác định và trong cộng đồng đó có những
sự gắn bó chặt chẽ bền vững về nhiều mặt. Điển hình là các cộng đồng có những
sinh hoạt kinh tế chung, thống nhất, gắn bó với nhau, phải có được ngôn ngữ
chung của một cồng đồng và hơn hết trong mỗi cộng đồng cần có những nét văn
hóa, bản sắc văn hóa riêng, đặc thù so với những cộng đồng khác. Từ đó các
cộng đồng ngày hoàn thiện và phát triển ngày càng cao dẫn đến sự ra đời của
dân tộc. Và sự ra đời mạnh mẽ và chỉnh chu này là do có sự kế thừa và phát huy
một cách chọn lọc từ các cộng đồng trước đó, đặc biệt là cộng đồng bộ lạc. Các
cộng đồng dân tộc đã có được những bài học kinh nghiệm về sự thành công
bản sắc văn hóa của quốc gia đó. Chẳng hạn Việt Nam, mỗi một dân tộc tồn tại
trên đất nước này đã hợp lại với nhau tạo thành nhân dân của một quốc gia Việt
Nam độc lập cùng chung sống hòa bình trên một lãnh thổ chữ S rộng lớn và đã
xây dựng được ngôn ngữ chung như hiện nay. Các dân tộc cùng chung tay nhau
phát triển nền kinh tế, văn hóa và hợp sức đấu tranh xây dựng, bảo vệ nền độc
3
lập dân tộc Việt Nam. Với khái niệm này Lênin đã làm rõ sự hình thành dân tộc
của một quốc gia.
1.2.
Xu hướng phát triển dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựng CNXH ?
1.2.1 Xu hướng phát triển của dân tộc
Khi nghiên cứu về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc trong điều kiện của
chủ nghĩa tư bản , Lênin đã phân tích và chỉ ra hai xu hướng khách quan trong
phong trào dân tôc .
Trước tiên chúng ta cùng nhau tìm hiểu về xu hướng thứ nhất của MácLênin là như thế nào ? Theo như Mác-Lênin đề cập bản chất của xu hướng thứ
nhất là xu hướng thức tỉnh ý thức dân tộc hình thành các quốc gia dân tộc độc
lập. Với sự chín mùi của ý thức dân tộc , sự thức tỉnh về quyền sống , các cộng
đồng dân cứ muốn tách ra để thành lập một quốc gia độc lập. Xu hướng này biểu
hiện nổi bật trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản đưa đến sự ra đời của dân
tộc. Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa xu hướng này biểu hiện thành phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức. Chính vì thế có thể
nói trong xu hướng này nhiều cộng đồng dân cư đã ý thức được rằng chỉ trong
cộng đồng dân tộc độc lập thì họ mới có quyền quyết định con đường phát triển
của mình . vì vậy xu hướng thứ nhất là xu hướng chống lại ách áp bức , nô dịch
dân tộc, kích thích đời sống dân tộc và các phong trào dân tộc.
dân tộc mình, bao gồm quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát
triển của dân tộc, quyền bình đẳng với các dân tộc khác. Đây là một trong những
mục tiêu chính trị chủ yếu của thời đại – mục tiêu độc lập dân tộc.
Xu hướng thứ nhất biểu hiện trong phong trào giải phóng dân tộc thành
sức mạnh chống chủ nghĩa đế quốc và chính sách của chủ nghĩa thực dân mới
dưới mọi hình thức. Xu hướng này cũng biểu hiện trong cuộc đấu tranh của các
dân tộc nhỏ bé đang là nạn nhân của sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, đang
bị coi là đối tượng của chính sách đồng hoá cưỡng bức ở nhiều nước tư bản.
Thời đại ngày nay còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để
trở lại hợp nhất thành một quốc gia thống nhất theo nguyên trạng đã được hình
5
thành trong lịch sử. Xu hướng đó tạo nên sức hút các dân tộc vào các liên minh
được hình thành trên những cơ sở lợi ích chung nhất định.
1.2.2. Vấn đề dân tộc trong xây dựng xã hội chủ nghĩa .
Một khi nói đến dân tộc chúng ta đã bàn đến : Thế nào là dân tộc ? Xu
hướng phát triển của nó ? Nhưng dân tộc có những vấn đề gì trở ngại cần giải
quyết và khắc phục hay không ? Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu vấn đè dân tộc
trong chủ nghĩa Mác-Lênin .
Ngày nay toàn cầu hóa hội nhập hợp tác quốc tế đang là xu hướng tất yếu
không thể tránh khỏi đối với tất cả các quốc gia dân tộc
Nội dung của vấn đề dân tộc, trước tiên là quan hệ giữa các tộc người
trong một xã hội nằm trong khuôn khổ một quốc gia dân tộc về các lĩnh vực:
kinh tế, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ… và những vấn đề này thường kết hợp với
những lợi ích giai cấp, nên các phong trào dân tộc đều mang tính giai cấp sâu
sắc. Mỗi giai cấp đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp mình trong quan niệm và
tham gia phong trào dân tộc
Đối với các nước tư bản chủ nghĩa thì giai cấp thống trị luôn lợi dụng vấn
thác tiềm năng của dân tộc mình đồng thời nhận sự giúp đỡ của các dân tộc khác
và tiềm năng của dân tộc đó.
Về văn hóa-tư tưởng trong quá trình xây dựng xã hôi chủ nghĩa với sự
xích lại gần nhau của các dân tộc đã làm cho các giá trị tinh hoa của các dân tộc
hòa nhập , bổ sung cho nhau càng làm phong phú thêm giá trị chung của các
quốc gia dân tộc. Từ đó chúng sẽ là cơ sở để các dân tộc liên kết chắc chẽ , bền
vững hơn.
Tóm lại: Xã hội mới từng bước tạo ra những điều kiện để xây dựng quan
hệ hợp tác giữa các dân tộc.
Cùng với sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc gắn với sự phát triển của
cộng đồng dẫn đến sự thống nhất của các dân tộc .
Tuy vậy: Dù các dân tộc có đi đến thống nhất nhưng vẫn giữ gìn tinh hoa,
bản sắc của từng dân tộc .
1.3.
Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải
quyết vấn đề dân tộc ?
7
Dựa trên sự phân tích hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc và
dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm phong trào cách mạng thế giới trong việc giải
quyết vấn đề dân tộc, Lênin đã đưa ra Cương lĩnh Dân tộc với 3 vấn đề chính
bao gồm:
Một là các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là quyền thiêng liêng của các dân tộc.
Tất cả các dân tộc, dù đông người hay ít người, có trình độ phát triển cao hay
thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đặc quyền đặc lợi về kinh
tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ bất cứ dân tộc nào.
nội bộ quốc gia.
Ba là liên hiệp công nhân giữa các dân tộc:
Đây là tư tưởng, nội dung cơ bản trong “Cương lĩnh dân tộc” của
V.I.Lênin. Tư tưởng này là sự thể hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân,
phong trào công nhân và phản ánh tính thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng
dân tộc với giải phóng giai cấp.
Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn
kết các tầng lớp nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, tiến tới hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công
nhân.
Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc có ý nghĩa lớn lao đối với sự
nghiệp giải phóng dân tộc. Nó có vai trò quyết định trong việc xem xét, thực
hiện quyền bình đẳng dân tộc và quyền dân tộc tự quyết. Đồng thời, đây cũng là
yếu tố tạo nên sức mạnh đảm bảo cho thắng lợi của giai cấp công nhân và các
dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
Đây là nội dung quan trọng và là giải pháp để liên kết các nội dung của
cương lĩnh thành một chỉnh thể, làm cho vấn đề dân tộc và quốc tế gắn bó chặt
chẽ với nhau theo tinh thần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân
chính.
Nhìn chung, Cương lĩnh dân tộc của Lênin đã có những tác dụng tích
cực cho các nước trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là cơ sở
cho đoàn kết công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc; đoàn kết
giai cấp công nhân gắn với phong trào giải phóng dân tộc giúp cho các nước
9
bị thực dân, đế quốc xâm lược có lối thoát trên cơ sở đó tạo điều kiện cho
cách mạng vô sản ở các nước sớm nổ ra.
Đồng thời, cương lĩnh còn giúp cho các nước khi giai cấp công nhân và
sự giải phóng từ sự thống trị. Độc lập cũng có thể nói theo nghĩa phủ định: là
tình trạng không bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa
thực dân, hay sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc. Độc lập giành được nhờ
việc chống lại thực dân hóa, chống lại sự chia cắt. Độc lập sẽ giúp cho nhân dân
sống ấm no hạnh phúc, không sợ hãi về những gì chiến tranh, sự xung đột, bạo
loạn xảy ra.
Chính là như vậy, độc lập chính là điều kiện của tự do, tự chủ, là khởi
nguồn cho hạnh phúc. Đất nước có độc lập mới có quyền tự chủ, khẳng định chủ
quyền quốc gia, dân tộc, tự quyền quyết định hình thức, phương hướng xây
dựng và phát triển đất nước sao cho hợp lý. Vì vậy nên một quốc gia có độc lập
mới có quyền quyết định hội nhập quốc tế. Thế nên giờ đây chúng ta cần phải
tìm hiểu và nhận thức được hội nhập quốc tế là gì, diễn ra như thế nào? Từ đó
chúng ta mới có thể hiểu rõ mối liên hệ của nó với độc lập là sao?
2.1.2 Hội nhập là gì ? Quá trình hội nhập diễn ra như thế nào ?
Đầu tiên ta cùng tìm hiểu hội nhập quốc tế là gì ? Hội nhập có nguồn gốc
từ liên kết (theo ngữ nghĩa) với nghĩa chung nhất là hành động hoặc quá trình
gắn kết các phần tử riêng rẽ với nhau, hợp chung các bộ phận thành một chỉnh
thể – nhất thể, và kết hợp các thành phần khác lại với nhau. Hội nhập quốc tế là
sự thúc đẩy hợp tác cùng nhau phát triển của các quốc gia trong khu vực và trên
thế giới, tạo nên một mối liên hệ gắn kết, bền vững với nhau. Hội nhập quốc tế
là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ
giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực
hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Ở nước ta thuật ngữ “ Hội nhập quốc tế”
trong những năm gần đây đã dần dần trở thành ngôn từ khá quen thuộc. Ở công
sở, nhà trường, nơi công cộng hay cả vùng nông thôn miền núi xa xôi người ta
đều sử dụng nó một cách rất thông dụng, tuy nhiên lại rất ít người hiểu được ý
nghĩa của nó. Việc vận động tham gia quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
của nước ta hiện nay đang ngày càng được vận động và thúc đẩy phát triển một
các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức các nước Châu Á – Thái Bình
12
Dương (APAC),… Vậy nên có thể nói sự phát triển về hội nhập quốc tế trên cấp
độ khu vực cũng được phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế mang lại
nhiều hướng tích cực khác nhau. Tất cả các tổ chức trên thế giới đều có chung
các đặc điểm giống nhau dựa trên thực tiễn và lý luận, trong đó có bốn đặc điểm
chính và vô cùng quan trọng sau:
Đầu tiên là quá trình hội nhập quốc tế bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, nhưng
không dừng lại ở đó nó còn diễn ra trên nhiều phương diện, lĩnh vực phát triển
khác mà đôi bên cùng có lợi. Thực tế đã cho ta thấy rằng quá trình hội nhập
quốc tế diễn ra ở nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, quốc
phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và một số lĩnh vực khác. Về lý luận sẽ cho thấy
sự liên kết, hợp tác kinh tế sẽ dần dần dẫn đến quốc tế hóa đời sống trên các mặt
lĩnh vực khác, hình thành các chuẩn mực chung trong đời sống quốc tế trên toàn
bộ các lĩnh vực.
Không dừng lại ở đó, quá trình hội nhập tế là một quá trình không giới
hạn về thời gian. Điều đó có nghĩa là sự hội nhập không bao giờ dừng lại khi trải
qua bao năm tháng thời gian mà nó càng ngày càng liên kết chặt chẽ hơn, phát
triển hơn, mạnh mẽ hơn. Nó không bao giờ có một giới hạn nhất định vậy nên
sự hội nhập không bao giờ có hai chữ là “hoàn thành”. Nó vẫn luôn luôn tiếp tục
và ngày càng tiến bộ hơn qua thời gian.
Về bản chất, hợp tác song phương, nếu dựa trên cơ sở các luật lệ, chuẩn
mực chung thì cũng có đầy đủ tính chất của sự hội nhập quốc tế. Gần đây đã cho
thấy rằng khái niệm hội nhập đã chuyển từ cấp độ quốc tế mở rộng hơn thành
cấp độ quốc gia, là sự hội nhập ngay bên trong quốc gia đó. Tuy nhiên hội nhập
bên trong cũng là một yếu tố nền tảng với các chính sách đối nội để rồi từ đó
tự chủ của đất nước.
Hội nhập quốc tế là phương thức phát triển đất nước trong thế giới ngày
nay. Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng
cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa…
Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Giữ vững độc lập, tự chủ phải đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế… Chúng vừa tạo tiền đề cho nhau và phát huy lẫn nhau, vừa thống nhất với
nhau trong việc thực hiện mục tiêu cơ bản của cách mạng và lợi ích căn bản nêu
14
trên của đất nước ta, dân tộc ta, trước hết là mục tiêu phát triển và an ninh quốc
phòng.
Có giữ vững độc lập, tự chủ thì mới có thể đẩy mạnh hội nhập quốc tế, vì
khi không giữ được độc lập, tự chủ thì quá trình hội nhập sẽ chuyển hóa thành
quá trình hòa tan. Khi đó mục tiêu phát triển và an ninh quốc phòng đều không
đạt được.
Độc lập, tự chủ còn là chiếc neo về bản sắc. Càng hội nhập sâu rộng càng
đòi hỏi khẳng định bản sắc, càng có nhu cầu giữ gìn giá trị văn hóa, truyền
thống, tinh hoa của dân tộc. Bài học của Nhật Bản từ thời cải cách Minh Trị cho
thấy cách tân và giữ gìn bản sắc là hai quá trình song song, bổ sung cho nhau,
trong đó giữ được hồn cốt Nhật Bản đồng thời tiếp thu tinh hoa công nghệ và
văn hóa phương Tây là cơ sở để Nhật Bản tạo nên sự thần kỳ kinh tế.
Đồng thời, càng hội nhập quốc tế có hiệu quả thì càng có thêm điều kiện
thuận lợi và tạo được thế thích hợp để giữ vững độc lập, tự chủ thông qua việc
tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo lập sự đan xen lợi ích với đối tác, nhằm
giữ vững và nâng cao vị thế của đất nước Việt Nam ở trong khu vực và trên
hóa thành sự lệ thuộc của nước này vào nước khác. Trường hợp này dễ xảy ra
đối với các nước nghèo, nước nhỏ trong mối quan hệ với các nước giàu, nước
lớn.
Hội nhập quốc tế cũng có thể tác động tới sự phân hóa xã hội của từng
nước, khi lợi ích từ việc hội nhập được phân chia khác nhau đối với các nhóm
khác nhau trong xã hội, và từ đó góp phần làm trầm trọng thêm các vấn đề xã
hội. Hội nhập quốc tế không hiệu quả sẽ làm suy giảm độc lập, tự chủ, suy giảm
chủ quyền quốc gia.
Để hội nhập có hiệu quả, không thể tuyệt đối hóa độc lập, tự chủ và quan
niệm về độc lập, tự chủ theo kiểu nhất thành bất biến. Tuyệt đối hóa hay quan
niệm cứng nhắc về độc lập, tự chủ sẽ ngăn cản hội nhập, bỏ lỡ thời cơ hoặc làm
giảm hiệu quả của hội nhập và do đó sẽ tác động tiêu cực trở lại tới độc lập, tự
chủ. Mặt khác, nếu không chủ động, sáng tạo tìm ra những phương thức mới
phù hợp với hoàn cảnh và các điều kiện hình thành từ quá trình hội nhập quốc
tế, thì việc bảo đảm độc lập, tự chủ cũng sẽ gặp nhiều thách thức.