TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN : NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TÊN TIỂU LUẬN : PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ
Ý THỨC? VẬN DỤNG PHÂN TÍCH NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH NĂNG
ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO
DỤC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY?
Nhóm thực hiện : BB&BG
Lớp : CDQT15ATT
Mã HP : 161200701
Giảng viên hướng dẫn : NGUYỄN LÂM THANH HOÀNG
TPHCM , ngày 21 tháng 1 năm 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN : NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TÊN TIỂU LUẬN : PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ Ý THỨC?
VẬN DỤNG PHÂN TÍCH NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO
CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY?
STT
1
2
3
4
5
6
7
13091981
13094161
Chữ kí
LỜI CÁM ƠN
Trong chương trình của sinh viên cao đẳng , đại học . Học phần đầu tiên mà các chuyên
ngành đều phải trải qua là Triết học . Triết học là khoa học có vai trò và vị trí quan trọng
đối với tất cả các lĩnh vực khoa học khác . Nghiên cứu Triết học góp phần tạo nên thế
giới quan khoa học cho sinh viên .
Sau khoảng thời gian được học chương trình Triết học dành cho sinh viên , chúng tôi
cảm thấy mình đã được sự tận tâm hướng dẫn của quý thầy cô đảm nhiệm giảng dạy và
được trang bị và bổ sung vốn kiến thức vô cùng bổ ích cho bản thân . Nhân đây chúng tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Nguyễn Lâm Thanh Hoàng là giảng viên trực
tiếp hướng dẫn chúng tôi học phần này . Bên cạnh đó , tôi xin cảm ơn Trường Đại học
Công Nghiệp Tp. Hồ Chí Minh đã tạo môi trường và điều kiện học tập rất tốt để sinh
viên hoàn thành khóa học một cách tốt nhất .
Với vốn kiến thức có hạn và khả năng nghiên cứu khoa học còn hạn chế , để thực hiện đề
tài tiểu luận này chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn . Vì vậy , bài tiểu luận của chúng tôi
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và nội dung còn hạn chế , rất mong sự thông cảm của
quý Thầy!
MỤC LỤC
Mở Đầu
Nội Dung
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề :
1.1 Tên đề tài :
Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác_Lê về ý thức ? Vận dụng phân tích những giải
pháp phát huy tính năng động và sáng tạo của sinh viên trong quá trình đổi mới giáo dục
của nước ta hiện nay .
1.2 Lý do chọn đề tài:
Xu hướng của thời đại hiện nay là sự phát triển : phát triển kinh tế , xã hội , văn hóa ,
khoa học . Bước chuyển biến của thời đại “ bùng nổ thong tin ’’ đã tác động mạnh mẽ đến
giáo dục .
Nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn công nghiệp hóa , hiện đại
hóa ; giai đoạn chuyển mình từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và tri thức .
Yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp ấy là con người , vì vậy phải chăm lo
phát triển nguồn lực con người . Nhà trường phải thay đổi nội dung và phương pháp giáo
dục để chuẩn bị cho xã hội một lớp người lao động mới , có những nhân lực và phẩm
chất phù hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kì mới .
Bên cạnh đó , xu thế phát triển , đổi mới phương pháp giáo dục của các nước trong khu
vực và trên thế giới buộc Việt Nam cũng phải đổi mới . Xu thế ấy đã được UNESCO đề
xướng với bốn trụ cột : học để biết , học để làm , học để chung sống, học để tự khẳng
định mình .
Càng nhìn ra thế giới , chúng ta càng mong muốn tiếp xúc tiến gấp việc đổi mới phương
pháp khoa học và giáo dục . Sự tác động của điều kiện , môi trường hoạt động giáo dục
trong mối quan hệ với hoàn cảnh , tình hình chính trị - xã hội chung của đất nước. Như
chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói : “ chế độ nào , nhà trường ấy ” . Thêm vào đó , trong quá
Đối tượng nghiên cứu môn học: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin là
những quan điểm và học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong phạm vi
những quan điểm, học thuyết cơ bản nhất thuộc bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa
Mác- Lênin
Đối tượng nghiên cứu của lý luận và thực tiễn bao gồm hai măt chủ yếu sau đây:
+ Một là, tất cả tài liệu hình thành do kết qủa hoạt động của con người trong mọi
lĩnh vực của đời sống và tự nhiên( bao gồm tài liệu hành chính, tài liệu khoa học
kỹ thuật, tài liệu ảnh, tài liệu phim điện ảnh, tài liệu ghi âm) thuộc diện cần đưa
vào bảo quản hoặc đã được bảo quản trong các phòng, kho lưu trữ.
+ Hai là, những công việc và quá trình về tổ chức khoa học, tổ chức sử dụng và
bảo quản tài liệu( phân loại, xác định giá trị, bổ sung, thống kê, biên mục, tổ chức
sử dụng tài liệu) và việc biên soạn cơ sở lý luận và phương pháp của quá trình
này.
Ngoài ra, lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ còn nghiên cứu những vấn đề tổ chức công
tác của các cơ quan lưu trữ như công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học, tổ chức
lao động khoa học. Qúa trình phát triển lịch sử về lý luận và phương pháp của các nghiệp
vụ lưu trữ nước ở nước ta và các nước trên thế giới cũng thuộc đối tượng nghiên cứu của
môn khoa học này.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Tiểu luận dựa trên một số phương pháp nghiên cứu :
• Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
• Áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như tổng hợp hệ thống hóa, phân tích từ đó
rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu.
• Phương pháp duy vật biện chứng
• Phương pháp logic_lịch sử
• Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
tích lũy con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,
tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn. Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản
quan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm , niềm tin …
Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý trí của niềm tin mù quáng . Tuy nhiên việc
nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phũ nhận coi nhẹ yếu tố vai
trò tình cảm ý chí.
Page 11
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập có
sẵn trong cá nhân , biểu hiện xu hướng về bản thân mình , tự khẳng định cái tôi riêng biệt
tách rời xã hội . Trái lại CNDVBC tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình
thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài . Khi phản ánh thế giới khách quan con người
tự phân biệt mình , đối lập với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận
động , có cảm giác , tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội . Mặt khác sự giao tiếp
xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều
chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra. Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò cái
gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân .
Vô thức là một hiện tượng tâm lí , nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài
phạm vi của ý thức . Có 2 loại vô thức : loại thứ nhất lien quan đến những hành vi chưa
được con người ý thức , loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức
nhưng do lặp lại nên trở thành thói quen , có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của
ý thức . Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người . Trong những
hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động . Việc
tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen , có vai trò quan
trọng trong đời sống .
I.1.3 Nguồn gốc của ý thức :
I.1.3.1 Nguồn gốc tự nhiên :
Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện
con người và bộ óc . Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và Trái Đất
có thể đi sâu vào bản chất của sự vật , hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình
trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử .
I.1.4 Bản chất ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức , có thể thấy rỏ ý thức có bản tính phản ánh ,
sáng tạo và bản tính xã hội .
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài , là biểu thị nội dung được
từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh . Bản tính của nó quy định
mặt khách quan của ý thức , tức là phải lấy khách quan làm tiền đề , bị nó quy định nội
dung phản ánh là thế giới khách quan .
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, trong hoạt động sang tạo cải biến và
thống trị tự nhiên của con người và trở thành mặt không thể thiếu của lao động đó . Tính
sang tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà
gắn liền với cải biến , quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lí thông tin .
Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan
ở quá trình chủ động , tác động vào thế giới đó .
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau , không thể tách rời , không có phản
ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sang tạo . Đó là
MQHBC giữa thu nhận xử lí thông tin , là sự thống nhất mặt khách quan của ý thức .
Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động , hoạt động cải tạo thế giới của con người .
Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội . Ý thức trước hết là
thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới khách
quan về mối lien hệ giữa người và người trong xã hội . Do đó ý thức xã hội hình thành và
Page 14
bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó … ý thức của mỗi cá
nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội . Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với
bản tính phản ánh trong sang tạo . Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan
của ý thức , ở quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế
giới quan của con người .
vật , khó nhận thức đầy đủ được .
Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức . Chúng là những dạng tồn tại
của vật chất , cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành , tồn tại , phát triển
của ý thức .
I.2.1.2 Về nội dung
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người , là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan . Tất cả những hiện tượng ý thức đều hình thành trên
những điều kiện sống và hoạt động thực tiễn của con người và xã hội loài người .
I.2.1.3 Sự biến đổi , phát triển của ý thức
Vật chất là tiền đề cho sự phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức thay
đổi theo . Ví dụ những sinh hoạt vật chất thay đổi sẽ làm cho thói quen , tâm lý của con
người thay đổi . Hay một người bình thường nếu vì lí do nào đó mà não bị tổn thương thì
Page 16
hoạt động ý thức cũng bị rối loạn . Cơ sở vật chất của trường học được nâng cấp cải tiến
thì trình độ dạy và học cũng được nâng cao .
Bên cạnh đó, vật chất là điều kiện khách quan để hiện thực hóa ý thức tư tưởng .
Những chủ trương , kế hoạch của con người chỉ được thực hiện trên những cơ sở vật chất
nhất định .
Vật chất quyết định tính năng động ,sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn . Do
vậy , vật chất quyết định tính phong phú , đa dạng, nhìêu vẻ của ý thức .
I.2.2 Sự tác động trở lại vật chất của ý thức
Nói ý thức là tính thứ hai , CNDV không hề hạ thấp mà hiều đúng vai trò thực sự của
ý thức . Nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người vì ý thức là của con
người và bản thân ý thức không làm thay đổi gì hiện thực . Ý thức có tính tương đối tác
dụng trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người . Ý thức trang
bị cho con người tri thức về thực tại khách quan trên cơ sở ấy con người đề ra phương
hướng , xây dựng kế hoạch , lựa chọn phương pháp để thực hiện mục tiêu làm thay đổi
chất quyết định ý thức là tuyệt đối . Nhưng trong một số trường hợp cụ thể hoặc trong
một giai đoạn ngắn , ý thức lại quyết định vật chất . Mác chỉ rõ lí luận sẽ trờ thành lực
lượng vật chất khi nó thâm nhập vào lực lượng quần chúng.
Page 18
Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội , trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý
thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội . Ngoài ra , mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ như chủ thể và khách
thể , lí luận và thực tiễn , điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan ,…
II Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới giáo dục
của nước ta hiện nay
II.1 Vật chất quyết định ý thức – thực tế khách quan , quy luật khách quan quyết
định sự năng động sang tạo của sinh viên
II.1.1 Phân tích quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa , là động lực thúc đẩy
nền kinh tế phát triển . Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế
giới , các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hang đầu . Vậy tại sao giáo dục đào tạo
lại có tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vậy ?
_ Thứ nhất : Giáo dục đào tạolà điều kiện kiên quyết góp phần phát triển kinh tế .
_ Thứ hai : Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội .
_ Thứ ba : Và trên hết giáo dục đào tạo nâng cao chỉ số phát triển con người .
Hiểu được điều này , Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự phát
triển của nền giáo dục , đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực vững mạnh và có
chất lượng . Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và
tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam .
Hơn nữa thế kỷ qua nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã
đạt nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng , xây dựng và phát triển đất nước .
nghề mình đã học, đó là một sự lãng phí lớn. Thậm chí ngày nay học sinh, sinh viên chỉ
lo đạt bằng TOEFL này, TOEIC kia nhưng chính tiếng Việt lại sử dụng không chuẩn.
Trong khi cha ông ta ngày xưa số lượng ông Cử đếm trên đầu ngón tay nhưng đào tạo
người nào ra người nấy. Họ không chỉ thông thạo ngoại ngữ mà còn giỏi thơ văn, rành
văn hóa nước nhà. Vì sao lại có nghịch lý như thế? Hiện nay chúng ta cũng không có một
ngành thống kê thực tế phục vụ nghiên cứu chính sách. Xây dựng trường đại học mang
tầm quốc tế chỉ là điều kiện“cần” nhưng chưa “đủ”. Trên thế giới người ta rất quan tâm
đến những thợ giỏi, chuyên viên kỹ thuật cao. Đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp
hóa – hiện đại hóa mà sinh viên không chịu học kỹ thuật, chỉ tập trung không cân bằng
vào các ngành dễ được xã hội “chấp nhận” thì làm sao phát triển công nghiệp, làm sao
hiện đại hoá đất nước? Việt Nam muốn phát triển nền khoa học kỹ thuật thì phải đào tạo
khoa học kỹ thuật trên bình diện rộng.
Nền giáo dục chúng ta có thể xem như đang mắc bệnh mà không chữa trị, đua nhau
nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm cao mà sách chưa chuẩn, năm nào thi
cử cũng gian lận, đề thi sai, trẻ con thì bị bỏ mặc lang thang trên đường phố, ma túy trong
học đường, ý thức công dân rất kém. Càng nói càng thấy nguy cơ, nhưng không thấy xã
hội thật sự quản ngại vì bao nhiêu năm rồi chưa thấy biện pháp giải quyết, chỉ nghe được
những hứa hẹn cải cách. Giáo dục Việt Nam muốn phát triển phải giải phẫu đúng bệnh.
Bệnh chẩn đoán đúng nhưng không chịu giải phẫu làm sao chữa trị? Thực tế, các cơ quan
Page 21
chức năng đều nhận thấy hết căn bệnh giáo dục nước nhà. Trong các cuộc hội thảo, hầu
như mỗi vấn đề đều đã được phân tích, đã chỉ ra cái đúng cái sai nhưng điều lạ lùng là nó
không được đúc kết để đưa vào thực hiện thực tế. Tình trạng “nói” nhưng không “làm” là
căn bệnh nan giải nhất của hầu hết nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội chứ không phải
của riêng ngành giáo dục Việt Nam.
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những
thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho
công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn
chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết
sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo
tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục
còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội.
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết
khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu
chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu
bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh
đạo - quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn
Page 23
diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn
những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.
II.1.2 Nhân tố vật chất và ý thức trong quá trình học tập của sinh viên
II.1.2.1 Nhân tố vật chất
Trong hoạt động thực tiễn , nhân tố vật chất là thực thể khách quan , quy luật khách
quan trong miền hoạt động của con người .
Thực tế khách quan trong hoạt động học tập bao gồm các yếu tố cơ bản sau :
Điều kiện – kinh tế xã hội ở trường nơi học tập , cơ sở vật chất , trang thiết bị , đồ dung
phục vụ cho hoạt động học tập , tâm sinh lý của học sinh ,….
Cơ sở vật chất của trường học là tất cả các phương tiện vật chất được giáo viên và học
sinh sử dụng nhằm thực hiện hiện hiểu quả các chương trình giảng dạy và học tập . Cốt
lõi của cơ sở vật chất trường học chính là trang thiết bị để dạy và học tập . Trang thiết bị
là công cụ lao động của người giáo viên , là công cụ nhận thức của học sinh , sinh viên
nhờ đó mà học sinh , sinh viên hiểu biết được thế giới xung quanh .
Quy luật khách quan : trong hoạt động học tập gồm một số quy luật : quy luật nhận
thức , quy luật tâm lý , quy luật xã hội .
Ta biết rằng , bản chất của quá trình học tập là hoạt động nhận thức chu đáo của học
sinh, sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên . Lênin đã xác định con đường biện
Page 25