Luận văn Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan và phát huy tính năng động chủ quan trong quá trình học tập của sinh viên - Pdf 12

Luận văn
Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách
quan và phát huy tính năng động chủ
quan trong quá trình học tập của sinh
viên
[Type the document title]
LỜI MỞ ĐẦU
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và triết học Mác-
Lênin nói riêng là môn khoa học cơ bản trang bị cho chúng em những kiến thức cơ
bản trong nhận thức và hành động.
Triết học là định hướng, là dẫn dắt, là hạt nhân lý luận của Thế Giới, giúp con
người xây dựng thế giới khoa học nhân văn, chính nghĩa. Triết học đóng vai trò
định hướng sự hình thành, phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng
trong lịch sử một cách năng động, tự giác, sáng tạo.
Triết học vạch ra cho con người hệ thống những cách thức, những nguyên tắc
để định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Qua quá trình nghiên cứu học tập, hiểu được vai trò của môn học đối với việc
nhận thức thế giới và hành động của bản thân. Chính vì thế chúng em xin tìm hiểu
để tài “ Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan và phát huy tính năng động chủ
quan trong quá trình học tập của sinh viên”.

[Type text] Page 2
[Type the document title]
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG KHÁCH QUAN
VÀ PHÁT HUY TÍNH CHỦ QUAN LÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA VẬT CHẤT
VÀ Ý THỨC
• Các quan niệm cơ bản của triết học duy vật về vật chất.
a. Phạm trù vật chất
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi tồn
tại là bản nguyên tinh thần, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy.

“Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đưa ra định
nghĩa vật chất kinh điển: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. [1,151].
Từ định nghĩa vật chất có thể khẳng định:
Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với
những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học
là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên
hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận,
không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật, hiện tượng chỉ là những dạng
biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển và chuyển
[Type text] Page 4
[Type the document title]
hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụ
thể của vật chất.
Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức là
thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, dù
con người có nhận thức được nó hay không.
Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên
cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con
người. Ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái
được ý thức phản ánh.
Phương pháp định nghĩa mà V.I.Lênin dùng để định nghĩa vật chất là đối lập
vật chất với phạm trù ý thức, chỉ ra thuộc tính cơ bản để phân biệt vật chất với ý
thức.
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:
Một là, với việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính
khách quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc
phục được sự hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung

Vận động vật lý là vận động của phân tử, của các hạt cơ bản, vận động của
nhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh…
[Type text] Page 6
[Type the document title]
Vận động hóa học là sự vận động của các nguyên tử; sự hóa hợp và phân giải
của các chất.
Vận động sinh vật là vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất, đồng
hóa, dị hóa, sự tăng trưỏng, sinh sản, tiến hóa…
Vận động xã hội là sự thay đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa…
của đời sống xã hội.
Các hình thức vận động cơ bản trên được sắp xếp theo thứ tự từ trình độ thấp
đến trình độ cao, tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất. Các hình thức vận
động khác nhau về chất song chúng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mật
thiết với nhau trong đó hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức
vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn. Trong sự
tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song
bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó
có. Bằng việc phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ph.Ăngghen đã đặt cơ sở
cho việc phân loại, phân ngành, hợp loại, hợp ngành khoa học.
Vận động và đứng im:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn
nhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự đứng im, cân bằng ; song đứng im,
cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ
là một trạng thái đặc biệt của vận động.
Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy trong một số quan hệ nhất
định, chứ không phải trong tất cả mọi quan hệ. Đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong
một hình thức vận động.
Đứng im là tạm thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn
tại trong một thời gian nhất định, chỉ là xét trong một hay một số quan hệ nhất
[Type text] Page 7

Thế giới vật chất biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng, song, những dạng biểu
hiện của thế giới vật chất đều phản ánh bản chất của thế giới và thống nhất với
nhau.
Quan điểm duy tâm giải thích sự thống nhất của thế giới ở một thực thể tinh
thần đầu tiên (Ý niệm, Thượng đế) hoặc từ cảm giác của con người.
Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế
giới thống nhất ở tính vật chất.
Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất là cái
có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người.
Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và
không bị mất đị.
Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau,
đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật
chất và chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của vật chất.
Nhận thức trên có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ định hướng cho con người
giải thích về tính đa dạng của thế giới mà còn định hướng cho việc tiếp tục nhận
thức tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợp quy luật.
1.2. Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất là kết cấu của ý
thức.
a. Nguồn gốc của ý thức
[Type text] Page 9
[Type the document title]
Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủ nghĩa
duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của
ý thức để rút ra vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất.
Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ một lực
lượng siêu tự nhiên (Ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.).
Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của con người,
không do thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài.
Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “ óc tiết ra ý thức

hình thức, những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất.
Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật
chất vô sinh được thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác động
qua lại với nhau giữa các dạng vật chất vô sinh. Hình thức phản ánh này mang tính
thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động.
Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên
hữu sinh được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tính kích thích
là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh
trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, cấu trúc…khi nhận sự tác động trong môi
trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng
lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ
chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể
sống.
[Type text] Page 11
[Type the document title]
Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được
thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện.
Phản ánh năng động, sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình
thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ
chức cao nhất là bộ óc người. Là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin,
xử lý thông tin để tạo ra các thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin. Sự
phản ánh này được gọi là ý thức. Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất trong các
hình thức phản ánh của vật chất.
Nguồn gốc xã hội của ý thức: Ý thức không thể tồn tại ngoài não người; tuy
nhiên, ý thức không phải do não sinh ra. Não chỉ là cơ quan thực hiện chức năng
phản ánh. Để có ý thức phải có não người và thế giới khách quan. Ngoài ra còn
phải có những điều kiện xã hội nữa đó là: lao động, ngôn ngữ.
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên
nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người; là quá trình trong
đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa

Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu
óc con người, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, không phải là sự sao chép đơn giản,
máy móc. Tính sáng tạo của phản ánh ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có khả năng
phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng; ý thức con người có khả năng
[Type text] Page 13
[Type the document title]
biến đổi hình ảnh (cảm tính và lý tính) của sự vật trong đầu óc của mình, tạo ra mô
hình mới để từ đó biến đổi sự vật trong hoạt động thực tiễn.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Ý thức là hình ảnh của
thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định cả về nội dung và hình thức
biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà đã được cải
biến thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm,
tri thức, nhu cầu…) của con người. Theo C.Mác: ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất
được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”. [2,
35].
Ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại của
ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, không những chịu tác động của các quy
luật sinh học mà còn chủ yếu là các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và
các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định. Với tính năng động, ý thức
sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội.
Kết cấu của ý thức:
Ý thức có kết cấu phức tạp, có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về kết cấu của ý
thức. Nếu tiếp cận kết cấu của ý thức theo các yếu tố cơ bản nhất hợp thành nó thì
ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, ý chí, trong đó tri thức là nhân tố quan trọng
nhất.
Tri thức là toàn bộ sự hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận
thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng ngôn ngữ.
Mọi hoạt động của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng. Mọi
biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức. Tri thức là phương tiện tồn

1.3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại, độc lập với ý
thức của con người. Vật chất tác động gây ra cảm giác cho con nười. Vật chất là
cái có trước, cảm giác, ý thức con người có sau.Vật chất tồn tại độc lập với ý thức
của con người và con người có khả năng nhận thức được thế giới.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào bộ óc của con người một cách năng động, sáng tạo.
Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau.Vật chất quyết định ý
thức. Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất sinh ra ý thức vì vật chất là nguồn
gốc của ý thức, những yếu tố hình thành nên ý thức con người như bộ óc con
người, thuộc tính phản ánh bộ óc con người, lao động, ngôn ngữ điều thuộc lĩnh
vực vật chất. Những nhân tố vật chất qui định nội dung và tính chất của ý thức. Vật
chất tạo ra những điều kiện để ý thức được hiện thực hóa.
Nhưng bên cạnh đó, ý thức cũng tồn taị độc lập tương đối và tác động trở lại
vật chất thông qua hoạt động của con người. Bản thân ý thức nếu không thông qua
hoạt động của con người thì không thể hiện được vai trò tác động và cải tạo điều
kiện nhân tố vật chất. Ý thức phản ánh thuộc tính bản chất, tính qui luật của hiện
thực khách quan cho nên nó có vai trò định hướng hoạt động thực tiễn của con
người. Ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người diễn ra
theo hai khuynh hướng cơ bản hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
những nhân tố vật chất.
Vật chất quyết định nội dung của ý thức, hiện thực khách quan giống như bản
chính, ý thức giống như bản sau. Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức. khi
hiện thực khách quan, điều kiện sống thay đổi dẫn đến ý thức thay đổi. Vật chất là
điều kiện khách quan để hiện thực hóa ý tưởng.
[Type text] Page 16
[Type the document title]
1.4. Ý nghĩa của phương pháp luận
- Tôn trọng khách quan và những biểu hiện của tôn trọng khách quan. Vì vật
chất quyết định thực tiễn nên trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực

làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và
sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt
cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý
chí”. [5, 177].
Hiểu được nội dung của nguyên tắc tôn trọng khách quan sinh viên phải biết
vận dụng vào trong quá trình học tập của bản thân để đạt kết quả cao trong học tập.
Trước tiên, trong nhận thức sinh viên phải phản ánh trung thực nội dung bản
chất của sự vật, hiện tượng. Không được lấy ý kiến chủ quan, định kiến của mình
áp đặt cho sự vật, hiện tượng.
• Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy nhà trường vì nội quy giành cho sinh viên
trong nhà trường là tiêu chuẩn đánh giá về tác phong, đạo đức mà mỗi người
sinh viên phải có. Không nên có tư tưởng cá nhân là nội quy nhà trường
rườm rà, làm ảnh hưởng không tốt đến việc học, đến thời gian cá nhân mà
không thực hiện theo thì sẽ dẫn đến hậu quả không tốt.
[Type text] Page 18
[Type the document title]
• Khi đề bạt, tranh cử ban cán sự lớp phải đảm bảo tính công bằng, đánh giá
trung thực năng lực của từng cá nhân để bổ nhiệm vào vị trí phù hợp dẫn dắt
tập thể lớp đi lên. Không nên vì định kiến cá nhân mà đánh giá không trung
thực thì sẽ ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thi đua của tập thể.
• Khi đánh giá điểm rèn luyện của các bạn trong lớp nên thực hiện công khai,
khách quan, tránh đánh giá theo cảm tính cá nhân. Như thế sẽ tạo ra mâu
thuẫn nội bộ, không kích thích được sự thi đua, phấn đấu của mọi người
trong lớp.
• Sinh viên phải trung thực trong các kì kiểm tra, thi hết môn. Sinh viên phải
tích cực ôn luyện và làm bài bằng kiến thức của mình. Không nên có hành vi
quay cóp, chép bài của bạn vì dù điểm cao đó cũng không phải số điểm bạn
đạt được, không phản ánh đúng lượng kiến thức bạn có.
Bên cạnh đó, sinh viên phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở để đưa ra
đường lối, chủ trương, kế hoạch, mục tiêu cho phù hợp.

Phát huy tính năng động chủ quan tức là phát huy vai trò tích cực, năng động,
sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò tích cực của nhân tố con người trong việc
vật chất hóa tính tích cực năng động sáng tạo ấy. Bản thân ý thức tự nó không trực
tiếp thay đổi được gì trong hiện thực. Ý thức muốn tác động trở lại đời sống hiện
thực phải bằng lực lượng vật chất, nghĩa là phải được con người thực hiện trong
thực tiễn. Điều ấy có nghĩa là sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông
qua hoạt động của con người được bắt đầu từ khâu nhận thức cho được quy luật
[Type text] Page 20
[Type the document title]
khách quan, biết vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, phải có ý chí, có phương
pháp để tổ chức hành động. Là sinh viên chúng ta cần phát huy được tính năng
động chủ quan trong việc học tập của bản thân, thể hiện qua những mặt sau:
Sinh viên phải tôn trọng tri thức khoa học và làm chủ được tri thức khách quan:
• Sinh viên phải ra sức học tập, nghiên cứu tri thức khoa học để làm giàu
thêm kho tàng tri thức của bản thân, không chỉ xem trọng tri thức chuyên
ngành mà phải quan tâm cả những môn khoa học cơ bản, vì khoa học cơ bản
là tiền đề, cơ sở để sinh viên tiếp xúc với tri thức chuyên ngành hiệu quả
hơn.
• Có tinh thần ham học hỏi, tham gia nhiều cuộc thi khoa học để mở rộng tầm
hiểu biết, giao lưu học hỏi với bạn bè trong nước và quốc tế như: Đường lên
đỉnh Olympia, giải toán quốc tế, rung chuông vàng…
• Tham gia những cuộc thi nghiên cứu khoa học do trường tổ chức để kích
thích óc sáng tạo của bản thân và cống hiến những ý tưởng hay.
• Vận dụng những kiến thức học tập ở trường lớp vào trong thực tiễn hành
động.
Sinh viên còn phải biết truyền bá nó vào quần chúng để nó trở thành tri thức,
niềm tin của quần chúng, phổ biến tri thức khoa học cho mọi người cùng biết.
• Sinh viên tham gia chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh đến những vùng
cao, miền núi để dạy học cho các em nhỏ.
• Sinh viên tổ chức học nhóm để giúp đỡ nhau trong học tập

[Type the document title]
Khi con người với ý thức của mình xác định được các biện pháp để thực hiện
tổ chức các hoạt động thực tiễn. Kết quả bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của
mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra. Ở đây ý thức, tư tưởng có
thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh
đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan, vì đó là cơ sở quan trọng cho việc xác định
mục tiêu, phương hướng và biện pháp chính trong sự nghiệp hoàn thiện bản thân
và góp phần phát triễn đất nước. Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của
ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan;
đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại, ngồi
chờ trong quá trình đổi mới hiện nay.

KẾT LUẬN
Mỗi sinh viên đều có phương pháp học khác nhau cho riêng mình. Để quá trình
học tập đạt được kết quả cao thì tất yếu những phương pháp này phải khoa học và
phù hợp với hoàn cảnh của mỗi người. Để có được những phương pháp ấy, ngoài
việc áp dụng hiểu biết về khoa học mà còn phải hiểu những kiến thức về Triết học.
Cụ thể, đó là “Nguyên tắc tôn trọng khách quan và phát huy tính năng động chủ
quan” trong quá trình học tập. C.mác và Ăngghen đã giúp ta tìm ra nguyên tắc này
và đã được vận dụng rất nhiều vào đời sống con người trong các lĩnh vực khác
nhau đối với cá nhân, cộng đồng trong lịch sử, trong đó có lĩnh vực học tập. Phá vỡ
những nguyên tắc mang tính chất nền tảng ấy, sinh viên sẽ lạc khỏi những định
hướng trong quá trình đi tìm phương pháp khoa học cho chính mình. Quá trình học
tập vì thế mà không đạt kết quả cao, ảnh hưởng đến những thế hệ sinh viên mai
sau.
[Type text] Page 23
[Type the document title]
Để Việt Nam hướng lên Xã hội chủ nghĩa thì cần những con người xã hội chủ
nghĩa. Và nền tảng, đó là sự bắt đầu về tri thức, học vấn. Không ai khác, những con
người xã hội chủ nghĩa đầu tiên sẽ chính là sinh viên. Vì vậy, họ phải nỗ lực học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status