Mã lớp học phần:
1 7 . 3 0 2 . 2
Số thứ tự theo danh sách
lớp học phần
0 3
Nguyễn Thị Phương Châm
14.18.005862
Tâm lý học Giáo dục Đại học
TS. Trần Thị Thu Mai
VAI TRÒ CÁC NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIẢNG VIÊN TRONG THỜI KỲ HỘI
NHẬP HIỆN NAY – XEM XÉT QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN BỘ MÔN QUẢN LÝ
NGUỒN NHÂN LỰC - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Loại Tiểu luận :
Cuối kì Giữa kì
Tiểu luận này được hoàn thành vào ngày 08/10/2014
Tiêu đề Trang
Phần mở đầu 2
Chương 1 : Cơ sở lý luận và tổ chức nghiên cứu 3
1.1. Năng lực của giảng viên Đại học 3
1.2. Các nhóm yếu tố năng lực của giảng viên Đại học 3
1.3. Hình thức tổ chức khảo sát 6
1.4. Phương pháp phân tích kết quả khảo sát 6
Chương 2: Kết quả nghiên cứu 8
2.1. Kết quả khảo sát cơ bản 8
2.2. Phân tích kết quả khảo sát cụ thể 9
Phần kết luận và kiến nghị 12
Tài liệu tham khảo 13
Những chữ viết tắt dùng trong tiểu luận
• TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
• QLNNL : Quản lý nguồn nhân lực
• ĐHKT : Trường Đại học Kinh tế
Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân đáp ứng yêu
cầu đặc trưng của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động ấy đạt kết quả.
Năng lực bao gồm nhiều thuộc tính cúa cá nhân được kết hợp và tương tác
thống nhất với nhau theo yêu cầu nhất định của một hoạt động, cùng tạo nên kết
quả hoạt động. Trong đó có những thuộc tính giữ vai trò chủ đạo, có những thuộc
tính hỗ trợ và có những thuộc tính làm nền.
Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có quan hệ mật thiết với năng lực nhưng không đồng
nhất với năng lực. Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo là vốn kinh nghiệm của con người được
tích lũy trong quá trình học tập và rèn luyện; cũng là điều kiện cần thiết cho năng
lực. Năng lực lại góp phần cho việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực
tương ứng được dễ dàng và nhanh chóng hơn.
1.2. Các nhóm yếu tố năng lực của giảng viên Đại học
Dựa vào các nhiệm vụ trọng tâm của giảng viên là giảng dạy, nghiên cứu khoa
học và phục vụ xã hội, cộng đồng, năng lực giảng viên có thể chia thành các nhóm
cơ bản sau:
1.2.1. Năng lực dạy học
Năng lực dạy học là khả năng truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho sinh
viên, hình thành ở sinh viên khả năng tư duy tích cực, độc lập và sáng tạo. Năng lực
dạy học gồm có các năng lực thành phần sau:
- Hiểu sinh viên của mình: giảng viên cần xác định những gì sinh viên mong đợi,
những gì sinh viên đã có (kiến thức, mức độ, phạm vi lĩnh hội), xác định mức độ
và khối lượng kiến thức mới cho sinh viên. Trong quá trình giảng dạy cần có
quan sát biểu hiện, xem xét khả năng tiếp thu, thậm chí phát hiện cả mức độ hiểu
sai lệch để điều chỉnh kịp thời. Đây cũng được xem là yếu tố năng lực cơ bản của
năng lực sư phạm. Điều này đòi hỏi ở giảng viên quá trình lao động sư phạm
nghiêm túc, đầy tinh thần trách nhiệm, tình yêu thương và sự quan tâm, sâu sát
với nhân viên. Do vậy, dù là năng lực cơ bản nhưng đòi hỏi rất nhiều ở nhân cách
của người giảng viên và là điểm mấu chốt mang lại sự hài lòng của sinh viên.
- Giàu trí tuệ: lao động của giảng viên là lao động trí óc chuyên nghiệp nên đòi
hỏi ở giảng viên phải có năng lực trí tuệ vượt trội. Điều này thể hiện qua: sự
để tạo ra kết quả tối ưu trong quan hệ giảng viên – sinh viên. Ba nhóm kỹ năng
giao tiếp sư phạm chính mà giảng viên phải nắm vững và thực hành thành thạo
là: định hướng, định vị và điều khiển quá trình giao tiếp. Mức độ khéo léo trong
Trang 4/13
ứng xử với sinh viên, linh hoạt và làm chủ tình huống là kỳ vọng của giảng viên
trẻ cũng là một trong những đặc điểm giúp mang đến sự hài lòng ở sinh viên.
1.2.2. Năng lực giáo dục
Giáo dục đạo đức và thái độ nối dài trong dạy học từ các cấp bậc trước là
nhiệm vụ và yêu cầu năng lực không thể thiếu của giảng viên đại học. Năng lực này
thể hiện qua các khả năng: hiểu được tâm lý sinh viên; trở thành tấm gương có sức
lôi cuốn về trí tuệ, tình cảm và hành vi khuyến khích sinh viên học tập, bắt chước và
noi gương; khơi gợi tình cảm tốt đẹp, khát vọng và mong muốn hoàn thiện bản
thân, làm điều tốt đẹp…; khả năng ảnh hưởng đặc biệt đến quá trình hình thành
phẩm chất và năng lực đặc biệt ở sinh viên; khả năng khơi dậy sự tự tin, làm họ yên
tâm, thúc đẩy quá trình hoàn thiện nhân cách; khả năng giao tiếp, ứng xử sư phạm
khéo léo và khả năng tạo được uy tín với sinh viên thể hiện qua việc được sinh viên
yêu quý, kính trọng và tín nhiệm cao.
Năng lực này khó khăn để hình thành và phát triển hơn so với năng lực dạy
học ở giảng viên. Một số yếu tố thuộc về phẩm chất đạo đức của người giảng viên, là
thuộc tính tâm lý được tiếp thu, rèn luyện và phấn đấu đầy khó khăn và phức tạp
phụ thuộc vào ý chí và tình cảm vốn có ở người giảng viên.
1.2.3. Năng lực nghiên cứu khoa học
Năng lực nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ đầy thách thức đối với giảng viên vì
họ cần phải nắm vững phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học, biết
cách viết đề cương nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, biết cách trình bày và phân tích
kết quả nghiên cứu…
Năng lực này được thể hiện qua các nội dung sau:
- Số lượng, chất lượng các công trình khoa học được công bố, xuất bản và ứng
dụng thực tiễn
- Số lượng và chất lượng sách và tài liệu tham khảo được xuất bản
- Sinh viên được hướng dẫn trả lời các nội dung khảo sát tương ứng với các năng
lực của giảng viên để hiểu rõ nội dung trước khi lựa chọn quyết định câu trả lời.
1.4. Phương pháp phân tích kết quả khảo sát
- Ghi nhận tất cả các giá trị khảo sát tham gia đầy đủ tất cả các nội dung, loại bỏ
những bản trả lời chưa đầy đủ hoặc tuyệt đối hóa.
- Tính toán ghi nhận bình quân mức độ quan trọng của từng loại năng lực giảng
viên qua các chỉ số: trung bình (trung bình cộng đơn giản), trung vị (giá trị chính
giữa của các giá trị khảo sát), yếu vị/ mốt (giá trị khảo sát được lựa chọn nhiều
nhất). Từ đó, xem xét trung bình có ý nghĩa thống kê hay không.
- Phân tích tương quan giữa các yếu tố năng lực bằng xem xét hệ số tương giữa
các cặp năng lực. Từ đó, xem xét các năng lực có tự tương quan (hệ số tương
quan lớn hơn 0.8) với nhau hay không.
- So sánh xếp hạng mức độ quan trọng của năng lực theo giá trị trung bình (nếu
giá trị trung bình có ý nghĩa). Trong trường hợp có hai hay nhiều giá trị trung
1 />2 />Trang 6/13
bình bằng nhau thì năng lực nào có thống kê với độ lệch chuẩn thấp hơn sẽ tốt
hơn (dữ liệu ít phân tán so với giá trị trung bình), do vậy sẽ có thứ hạng cao hơn.
- Thang đo quy đổi xếp loại mức độ quan trọng của vai trò của các yếu tố năng lực
giảng viên được tác giả đề xuất như sau: (Trung bình của các ý kiến về từng yếu
tố từ khảo sát)
o Dưới 2,4 : Không quan trọng
o Từ 2,5 đến 3,4 : Ít quan trọng
o Từ 3,5 đến 4,4 : Quan trọng
o Từ 4,5 trở lên : Rất quan trọng
- Từ các giá trị và ý nghĩa thống kê tác giả sử dụng phân tích tầm quan trọng của
năng lực của giảng viên trong cái nhìn của sinh viên. Từ đó đưa ra kết luận và
một vài khuyến nghị cần thiết để nâng cao năng lực giảng viên trẻ của Bộ môn
QTNNL – ĐHKT TPHCM.
Trang 7/13
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- Kết quả kiếm định tương quan và tự tương quan cho thấy các yếu tố có ý nghĩa
thống kê độc lập với nhau:
Bảng 2: Bảng hệ số tương quan cặp trong khảo sát các năng lực của giảng
viên bộ môn QTNNL - ĐHKT TPHCM (tháng 10 năm 2014)
Năng lực [Hiểu
sinh
viên]
[Giàu
trí
tuệ]
[Năn
g lực
thiết
kế
bài
giảng
]
[Năng
lực tổ
chức
và
điều
khiển
hoạt
động
học
[Năn
g lực
ngôn
ngữ]
[Năng lực tổ chức
và điều khiển hoạt
động học tập] 0,294 0,269 0,707 1
[Năng lực ngôn
ngữ] 0,004 0,091 0,436 0,698 1
[Năng lực giao tiếp
sư phạm] 0,143 0,208 0,671 0,507 0,499 1
[Năng lực giáo dục
nhân cách] 0,445 0,550 0,666 0,508 0,050 0,342 1
[Năng lực nghiên
cứu khoa học]
-
0,376 0,319 0,053
-
0,135
-
0,070 0,279 0,241 1
[Năng lực hoạt
động xã hội] 0,115 0,229
-
0,421
-
0,234
-
0,240 -0,272 0,078 0,090 1
2.2. Phân tích kết quả khảo sát cụ thể
Kết quả phân tích xếp hạng ở bảng 1 cho thấy sinh viên tham gia khảo sát
quan tâm nhiều nhất là nhóm các năng lực trí tuệ, giao tiếp sư phạm và thiết kế bài
giảng. Đây là 3 trong 6 năng lực nghề nghiệp cơ bản nhất (năng lực dạy học) đối
với giảng viên ở cấp bậc Đại học. Các năng lực còn lại của năng lực dạy học lần lượt
nghiệp, Vật giá (tiền thân của ngành Thẩm định giá), Kinh tế Kế hoạch và đầu tư…
và đặc điểm lịch sử cũng như truyền thống lâu đời của Khoa Kinh tế (tên gọi cũ là
Kinh tế phát triển).
Với đặc tính tâm lý sinh viên của ngành là năng động, tự chủ và sáng tạo cao
nên giảng viên đều đã có những cọ xát và trải nghiệm để mang lại kinh nghiệm
giảng dạy phong phú. Sinh viên còn tích cực tham gia nhiều hoạt động xã hội và văn
hóa – nghệ thuật từ các phong trào sinh viên khiến cho các em có tính duy mỹ và
khả năng cảm thụ ngôn ngữ khá tốt. Ngoài những hoạt động học tập, giảng viên
còn tham gia cùng sinh viên trong các hoạt động xã hội – nghề nghiệp thú vị như
hoạt động từ thiện hay gặp gỡ với cựu sinh viên và tham gia các seminar của các
câu lạc bộ học tập.
Trang 10/13
Các năng lực như hiểu sinh viên, năng lực ngôn ngữ, năng lực tổ chức và điều
khiển học tập, năng lực hoạt động xã hội qua thực tiễn dần trở thành tất yếu vốn có
của giảng viên; đặc biệt là các giảng viên trẻ - vốn là những nhân tố tích cực xuất
phát từ chính ngành QLNNL được giữ lại trường giảng dạy sau khi tốt nghiệp.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một vài giảng viên trong bộ môn chưa tích cực làm
mới mình, thay đổi phương pháp giảng dạy để đáp ứng với các điều kiện phát triển
nhanh của kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế tri thức toàn cầu. Nội dung chương
trình dạy của ngành nhìn chung vẫn còn cũ kĩ và chậm đổi mới so với thực tế ngành
nghề yêu cầu. Đây là một thách thức rất rõ ràng với giảng viên để đáp ứng mong
đợi hợp lý của sinh viên và cũng đã được sinh viên “nhận diện” phần nào qua khảo
sát này.
Trang 11/13
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
Qua khảo sát cho thấy các năng lực cần thiết của giảng viên như nhóm năng
lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực hoạt
động xã hội là những năng lực tất yếu phải có của giảng viên trong thời kỳ hội nhập
hiện nay.
Tùy từng môi trường sư phạm mà giảng viên tham gia, mỗi loại năng lực có
phẩm chất trong giảng dạy của giảng viên”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM,
số 19 năm 2010.
5. Cao Hào Thi – Nguyễn Khánh Duy, “Các phương pháp phân tích định lượng –
Gợi ý giải Bài tập 1 – Thống kê mô tả và phụ lục thực hành thống kê mô tả
với phần mềm SPSS”, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright, năm học
2010 – 2011.
Trang 13/13