TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI THẢO LUẬN NHÓM 2B
MÔN LUẬT SO SÁNH
Giảng viên: MAI VĂN THẮNG
ĐỀ TÀI :
SO SÁNH ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ TƯ DUY PHÁP LÝ
QUAN NIỆM PHÁP LUẬT VÀ NGUỒN LUẬT GIỮA HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT ANH VÀ HOA KỲ
Thành viên nhóm 2B:
1. Nguyễn Thị Thu Thảo - 13061063
2. Nguyễn Thị Thanh -13061087
3. Nguyễn Hải Hà - 1306015
4. Phạm Thị Khánh Hòa - 13061595
5. Khà Quỳnh Châu - 13061009
6. Lò Hương Yến - 13062070
7. Phạm Thị Xuân - 3 062064
Hà Nội - 2016
Bài thảo luận nhóm 2B
MỤC LỤC
A. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUÂT ANH VÀ MỸ
- Pháp luật Anh – Mỹ là pháp luật ra đời ở Anh, sau này phát triển ở Mĩ và những
phân chia giữa chính quyền liên bang và các bang.
Khoa Luật
Trang 2
Bài thảo luận nhóm 2B
- Hiến pháp đã xác định nhiều ranh giới giữa luật liên bang và bang. Nó cũng phân
chia quyền lực liên bang thành các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp (tạo ra cái gọi là
“tam quyền phân lập” và gìn giữ mộ t cách thiêng liêng hệ thống “kiềm chế và đối trọng”,
nhằm ngăn chặn không cho một ngành nào đó có thể lạm dụng quyền lực của các ngành
khác); và mỗi ngành có đóng góp riêng biệt vào hệ thống pháp lý. Trong hệ thống đó, Hiến
pháp quy định những loại luật mà Quốc hội có thể thông qua.
- Nguồn rõ ràng nhất của luật pháp Mỹ là các đạo luật do Quốc hội thông qua, được
bổ sung bằng các quy định hành chính.
Khoa Luật
Trang 3
Bài thảo luận nhóm 2B
B. SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUÂT ANH VÀ MỸ
- Cùng họ pháp luật commom law
- Trong cấu trúc nguồn luật cùng có án lệ,các văn bản pháp luật và các tác phẩm của
các học gia pháp lí có uy tín
- Án lệ được thừa nhận là 1 nguồn chính thống,thậm chí về mặt thực tế còn chiếm ưu
thế hơn luật thành văn . Án lệ của Anh và Mỹ đều có chung nguyên tắc là tuân thủ các phán
quyết trước đó ,có sự ràng buộc giữa các phán quyết của các tòa án với nhau,đều được ghi
Anh và Mỹ là hai quốc gia tiêu biểu cho dòng họ pháp luật Common Law. Bên cạnh
những điểm tương đồng giữa hai hệ thống pháp luật Anh và Mỹ, còn có sự khác biệt riêng.
1. Điểm khác biệt mang tính chất chung
Số lượng nguồn luật của hệ thống pháp luật Anh phong phú hơn.Nếu như trong hệ
thống pháp luật Hoa kỳ chỉ có 3 loại nguồn là : Án lệ; Luật thành văn và các tác phẩm của
các học gia pháp lý thì ở Anh có 5 loại nguồn: Án lệ; Luật thành văn; Luật của liên Minh
Châu Âu; Tập quá pháp địa phương (Particular Customs) và các tác phẩm có uy tín; Trong
luật bất thành văn của Hoa kỳ chỉ có Án lệ thì ở Anh có ba loại: Tập quán phổ biến từ thời
thượng cổ (các phán quyết của Tòa gồm cả Án lệ của Tòa án hoàng gia và luật công lý), tập
quán hoặc luật lệ địa phương (particular customs or laws) và luật cá biệt (peculiar laws);
Trong luật thành văn của Anh chia ra thành các văn bản do thượng nghị viện trực tiếp hoặc
ủy quyền ban hành thì ở Mỹ lại chia thành các văn bản với các tên gọi cụ thể: Hiến pháp,
luật, các văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành. Anh và Mỹ là hai quốc gia
thuộc dòng họ Common Law nên có cấu trúc nguồn luật đặc trưng gồm án lệ, tập quán, luật
thành văn, lẽ phải.
Khoa Luật
Trang 5
Bài thảo luận nhóm 2B
2. Về luật thành văn
Luật thành văn ở Mỹ luôn được chú trọng phát triển hơn ở Anh. Ở Anh, luật thành
văn không được coi trọng, luật thành văn chủ yếu là để tập hợp các quy định nằm giải rác ở
các án lệ để thành một văn bản gọi chung là văn bản luật. Điều đó có nghĩa là về bản chất
luật thành văn cũng xuất phát từ án lệ, việc áp dụng luật thành văn ở Anh cũng phải trên cơ
sở giải thích luật thành văn trên từng quan điểm của các án lệ và việc áp dụng luật thành văn
cũng phụ thuộc vào án lệ. Còn ở Mỹ, luật thành văn có vai trò quan trọng hơn, thứ nhất có
thể kể đếnsố lượng luật thành văn ở Mỹ rất nhiều, ở Anh không có hiến pháp thành văn còn
Khoa Luật
Trang 6
Bài thảo luận nhóm 2B
khác nhau thì mới không áp dụng án lệ. Nghĩa là quyền tự quyết của thẩm phán ở Mỹ lớn
hơn ở Anh và trong việc áp dụng án lệ thì ở Mỹ thể hiện sự tự do hơn, không bị bó hẹp vào
nguyên tắc stari decisis. Và như vậy, vai trò của án lệ ở Anh và ở Mỹ cũng khác nhau, vai
trò án lệ ở Anh là vai trò chủ đạo trong khi đó ở Mỹ vai trò của án lệ nhiều lúc bị lấn áp bởi
luật thành văn và việc áp dụng án lệ không được tuyệt đối như ởanh
4. Về Luật
Nếu như ở Mỹ đã xác định được hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh
vực quan hệ xã hội cụ thể, rất đồ sộ và khoa học, đặc biệt tốc độ soạn thảo văn bản pháp luật
là rất nhanh nhưng vẫn không kém phần hiệu quả, thể hiện trình độ lập pháp và sự coi trọng
của luật thành văn của Mỹ rất cao, nhanh chóng, kịp thời cho ra đời các loại văn bản điều
chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong đời sống xã hội trong khi đó ở nước anh chưa có các
văn bản pháp luật đó vf chưa làm được điều đó. Các vưn bản pháp luật oă anh gồm các văn
bản pháp luật do Nghị viện trực tiếp ban hành và các văn bản pháp luật Nghị viện ủy quyền
ban hành: luật, Luật thống nhất và luật hệ thống hóa.
Luật do nghị viện ban hành có hiệu lực cao hơn án lệ do thẩm phán làm ra. Luật
thường được bổ sung hoặc thay thế án lệ
Luật thống nhất được soạn thảo để thay thế hoặc trình bày lại tất cả những đạo luật
được ban hành trước đó về lĩnh vực cụ thể nào đó
Luật hệ thống hóa là đạo luật chứa đựng một cách toàn diện tất cả những luật điều
chỉnh lĩnh vực nhất định
Còn ở mỹ có rất nhiều đạo luật cả ở cấp liên bang và cấp bang. Hiến pháp Mỹ quy
định Luật Liên bang có giá trị pháp lý cao hơn luật của các bang. Trừ hiến pháp Mỹ, các đạp
luật do quốc hội Mỹ thông qua có giá trị pháp lý cao nhất, cao hơn cả phán quyết của tòa án
luật được tạo nên bởi các thẩm phán judge – made law),vừa là người giải thích và áp dụng
lật pháp, kiểm soát các thủ tục tố tụng rất được coi trọng ở Thông luật. Thẩm phán được lựa
chọn từ một tổ chức gồm các luật sư thực hành (barrister). Ở Anh, việc bám sát vào tiền lệ
pháp trong hoạt động xét xử là yêu cầu nghiêm ngặt. Các văn bản pháp luật cũng được ban
hành bổ sung hoặc thay thế án lệ trong một số lĩnh vực. Lẽ phải cũng là một nguồn luật thể
hiện nét đặc thù của pháp luật Anh thể hiện ở Luật Công bình. Trong trường hợp một vụ án
phát sinh không có tiền lệ pháp phù hợp, không có luật thành văn hay tập quán pháp thì
thẩm phán chính là ngưới tạo ra luật pháp bằng cách sử dụng lẽ phải.
Xu hướng coi trọng luật thành văn rất rõ nét ở Hoa kỳ, án lệ chỉ được áp dụng một
cách tương đối và nới lỏng hơn. Nguồn gốc của người Hoa kỳ là từ Anh di cư sang nên bản
thân họ không muốn theo mô hình pháp luật phức tạp của Anh. Bản hiến pháp đầu tiên của
Hoa kỳ ra đời chính là một bản hiến pháp đầu tiên trên thế giới, một văn bản pháp luật có
giá trị tối cao với người Hoa kỳ và có ảnh hưởng rất lớn đến một số nước sau này, trong khi
ở Anh chỉ có hiến pháp không thành văn. Hệ thống luật thành văn ở Hoa kỳ rất phát triển
với nhiều nhà lập pháp có trình độ cao, đã cho ra đời nhiều bộ luật và đạo luật có giá trị thực
tiễn và tính ổn định cao. Ở các bang hệ thống luật thành văn có vị trí quan trọng vì các quy
tắc common law không có hiệu lực lớn như ở Anh. Nghị viện ở các bang rất tích cực và các
bang có thẩm quyền lập pháp rất rộng. Và hơn nữa ở Hoa kỳ có nguyên tắc kiểm soát tính
hợp hiến của luật thành văn nên án lệ được áp dụng cũng phải hợp hiến. Tầm quan trọng của
luật thành văn trong hệ thống nguồn luật của Hoa kỳ còn được thể hiện rõ ở việc cơ quan
lập pháp của Hoa kỳ thường xuyên tiến hành luật hóa các phán quyết của tòa án ở các án lệ
điển hình, hoạt động pháp điển hóa diện ra thường xuyên hơn so với ở Anh.
Nếu như ở Anh, tư tưởng pháp lý mang tính chất bảo thủ thì ở Hoa kỳ lại có tư tưởng
tự do. Xuất phát từ lý do nước Anh là một quốc gia có bề dày truyền thống, nên họ coi trọng
việc gìn giữ truyền thống, chính vì tư tưởng đó mà ở anh coi trọng án lệ và tuyệt đối tuân
thủ án lệ. Còn nước Mỹ lại tự hào về lịch sử chống ách thống trị của Thực dân Anh, là xã
hội gồm nhiều tầng lớp dân nhập cư từ khắp các quốc gia trên thế giới với nhiều chủng tộc,
họ đến đây tìm một tổ quốc mới, họ quan niệm con người hiện đại là quan trọng nhất, họ
quan tâm đến hiện tại và tương lai kiên quyết quay lưng với những truyền thống quá cũ kỹ.
Trang 9
Bài thảo luận nhóm 2B
1.1.2 Tòa pháp quan
Đây là tòa án hình sự cấp thấp nhất trong hệ thống tòa án hình sự của Anh, tuy nhiên,
đây lại là Tòa quan trọng vì hầu hết các vụ án hình sự được xét xử sơ thẩm tại Tòa này, và
theo thống kê, có đến 95% vụ việc được giải quyết trọn vẹn tại cấp tòa này.
Việc xét xử vụ án hình sự tại tòa pháp quan chủ yếu do hai,ba hoặc bảy pháp quan
không chuyên hay pháp quan thường dân xét xử với sự tư vấn từ thư ký Tòa đã được đào
tạo bài bản. Các thư ký này chỉ có quyền nghị án khi được pháp quan yêu cầu.
Tòa Pháp quan xét xử các vụ án hình sự ít nghiêm trọng, vụ vi phạm luật lê an toàn
giao thông hay xét xử vụ án liên quan đến vị thành niên. Ngoài ra, những vụ việc dân sự
liên quan đến nghĩa vụ tài chính với nhà nước hay vụ việc về quan hệ gia đình cũng được
tòa Pháp quan bao quát. Đây chính là điểm chồng chéo về thẩm quyền xét xử.
Kháng cáo đối với phán quyết của tòa pháp quan có thể gửi đến Tòa án hình sự trung
ương (áp dụng cho bị đơn) hay gửi đến tòa Nữ hoàng chuyên trách của tòa án cấp cao (áp
dụng cho cả nguyên đơn và bị đơn)
1.2. Tòa án Tối cao
Tòa án tối cao là tòa cấp trên quan trọng nhất ở England và xứ Wales, không phải tòa
cao nhất trong hệ thống Tòa án Anh.Tòa án tối cao bao gồm: Toà phúc thẩm, Tòa hình sự
trung ương và Tòa cấp cao
1.2.1 Tòa án cấp cao
Tòa án cấp cao hoạt động với tư cách tòa án dân sự sơ thẩm với những vụ việc dân
sự có giá trị tranh chấp cao và tòa án hình sự phúc thẩm đối với những vụ việc đã được giải
quyết bởi tòa án cấp dưới nhưng có kháng cáo, kháng nghị.
Tòa cấp cao gồm 3 tòa chuyên trách là:
- Tòa Nữ hoàng
Tòa nữ hoàng là tòa án đại diện hoàng gia, là Tòa hình sự cao cấp. Ngoài ra, các thẩm
phán của Tòa nữ hoàng chuyên trách cũng có thể cùng thẩm phán quản hạt xét xử hình sự
pháp quan
Tòa hình sự trung ương có quyền y án sơ thẩm, hủy hoặc sửa án sơ thẩm của Tòa
pháp quan
Những kháng cao kháng nghị của tòa hình sự trung ương co thể gửi đến tòa nữ hoàng
chuyên trách hoặc tòa hình sự chuyên trách của tòa phúc thẩm.
Thẩm phán tham gia xét xử của tòa hình sự trung ương là các thẩm phán của tòa án
cấp cao, thẩm phán quản hạt và các thẩm phán không chuyên
1.2.3 Tòa phúc thẩm
Tòa phúc thẩm là một bộ phận của Tòa án tối cao với 2 tòa chuyên trách: Tòa dân sự
chuyên trách và tòa hình sự chuyên trách, có thẩm quyền xét xử phúc thẩm.
Tòa dân sự chuyên trách giải quyết những vụ việc đã được xét xử bởi tòa địa hạt, tòa
cấp cao và một số cơ quan tài phán khác.
Tòa hình sự chuyên trách xét xử phúc thẩm những bản án của tòa hình sự trung ương
khi có đơn yêu cầu
Trên thực tế, do số lượng đơn kháng cáo kháng nghị được giải quyết tại tòa này rất
lớn, lớn hơn nhiều so với Thượng Nghị Viện, nên người ta cho rằng Chánh án Tòa phúc
thẩm (Thẩm phán tòa phúc thẩm) là người có thế lực nhất ở Anh
1.3 Hội đồng cơ mật và Thượng nghị viện
Vương quốc Anh khác nhiều so với các quốc gia khác trên thế giới là không có tòa
án phúc thẩm cao nhất và duy nhất.
Khoa Luật
Trang 11
Bài thảo luận nhóm 2B
Cấp xét xử phúc thẩm cuối cùng gồm ủy ban phúc thẩm của Thượng nghị viện và Ủy
ban tư pháp của Hội đồng cơ mật
Ủy ban tư pháp của Hội đồng cơ mật chỉ là cấp xét xử phúc thẩm cuối cùng với một
Hệ thống tòa án Hoa kỳ là một trong ba chi nhánh độc lập (lập pháp, tư pháp, và
hành pháp) của nhà nước liên bang theo nguyên tắc tản quyền (separation of powers). Hoạt
động độc lập của các tòa án (tư pháp) đối với chính phủ (hành pháp) và quốc hội (lập pháp)
thể hiện một triết lý quan trọng của hệ thống chính trị Hoa kỳ, đó là quyền lực phải được
phân tán giữa các cơ quan nhà nước nhằm ngăn ngừa bị tập trung và lạm dụng bởi một đảng
phái chính trị, tổ chức, hay cá nhân. Triết lý này được thực thi qua cơ chế kiểm soát và cân
bằng (checks and balances) giữa ba chính nhánh của quyền lực nhà nước.
Các cơ quan tư pháp Hoa kỳ được tổ chức theo mô hình liên bang với tổng cộng 57
hệ thống, bao gồm hệ thống tòa án liên bang, 50 hệ thống tòa án tiểu bang, và 5 hệ thống tòa
án ở các vùng thủ đô Washington D.C., đảo Puerto Rico, đảo Guam, đảo Samoa, quần đảo
Bắc Mariana, và quần đảo Virgin thuộc Hoa kỳ. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các hệ
thống tòa án tương đối giống nhau, gồm có tòa án tối cao (supreme court), các tòa án phúc
thẩm (court of appleals), và các tòa án địa phương (district court) theo thứ tự từ cao xuống
thấp. Tòa án cấp cao hơn thường chỉ thụ lý những án đã qua sơ thẩm hay phúc thẩm ở
những tòa cấp dưới.
Ngoại trừ tiểu bang Lousiana và đảo Puerto Rico, các hệ thống tòa án Hoa kỳ theo
truyền thống thông luật (common law) thay vì dân luật (civil law), tức là ngoài hiến pháp
(constitution) và các điều luật trong các bộ luật khác nhau (statute, regulation, ordinance)
căn cứ quyết định của tòa còn dựa trên án lệ (case law) của các tòa cấp tương đương hoặc
cao hơn. Vì thế cho nên phán quyết của một tòa có ảnh hưởng trực tiếp đến các tòa cùng cấp
và cấp thấp hơn do quyết định đó đã tạo nên một tiền lệ, hay định hướng, cho những án xử
tương tự trong tương lai. Một án lệ có hiệu lực vĩnh viễn cho đến khi bị bác bỏ bởi một tòa
án cấp tương đương hoặc cao hơn.
Một đặc điểm quan trọng khác của thông luật, mà Hoa kỳ là một trong những nước
áp dụng, là bồi thẩm đoàn (jury) quyết định bản án. Đây là truyền thống có lịch sử khoảng
1000 năm bắt nguồn từ hệ thống pháp lý của Vương quốc Anh. Như vậy, cùng với hiến
pháp, các bộ luật, và án lệ, thì quyết định của bồi thẩm đoàn là một trong những nguồn của
luật pháp. Bồi thẩm viên là những công dân có đủ năng lực, từ 18 tuổi trở lên, được lựa
chọn ngẫu nhiên trong dân chúng tại địa phương nơi tiến hành xử án.
2.2 Hệ thống Tòa án Liên bang
Tòa án Tối cao Liên bang chỉ thụ lý những vụ án rất quan trọng, thường là án phúc
thẩm, theo lựa chọn mặc ý của tòa. Để một vụ án được đưa ra xử tại Tòa án Tối cao Liên
bang, hồ sơ phải được ký thuận bởi ít nhất 4 trong số 9 thẩm phán tối cao. Trong một số
trường hợp đặc biệt, Tòa án Tối cao Liên bang xử án trực tiếp mà không cần qua sơ thẩm, ví
dụ như khi một tiểu bang kiện một tiểu bang khác. Quyết định của Tòa án Tối cao Liên bang
là rất quan trọng đối với toàn bộ hệ thống pháp lý và chính trị của Hoa kỳ vì phán quyết của
tòa này có giá trị áp dụng phổ quát trên toàn liên bang.
Một quyền lực đặc trưng của Tòa án Tối cao Liên bang được gọi là “thẩm định pháp
lý” (judicial review). Thẩm định pháp lý là qui trình và phán quyết của tòa tối cao về ý
nghĩa của hiến pháp. Một giải thích hiến pháp của tòa tối cao có thể được áo đặt lên một
quyết định của chính phủ và các cơ quan của nó, hoặc một điều luật của một bộ luật đã được
thông qua bởi quốc hội, hoặc một phán quyết của một tòa án liên bang hay bất kỳ tòa án nào
ở cấp tiểu bang.
Một khi một điều luật của quốc hội, một phán quyết của tòa, hay một quyết định của
chính phủ, bị Tòa án Tối cao Liên bang tuyên bố vi hiến (unconstitutional) thì mọi nỗ lực thi
hành đều không có giá trị. Điều này không có nghĩa là điều luật bị tuyên bố vi hiến tự động
bị loại bỏ. Để loại bỏ hay sửa đổi một điều luật quốc hội cần họp và thông qua với đa số
phiếu cần thiết, vì nó là cơ quan duy nhất có quyết thiết lập, sửa đổi, và loại bỏ luật.
2.4 Tòa án Phúc thẩm Liên bang
Khoa Luật
Trang 14
Bài thảo luận nhóm 2B
Các Tòa án Phúc thẩm Liên bang (United States Court of Appeals) là cơ quan tư
pháp chuyên trách ở cấp liên bang về án phúc thẩm, thường là những án đã xử sơ thẩm ở
các Tòa án Địa phương Liên bang. Tổng cộng có 13 tòa án phúc thẩm liên bang, một cho
mỗi khu vực (circuit), một ở vùng Washington DC, và một cho toàn liên bang (United States
chính quyền liên bang là bên bị hại hoặc bị khởi kiện, bị can hay bị cáo là công dân nước
ngoài không định cư ở bất kỳ tiểu bang nào, bị can hay bị cáo sống ở nhiều tiểu bang. Như
vậy không phải vụ xử nào cũng có thể đưa đến Tòa án Địa phương Liên bang, và một số vụ
có thể được đem xử ở hệ thống tòa án tiểu bang hoặc Tòa án Địa phương Liên bang. Phán
Khoa Luật
Trang 15
Bài thảo luận nhóm 2B
quyết của tòa địa phương của liên bang có thể được đưa lên phúc thẩm ở Tòa án Phúc thẩm
Liên bang trong cùng khu vực (circuit).
3. Hệ thống Tòa án các Tiểu bang
Các hệ thống tòa án tiểu bang tại Hoa kỳ nằm ở mỗi tiểu bang, vùng thủ đô
Washington DC, và các vùng lãnh thổ trực thuộc. Các hệ thống tòa án tiểu bang không hoàn
toàn giống nhau. Truyền thống thông luật (common law) được thi hành tất cả các tiểu bang
ngoại trừ Lousiana và đảo Puerto Rico theo hệ thống dân luật (civil law). Các hệ thống tòa
án tiểu bang có thể bao gồm Tòa án Tối cao (Supreme Court), các Tòa án Phúc thẩm (Court
of Appleals), các Tòa án Khu vực (Circuit Court), các Tòa án Địa phương (County Court).
Tại một số nơi còn có Tòa án Thành phố (Municiple Court), và Tòa án Bồi thường Tiểu Dân
sự (Small Claims Court), theo thứ tự từ cao xuống thấp. Một số tiểu bang chỉ có hai cấp tòa
án, tòa án địa phương và tòa án tối cao. Tên gọi của các tòa cũng có thể khác nhau tùy theo
tiểu bang.
Tương tự như các tòa án liên bang, tòa án tiểu bang là cơ quan tư pháp độc lập với
chính phủ tiểu bang và quốc hội tiểu bang. Các tòa án tiểu bang làm việc và phán quyết dựa
trên Hiến pháp Liêng bang Hoa kỳ, các bộ luật liêng bang, hiến pháp của từng tiểu bang, các
bộ luật của từng tiểu bang, các án lệ có thể được áp dụng của liên bang và tiểu bang, và
quyết định của bồi thẩm đoàn. Hầu hết các án xử tại Hoa kỳ được tiến hành ở các tòa án cấp
tiểu bang.
3.2. Tòa án Phúc thẩm Tiểu bang
Các tòa phúc thẩm ở mỗi tiểu bang (State Court of Appeals) là cơ quan tư pháp nằm
giữa tòa án tối cao và các tòa án địa phương của tiểu bang, chuyên trách án phúc thẩm. Một
số tiểu bang, nơi có hệ thống tòa án hai cấp, không có các tòa phúc thẩm. Mỗi tòa phúc
thẩm thường bao trùm một vùng gồm vài hạt (county/parish) gần nhau và có chung biên
giới.
Cũng giống với Tòa án Phúc thẩm Liên bang, Tòa án Phúc thẩm Tiểu bang không
thay đổi quyết định của các tòa sơ thẩm mà chỉ tìm kiếm những sai sót nếu có trong tiến
trình của án sơ thẩm. Nếu tòa phúc thẩm tìm thấy những lỗi nghiêm trọng gây ảnh hưởng
trực tiếp đến tính đúng đắn và thống nhất của tòa sơ thẩm thì tòa phúc thẩm có thể tuyên bố
hủy án sơ thẩm. Án sơ thẩm nếu bị hủy không có nghĩa là bị cáo vô tội trong án hình sự, hay
bị đơn không phải chịu trách nhiệm trong án dân sự, mà nghĩa là tòa sơ thẩm phải tiến hành
tái thẩm nếu tiếp tục muốn buộc tội bị cáo hình sự hay buộc chịu trách nhiệm dân sự đối với
bị đơn.
3.3. Tòa án Địa phương Tiểu bang
Các tòa án địa phương tiểu bang (county court, circuit court, municiple court, district
court) là nơi tiến hành nhiều án xử nhất vì hầu hết những án hình sự và án dân sự đều qua sơ
thẩm tại các tòa này trước khi đi tiếp, nếu có thể, tới các tòa cấp cao hơn ở tiểu bang và liên
bang. Tòa địa phương thường được tổ chức theo địa dư hành chính cấp hạt (county/parish)
hoặc thành phố. Ở một số địa phương ít dân, để tiết kiệm chi phí, vài hạt có thể cùng chung
một tòa địa phương.
Tại những địa phương có dân số lớn và số án xử nhiều, tòa địa phương có thể phân ra
thành các bộ phận nhỏ hơn để chuyên trách về những loại án khác nhau. Ví dụ như án đại
hình (thời gian tù trên một năm), án tiểu hình (thời gian tù dưới một năm), án vị thành niên,
án hình sự giao thông, án dân sự hôn nhân, án dân sự, vân vân. Tùy theo từng nơi, một thẩm
phán có thể chuyên trách một loại án, hoặc có thể dự thẩm nhiều loại án khác nhau.
Khoa Luật
Trang 17
nào. Đây cũng là một lý do nữa tạo nên vai trò quan trọng hơn của của thẩm phán thông luật
so với người tương nhiệm của tòa dân luật
Hệ thống tòa án Hoa kỳ không những là một thành tựu về xây dựng và tổ chức hệ
thống pháp lý của nhà nước liên bang Hiệp chúng Quốc Hoa kỳ mà còn được coi như một
mô hình tham chiếu thực tiễn rộng rãi của nhiều quốc gia khác trên thế giới. Kiến trúc cơ
bản của hệ thống này là một thừa kế tiến bộ của hơn 1000 năm truyền thống pháp lý thông
luật của Vương quốc Anh, được thiết kế và khởi tạo bởi những nhà chính trị lỗi lạc, cũng là
những triết gia đương thời, từ thuở lập quốc, và được cập nhật liên tục từ thực tế pháp lý
cực kỳ sinh động trong hơn 200 năm lịch sử Hoa kỳ.
Hệ thống tòa án Hoa kỳ đã đóng góp to lớn vào những thành công về kinh tế, dân
chủ, nhân sinh, và nhân quyền tại Hoa kỳ. Hệ thống này là một công cụ quan trọng để kiểm
Khoa Luật
Trang 18
Bài thảo luận nhóm 2B
soát và cân bằng quyền lực giữa các cơ quan hành pháp và lập pháp. Hoạt động độc lập và
hiệu quả của tòa án đã ngăn chặn và hóa giải những xung đột sâu:
Nhìn một cách khái quát nhất, ta có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt cơ bản giữa
hệ thống Toà án Anh và Mỹ, bởi ở Mỹ tồn tại song song hệ thống toà án Liên bang và hệ
thống Toà án bang, còn ở Anh chỉ có một hệ thống Toà án tồn tại, thụ lý các vụ việc pháp lý
phát sinh trên lãnh thổ thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Hệ thống toà án Anh theo cấu
trúc gồm có Thượng nghị viện, Toà phúc thẩm, Toà án cấp cao, Toà địa phương. Thực tế
hiện nay cho thấy, Thượng nghị viện tự giới hạn mình ở chỗ, nó chỉ ra quyết định giứ
nguyên hoặc huỷ bỏ bản án đã có hiệu lực trước đó của toà án cấp dưới, mà ít khi tự mình
đưa ra một bản quyết định độc lập. Điều này khác với cách thức làm việc của hệ thống toà
án ở Mỹ. Như đã nói, ở Mỹ tồn tại hệ thống tư pháp liên bang gồm có Toà án tối cao, Toà án
phúc thẩm và Toà án Hạt; hệ thống tư pháp bang gồm có Toà chung thẩm, Toà phúc thẩm và
Bài thảo luận nhóm 2B
1. Đối tượng và mục tiêu
Việc đào tạo nghề luật ở các nước thuộc dòng họ pháp luật Common Law nói chung
không chú trọng tính bài bản, mà thiên về tính thực tiễn. Đào tạo luật ở Mỹ là đào tạo văn
bằng hai nghĩa là đòi hỏi học viên phải có một bằng đại học từ trước còn ở Anh là đào tạo
cử nhân luật. Ở Mỹ có xu hướng kết hợp giữa đào tạo lý thuyết với đào tạo nghề trong
chương trình đại học luật. Ví dụ như, muốn thi tuyển vào khoa Luật trường Đại học danh
tiếng Harvard thì phải có thêm một bằng đại học chuyên ngành khác trước đó. Cách đào tạo
này khác so với Anh Quốc, theo đó, nước này thường đưa đào tạo luật vào chương trình đại
học cơ bản. Ở Anh, sinh viên tốt nghiệp chưa đủ khả năng hành nghề ngay, những người
muốn hành nghề phải qua khoá đào tạo nghề, còn sinh viên tốt nghiệp trường luật ở Mỹ chỉ
cần qua thời gian tập sự ngắn là có thể làm việc.Ở Mỹ, hành nghề luật là hành nghề ở bang,
một người được thừa nhận là luật sư ở một Tiểu bang thì chỉ được hành nghề ở Tiểu bang
đó, và trước toà án Liên bang trong khi ở Anh có thề hành nghề luật sư ở trên toàn quốc. Ở
Anh có phân chia 2 ngành luật sư là luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng trong khi ở Mỹ, một
luật sư thì thực hiện cả tư vấn và tranh tụng. Tuy nhiên, ở Mỹ có đặc thù là luật sư hành
nghề theo lĩnh vực chuyên sâu của mình trong khi đó ở Anh thì luật sư phải hiểu biết hết các
lĩnh vực. Cũng giống như ở Anh, các thẩm phán thường được chỉ định trong số các luật sư
thực hành nổi tiếng. Thẩm phán ở Mỹ có hai loại: thẩm phán cấp Liên bang và thẩm phán
cấp tiểu bang. Tương tự như thẩm phán ở Anh, thẩm phán cấp Liên bang Mỹ được chỉ định
chức vụ suốt đời.
Tại phiên toà, thẩm phán đưa ra chế tài còn bồi thẩm đoàn chỉ có kết luật có tội hay
không có tội... Thẩm phán liên bang do tổng thống Mỹ lựa chọn và bổ nhiệm với sự phê
chuẩn của nghị viện.
2. Phương pháp đào tạo
Tại Anh, các môn học chủ yếu được giảng dạy dưới dạng thuyết trình, thảo luận và
phù đạo. Sinh viên đưa ra câu hỏi và giải quyết thắc mắc của mình. Các sinh viên được
khuyến khích tham gia diễn án và thảo luận để rèn kĩ năng lập luận rõ ràng, thuyết phục.
Ngoài ra còn phương pháp truyền thống: Phương pháp thuyết giảng các kiến thức lý luận.
Bài thảo luận nhóm 2B
D: ĐÁNH GIÁ , NHẬN XÉT VÀ ĐẶT CÂU HỎI
1. Nhận xét:
Hình thức: -Bài làm tổng quan tương đối rõ ràng , dễ hiểu , bố cục chi tiết cẩn thận.
- Các dẫn lời mở đầu hay
Nội dung
Phần mở đầu: nhóm nên đưa ra các mục lục để mọi người có thể hiểu và bao quát
được tổng thể các vấn đề sẽ thuyết trình
Phần Hoàn cảnh lịch sử: ngoài việc đưa ra hoàn cảnh của Anh và Mĩ, nhóm nên có
phần đánh giá xem sự khác nhau chủ yếu về hoàn cảnh lịch sử của 2 nước này như thế nào?
Phần II: khá đầy đủ và chính xác, nhóm đã nói lên được sự giống và khác nhau về tư
duy pháp lý và quan niệm pháp luật của Anh và Mĩ. Tuy nhiên, phần khác nhau nên gạch
đầu dòng các tiêu chí cụ thể và để người xem nắm được vấn đề nhanh hơn ( các tiêu chí
khác nhau về án lệ, luật thành văn, tư tưởng pháp lý)
-nhóm chuẩn bị khá đầy đủ và chính xác nhưng vẫn chủ yếu dựa vào giáo trình của
đại học luật hà nội. nội dung chưa có sự tìm hiểu bên ngoài. Thứ tự về hệ thống tòa án vẫn
chưa được logic , nó không theo trình tự nào cả .
2. Câu hỏi
Câu 1 :Có một câu châm ngôn nổi tiếng của Holmes (Người Anh): “Đời sống pháp
luật không phải là logic mà là kinh nghiệm”. Câu châm ngôn này có đúng với hệ thống
thông luật Anh – Mỹ(Ăng lô – Sắc xông) không? Tại sao?
Đúng
Thực tiễn, lẽ công bằng: Hệ thống pháp luật này được sinh ra từ thực tiễn hàng ngày.
Các quy tắc của trường phái Luật này là các quy tắc xã hội, không bao giờ rời xa cuộc sống,
phục vụ cho nhu cầu của đời sống xã hội, từ chế độphong kiến với nền kinh tế nông nghiệp,
cuộc sống nông thôn cho tới nền kinh tế công nghiệp với cuộc sống đô thị.
Án lệ:Đối với những nước theo trường phái thông luật Anh –Mỹ(Ăng lô Ăng lô –Sắc
xông) thì nguồn luật đầu tiên làcác án lệ tức là các bản án đã có hiệu lực do tòa án sửdụng
trước đó, đây được coi là nguồn luật cơ bản nhất của trường phái thông luật Anh –Mỹ.
Câu 2: Luật thành văn của Anh và Mĩ khác nhau ntn?
Ưu điểm
Hệ thống tòa án của Anh Vương quốc Anh có tổ chức cơ cấu chính trị đơn nhất, nên
hệ thống tòa án phân chia thành tòa án cấp trên cấp dưới.
Quyền tư pháp được thể hiện tập trung. Phù hợp với chính thể quân chủ lập hiến ở
Anh.
Hạn chế
Quá đề cao vai trò của thượng nghị viện, dấn đến việc lạm quyền.
Câu 5:ở phần vai trò, chưc năng của thượng nghị viện nhóm có nói là “ Thực tế, chỉ
những thượng nghị sĩđặc trách công tác pháp luật mới có tư cách trực tiếp tham gia xét xử
phúc thẩm “ nhóm có thể giải thích rõ hơn về điều này ?
So sánh đặc điểm của hệ thống pháp luật Anh và pháp Luật Hoa kỳ
Giống nhau:
- Cùng là họ pháp Luật Commom law
- Coi trọng vai trò thẩm phán và án lệ.
Khoa Luật
Trang 23
Bài thảo luận nhóm 2B
- Thủ tục tố tụng tranh tụng.
Kháu nhau:
- Mỹ là nước liên bang nên tồn tại hai hệ thống pháp luật của lên bang và tiểu bang,
còn Anh chỉ có một vì là nước đơn nhất.
- Hệ thống toàn án ở Anh rất phức tạp.
- Mỹ có sự tách bạch quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Còn ở Anh thì không vì
Thượng viện kiêm luôn chức năng xét xử phúc thẩm.
- Tùy thuộc họ Commom law nhưng ở Mỹ lại coi trọng Luật thành văn, có Hiến Pháp
thành văn. Còn ở Anh thì không.