TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SO SÁNH SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI - Pdf 24



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 05:

SO SÁNH SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA TRUNG QUỐC
THỜI CỔ ĐẠI

1.2 Một số tƣ tƣởng triết học cơ bản của Nho giáo…………………………3
2. Khái quát về pháp gia……………………………………………………4
2.1 Sự hình thành và phát triển của Pháp gia…………………………………4
2.2 Một số tƣ tƣởng triết học cơ bản của Pháp gia……………………………5
CHƢƠNG II: SỰ TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ
PHÁP GIA TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI………………………………… 5
1. Quan niệm về thế giới…………………………………………………….5
2. Về tƣ tƣởng biện chứng………………………………………………… 6
3. Quan niệm về bản tính con ngƣời……………………………………… 7
4. Quan niệm về thuyết trị quốc…………………………………………….9
CHƢƠNG III: ẢNH HƢỞNG CỦA NHO GIA VÀ PHÁP GIA TRUNG QUỐC
ĐẾN VIỆT NAM …………………………………………………… 11
1. Ảnh hƣởng của Nho gia………………………………………………….11
2. Ảnh hƣởng của Pháp gia…………………………………………… 11
KẾT LUẬN…… …………………………………………………………… 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… 13

Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia và Pháp gia Trung Quốc thời Cổ đại

CHK22 – NGÀY 4 – NHÓM 7 - STT 64 1

LỜI NÓI ĐẦU
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã trải qua gần 3000 năm lịch
sử. Ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia lại có hệ tư tưởng triết học khác nhau. Vào thời
Cổ - Trung đại, Trung Quốc là một trong những vùng đất màu mỡ nhất của nền
triết học phương Đông với sự hình thành và phát triển của các trường phái triết
học: Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia và Pháp gia trong đó Nho gia và
Pháp gia có ảnh hưởng lớn nhất về vấn đề đạo đức, chính trị - xã hội của Trung
Quốc lúc bấy giờ. Trải qua thời gian, hai trường phái triết học này vẫn còn giá trị
đến ngày hôm nay không chỉ trong xã hội Trung Quốc mà còn ảnh hưởng đến cả

tưởng xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Nho gia không dừng lại với tư cách một
trường phái triết học vươn lên thành hệ tư tường xã hội mà còn được mở rộng
thành hệ thống niềm tin, tín ngưỡng.
Khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc và Đạo giáo ra đời, Nho giáo hấp
thụ một số tư tưởng của hai học thuyết này để tiếp tục phát triển. Sang thời nhà
Tống, Nho giáo mới thực sự phát triển mạnh mẽ. Chu Đôn Di (1017-1073) và
Thiệu Ung (1011- 1077) là người đã khởi xướng lý học trong Nho giáo. Với
thuyết thái cực đồ, Chu Đôn Di cho rằng: Nguồn gốc của vũ trụ là Thái cực. Thái
cực có thể động và thể tĩnh; động sinh ra dương, động cực rồi lại tĩnh và ngược
lại. Âm dương tác động sinh ra ngũ hành, rồi sinh ra vạn vật. Thời này còn có hai
anh em họ Trình: Trình Hạo (1032- 1085) và Trình Di (1033-1107) và Chu Hy
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia và Pháp gia Trung Quốc thời Cổ đại

CHK22 – NGÀY 4 – NHÓM 7 - STT 64 3

(1130-1200) … là những nhà lý học suất sắc. Họ đã nêu ra thuyết cách vật trí tri
(cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)
Nho gia tiếp tục chi phối đời sống tư tưởng xã hội trung quốc qua các triều
đại tiếp theo, nhưng nói chung Nho giáo trong thời Minh- Thanh không có phát
triển mà ngày càng khắt khe và bảo thủ. Sang thế kỷ XIX, Nho giáo đã thực sự
già cỗi và không còn sức sống nữa. Với tư cách là hệ tư tưởng chỉ đạo đường lối
tri nước ở Trung Quốc trên 2000 năm, Nho giáo đã đóng góp lớn vào sự nghiệp
tổ chức và quản lý xã hội, vào sự phát triển văn hóa và giáo dục, vào quá trình
rèn luyện đạo đức cá nhân, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Nhưng đến
cuối thời đại phong kiến, do tính phục cổ, bảo thủ của nó mà Nho giáo đã tạo ra
tình trạng trì trệ kéo dài của xã hội Trung Quốc, làm cho Trung quốc không bắt
kịp trào lưu văn minh của thế thới
Kinh điển của Nho gia gồm 2 bộ là Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân
Thu) và bộ Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh tử)
1.2 Một số tƣ tƣởng triết học cơ bản của Nho giáo

kinh dịch, Khổng tử cho rằng vạn vật không ngừng biến hóa theo một trật tự
không gì cưỡng lại được mà nền tảng tận cùng của trật tự đó là thiên mệnh. Sự
hiểu biết về thiên mệnh là điều kiện tiên quyết để trở thành con người hoàn thiện.
2. Khái quát về pháp gia
2.1 Sự hình thành và phát triển của Pháp gia
Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại, tư tưởng Pháp gia với đại biểu
xuất sắc là Hàn Phi Tử có một vai trò đặc biệt trong sự nghiệp thống nhất đất
nước và phát triển xã hội cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc.
Vào thời Xuân Thu, Quản Trọng (?-645 TCN) được xem là người đầu tiên
bàn về pháp luật như một cách trị nước, và chủ trương công bố pháp luật rộng rãi
trong công chúng. Đối với ông, người trị nước phải coi trọng luật, lệnh, hình,
chính. Tùy theo thời thế và ý của dân mà đưa ra pháp luật một cách rõ ràng, phải
chỉ cho dân biết rõ pháp rồi mới thi hành và khi thi hành pháp phải giữa cho được
lòng tin với dân.
Sang nửa đầu Chiến quốc, tư tưởng pháp trị được tiếp tục phát triển. Để
cai trị đất nước, Thận Đáo (370-290 TCN) chủ trương dùng thế, Thân Bất Bại
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia và Pháp gia Trung Quốc thời Cổ đại

CHK22 – NGÀY 4 – NHÓM 7 - STT 64 5

(401-337 TCN) chủ trương dùng thuật, còn Thương Ưởng (390-338 TCN) chủ
trương dùng pháp.
Cuối thời Chiến quốc, Hàn Phi (280-233 TCN) không chỉ tổng hợp ba
quan điểm về pháp, thế, thuật của ba nhà triết học trên thành một học thuyết có
tính hệ thống và trình bày trong sách Hàn Phi mà ông còn kết hợp ba học thuyết
Nho, Lão, Pháp lại với nhau, trong đó Nho gia được coi là “ vật liệu để xây dựng
xã hội”, Đạo gia là “kỹ thuật thi công”, còn Pháp gia là “bản thiết kế”.
2.2 Một số tƣ tƣởng triết học cơ bản của Pháp gia
- Quan niệm về thế giới
Hàn Phi thừa nhận sự tồn tại của lý- tính quy luật hay những hiện tượng

khí làm đất, còn sự điều hòa “âm”, “dương”, “trời”, “đất” sẽ sinh ra vạn vật.
Kế thừa và phát triển quan điểm duy vật về thế thới của Lão Tử và Tuân
Tử. Hàn Phi giải thích sự phát triển của vạn vật theo “đạo” và “lý” của chúng.
“Đạo” được thể hiện trong các sự vật hiện tượng bằng cái lý. “Lý” là sự phân biệt
giữa vuông tròn, ngắn dài, thô kệch và tinh tế, mạnh và yếu. “Đạo” là nguồn gốc
của sinh vật, là quy luật phổ biến của chúng, nó không thay đổi. “Lý” là quy luật
riêng, nó bất thường, luôn biến hóa không ngừng. Mọi hoạt động của con người
đều phải theo quy luật thể hiện đạo và tuân theo lý. Hàn Phi cho rằng, ngày nay
“lý” thay đổi thì phép trị quốc không thể theo đạo đức của Nho gia.
2. Về tƣ tƣởng biện chứng
a. Sự tương đồng
Cả hai phái Nho Gia và Pháp gia đều phát triển tư tưởng trên cơ sở phép
biện chứng. Các quan điểm, tư tưởng của hai phái này được hình thành với mục
đích bảo vệ và ủng hộ giai cấp thống trị đương thời. Chúng là cơ sở để gia cấp
thống trị duy trì và củng cố địa vị, bóc lột người lao động lúc bấy giờ.
b. Sự khác biệt
Nho gia xây dựng tư tưởng đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm:
vạn vật đều có chung nguồn gốc vận động không ngừng theo “đạo” của nó.
Khổng tử tin ở trời. Trời là lực lượng sinh ra thế giới và con người nên đóng vai
trò chi phối toàn bộ những gì xung quanh con người. Trời như một quan tòa công
minh cầm cân nảy mực phán xét mọi việc, trời định mọi việc thành bại trong
cuộc sống con người. Xuất phát từ vũ trụ quan của kinh Dịch, Khổng Tử cho
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia và Pháp gia Trung Quốc thời Cổ đại

CHK22 – NGÀY 4 – NHÓM 7 - STT 64 7

rằng, vạn vật không ngừng tiến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại nổi mà
nền tảng tận cùng của trật tự đó là thiên mệnh, còn sự hiểu biết được thiên mệnh
là điều kiện tiên quyết để trở thành con người hoàn thiện. Ông cho rằng: “không
hiểu mệnh trời thì không trở thành người quân tử. Đã biết có mệnh trời thì phải

Nho gia quan niệm “nhân chi sơ tính bản thiện”, con người sinh ra vốn
mang tính tốt nhưng do hoàn cảnh xã hội mà cái tính tốt đó được phát triển hay
bị biến đổi thành tính xấu. Theo Khổng Tử, bản tính thiện của con người được lý
giải thông qua lý luận về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng. Trong đó nhân – nghĩa là
quan trọng nhất.
- Quan niệm về nhân: Nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản,
quy định bản tính con người, chi phối mọi quan hệ giữa con người và con người
trong xã hội. Nhân là cách đối xử giữa con người với con người để tạo ra con
người. Người có đức nhân thì bên ngoài xã hội luôn cung, khoa, tín, mẫn, huệ
bên trong gia đình luôn hiếu, đễ. Khổng Tử cho rằng chỉ có người quân tử mới có
đức nhân còn người lao động không thể có được.
- Quan niệm về nghĩa: Nghĩa là dạ thủy chung, đức nghĩa dùng để
đối xử với chính mình và tạo ra ta, là những gì hợp đạo lý mà con người phải
làm. Con người muốn sống tốt phải lấy nghĩa đáp lợi chứ không nên lấy lợi đáp
lợi, vì lấy lợi đáp lợi sẽ sinh ra oán trách. Ông cho rằng bậc quân tử tinh tường về
việc nghĩa, kẻ tiểu nhân rành rẽ về việc lợi.
- Quan niệm về lễ: Để đạt được nhân, lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ
cương cho xã hội, Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ. Lễ có thể xác định được vị
trí vai trò của từng người, phân định trật tự, kỷ cương trong gia đình và ngoài xã
hội, loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi.
- Quan niệm về trí: Trí là sự sáng suốt, nhận thức thấu đáo mọi vấn
đề, hiểu thấu đáo đạo trời, đạo người, hiểu cả thiên hạ, biết sống hợp với nhân.
Khổng Tử coi trí là điều kiện để có nhân, muốn có trí thì phải học.
- Quan niệm về tín: Tín là lòng ngay dạ thẳng, lời nói và việc làm
nhất trí với nhau. Tín củng cố sự tin cậy giữa người với người, củng cố các mối
liên hệ cơ bản trong xã hội phong kiến. Đối với người trị nước, trị dân, nếu dân
không tin thì không thể cai trị được.
- Quan niệm về dũng: Dũng là sức mạnh tinh thần, lòng can đảm,
biết xấu hổ vì cái sai, cái xấu để vất bỏ chúng mà làm theo nhân nghĩa.
Phạm trù đạo đức thể hiện các nguyên tắc cơ bản của Nho gia, tùy từng

trong xã hội, và phải được cả xã hôi công nhận. Có như vậy các chủ trương
đường lối trị quốc mới được thực thi một cách thống nhất và hiệu quả.
b. Sự khác biệt
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia và Pháp gia Trung Quốc thời Cổ đại

CHK22 – NGÀY 4 – NHÓM 7 - STT 64 10

Do có những quan niệm về con người, về đạo đức con người khác nhau
mà Nho gia và Pháp gia có những quan điểm rất khác nhau trong cách trị quốc
của mình.
Nội dung quan điểm đạo đức của Nho gia dựa trên lý luận về nhân, nghĩa,
lễ, trí, tín, dũng do đó Nho gia xây dựng đường lối trị quốc dựa trên quan điểm
dùng “đức trị”. Theo quan điểm này, cai trị quốc mà dùng mệnh lệnh, đưa dân
vào khôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh được tội lỗi nhưng không
biết liêm sỉ và thực lòng quy phục. Muốn lấy được lòng dân thì người đứng đầu
phải dùng “nhân trị”. Đó là hình thưc cai trị đất nước mà theo đó nhà cầm quyền
phải lấy đạo đức mà giáo hóa, dẫn dắt dân chúng chứ không phải dùng đến
cưỡng chế, trừng phạt. Nội dung đường lối đức trị hướng tới thực hiện ba điều:
dân đông, kinh tế phát triển, dân được học hành. Biện pháp để thi hành đường lối
đức trị là thận trọng trong công việc, gìn giữ chữ tín, tiết kiệm trong tiêu dùng,
thương người, sử dụng sức dân hợp lý.
Nho gia dùng công cụ giáo dục để xây dựng xã hội đại đồng. Khổng Tử
cho rằng, nhân cách không phải bẩm sinh, bởi bản chất ban đầu của mọi con
người đều giống nhau, do tác động của môi trường, của điều kiện sống nên thói
quen đem lại cho người tính lành, kẻ tính ác. Vì vậy giáo dục có thể cải hóa được
tất cả, trừ những người gọi là thượng trí và những kẻ hạ ngu.
Xuất phát từ quan điểm bản tính con người là ác, trong xã hội người tốt
cũng có nhưng ít, còn kẻ xấu thì rất nhiều, Pháp gia đã xây dựng phép trị quốc sử
dụng ba công cụ: “pháp”, “thế”, “thuật”.
“Pháp” được hiểu là những quy định, luật lệ có tính khuôn mẫu mà mọi

- Nho gia suy cho cùng cũng là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về
mặt triết học, nó được sử dụng để bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến, góp
phần duy trì quá lâu chế độ phong kiến tại Việt Nam
- Nho gia là một trong những nguyên nhân kìm hãm nền sản xuất ở
Việt Nam phát triển, nó không thúc đẩy sự phát triển của khoa học tự nhiên, do
chỉ quan tâm đến vấn đề con người vào đạo đức
- Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã đã đến thực trạng chuyên quyền,
gia trưởng của người đàn ông trong xã hội Việt Nam, phụ nữ vào những quy tắc
khắt khe, hà khắc.
2. Ảnh hƣởng của Pháp gia
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia và Pháp gia Trung Quốc thời Cổ đại

CHK22 – NGÀY 4 – NHÓM 7 - STT 64 12

Tư tưởng Pháp trị thời Cổ đại Trung Quốc đặt nền móng đầu tiên cho việc xây
dựng một xã hội sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam hiện
nay. Trong quá trình thực hiện pháp trị, chúng ta đã khắc phục được những tồn
tại cố hữu của những tử tưởng trị quốc theo Pháp gia Trung Quốc đó là tính cứng
nhắc trong thực hành pháp luật, qua đó đưa ra đường lối quản lý đất nước mềm
dẻo hơn, vừa có tính răn đe vừa có tính giáo dục quần chúng nhân dân.
KẾT LUẬN
Các nhà tư tưởng của trường phái Nho gia khao khát cải biến xã hội từ
loạn thành trị, đây cũng là ước nguyện của cả thiên hạ lúc bấy giờ. Nho gia xây
dựng hình ảnh người quân tử, không phải là dân võ bền mà phải là người có vốn
văn hóa toàn diện. Chủ trương xây dựng một xã hội đại đồng của Nho gia không
hoàn toàn dựa trên các quan hệ kinh tế - xã hội, không xuất phát từ việc xây dựng
nền sản xuất vật chất, không dựa vào quần chúng nhân dân bị trị, mà chỉ dựa trên
các quan hệ đạo đức – chính trị - xã hội, xuất phát từ việc giáo dục rèn luyện
nhân cách cá nhân cho tầng lớp thống trị và chỉ dựa vào tầng lớp thống trị là một
quan điểm duy tâm, ảo tưởng, xa rời thực tế cuộc sống. Tuy nhiên, Nho gia chứa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status