Tư tưởng Hồ Chí Minh Thân dân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................................3
NỘI DUNG.........................................................................................................4
I – TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA CÁC THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT NAM......4
1. Tư tưởng thân dân trong chế độ phong kiến..................................................4
2. Tư tưởng thân dân của một số nhà cách mạng đầu thế kỉ XX......................8
II – TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THÂN DÂN.......................................11
1. Trái tim yêu nước, thương dân.....................................................................11
2. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân......................13
3. Trung với nước, hiếu với dân.......................................................................15
4. Nền quốc phòng toàn dân.............................................................................16
III – VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG THÂN DÂN VÀO THỰC TẾ VIỆT NAM
HIỆN NAY.......................................................................................................19
1. Đảng và Nhà nước ta hiện nay với vấn đề thân dân....................................19
2. Giải pháp.......................................................................................................21
KẾT LUẬN.......................................................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................25
2
Tư tưởng Hồ Chí Minh Thân dân
LỜI MỞ ĐẦU
Ở đất nước Việt Nam, đã từ lâu nay, các em nhỏ hát vang lời ca: “Ai
yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Có mấy người trên trái đất
này để lại muôn vàn tình thương yêu cho dân tộc mình và bạn bè trên thế
giới, cả lúc đương thời lẫn lúc đi xa, như Bác Hồ!
Gắn bó cả cuộc đời với dân tộc, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách,
hiểm nguy, đưa nhân dân ta thoát khỏi kiếp đời nô lệ, giành được độc lập tự
do, Người là tấm gương sáng cho các thế hệ thanh niên Việt Nam. Từ những
cử chỉ, lời nói, việc làm, chuyện ăn, ở, đi lại, sống, chiến đấu, lao động và
học tập; đến đạo đức, nhân cách, tư tưởng của Bác đã để lại những dấu ấn rất
sâu đậm mà giản dị, thân quen, đã được nhân dân ta kể lại cho nhau nghe
cũng đã chứng minh: đời vua nào minh đức, yêu dân, quan tâm tới đời sống
nhân dân thi người dân được ấm no, xã tắc được cường thịnh, bền vững. Nó
thể hiện nhất quán tư tưởng : dân là nước, còn dân thì còn nước. Đất nước có
tạm thời bị giặc ngoại xâm chiếm đóng, nhưng làng không mất, dân không
mất thì nhân dân sẽ đứng lên đấu tranh, đất nước nhất định sẽ được khôi
phục trong độc lập, tự do. Ngay từ buổi đầu dựng nước, thân dân vốn là
chính sách nổi tiếng của các vua Hùng. Vua và dân cùng đi săn khi bắt được
những con thú rừng như hươu, nai..., vua chỉ ăn bộ lòng còn thịt thì để
nhường thần dân. Sau gần ngàn năm Bắc thuộc, tinh thần dân bản Văn Lang
vẫn kiên thủ ở làng xã. Các triều Lê, Lý, Trần đều có chính sách sử dụng
những người có tài năng, đức độ trong nhân dân; biến những giáo lý chính trị
đạo đức của Nho giáo thành những tín điều yêu nước, thương dân, bạn bè
4
Tư tưởng Hồ Chí Minh Thân dân
hoà thuận, gia đình hiếu nghĩa, yêu thương lẫn nhau, lên án tệ chuyên quyền,
áp chế và cuộc sống sa đoạ của vua, quan. Trong thời Lý, việc chăm lo đời
sống nhân dân, quan tâm đến nguyện vọng của nhân dân đã được khẳng định
là điều quan trọng hàng đầu trong đạo trị nước. Thế nên mới có chuyện vua
Lý lấy áo đắp cho người già yếu. Trong bài văn lộ bố khi đánh Tống của Lý
Thường Kiệt có viết: "Trời sinh ra dân chúng; vua hiền tất hòa mục. Đạo làm
chủ dân cốt ở nuôi dân". Vị thái úy triều Lý cũng được người đời ca ngợi:
"...làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy.
Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân
kính trọng... Thái úy biết dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm
gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi
dưỡng đến người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà được yên
thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước; cái thuật yên dân; sự
đẹp tốt đều ở đấy”.
Kế thừa truyền thống của nhà Lý, các vị vua Trần đã tiếp tục kiến quốc,
cứu quốc và phát triển quốc gia tới đỉnh thăng hoa lịch sử. Điển hình là Phật
Tượng… đều có dịp lập công với nước. Tinh thần dân bản này đã huy động
được toàn dân từ làng xóm thôn quê, từ tận “đáy” dân tộc, nên Hưng Ðạo
Vương mới ba lần đại phá Mông Cổ, bằng tự lực tự cường không có ngoại
bang nào trợ giúp đằng sau. Nhìn lại thắng lợi này, ông cho rằng: "Vua tôi
đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức" là nhân tố đã làm cho
"quân địch phải chịu bị bắt". Tháng 6 năm 1300, Hưng Đạo Vương ốm. Vua
ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại
sang xâm lược thì kế sách như thế nào?" Hưng Đạo Vương trả lời: “…khoan
thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách gịữ nước.”. Triết lý
của ông đơn giản mà vô cùng sâu sắc, là đạo cầm binh muôn đời.
6
Tư tưởng Hồ Chí Minh Thân dân
Đến thế kỉ XV, dưới thời nhà Lê, tư tưởng thân dân lại một lần nữa trở
thành lý tưởng sống của một con người, đó là Nguyễn Trãi. Trong Bình Ngô
đại cáo, nổi bật là việc nhấn mạnh đến tư tưởng vì dân; quan tâm trước hết
đến đời sống nhân dân, đến hạnh phúc của mọi người. Đây chính là một tư
tưởng lớn nhất đã được thiên cổ hùng văn này thể hiện
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Theo Nguyễn Trãi, “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” tức là sức của dân
như nước, nước chở thuyền và cũng có thể lật thuyền. Sau chiến thắng chống
quân Minh, Nguyễn Trãi đã viết Đại cáo Bình Ngô không chỉ ghi công cho
trời thần, danh tướng, mà còn cẩn trọng ghi công lao của nhân dân lao khổ -
sức mạnh đầu tiên xung phong đánh thắng giặc Minh: “dựng gậy làm cờ, bốn
phương dân cày tụ họp”. Sau này khi Nguyễn Trãi được chỉ định làm lễ nhạc,
ông đã dâng một tờ tấu thể hiện tư tưởng "thân dân", bài tấu có đoạn viết: "
Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc là
đúng lúc. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn hóa thì
không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc...
Dám mong bệ hạ rũ lòng thương yêu mà chăn nuôi muôn dân, khiến trong
Phan Bội Châu là một nhà cách mạng Việt Nam, hoạt động dưới thời kỳ
Pháp thuộc. Ông đã thành lập phong trào Duy Tân Hội và khởi xướng phong
trào Đông Du. Cốt lõi trong tư tưởng của Phan Bội Châu là quan niệm về dân
quyền. Quan niệm này thể hiện mục đích thiêng liêng cứu nước, giải phóng
dân tộc để đem lại tự do, hạnh phúc cho dân, đem lại quyền lực cho dân, để
cho người dân trở thành chủ thể của các quyền lực trong xã hội. Trân trọng
và đề cao quyền làm người, quyền của người dân là một trong những biểu
hiện sinh động trong quan niệm của ông. Phan Bội Châu chủ trương nhờ vào
8
Tư tưởng Hồ Chí Minh Thân dân
sự giúp đỡ của Nhật Bản, một nước châu Á da vàng để lật đổ Thực dân Pháp.
Ông hô hào nhân dân học hỏi từ các cuộc cách mạng và các lãnh tụ Đông Á,
và cho rằng, với sự giúp đỡ của các nước Đông Á đồng văn, người Việt có
thể giành lại độc lập cho chính mình. Tuy nhiên, khuyết điểm lớn nhất của
ông là đã không lôi kéo được thành phần dân nghèo, số người chiếm 80%
dân số Việt Nam thời điểm đó, vào công cuộc giành độc lập. Thay vào đó,
ông chỉ chú trọng vào tầng lớp đứng đầu xã hội, tin tưởng rằng dân chúng
bần nông sẽ tự động theo gương đấu tranh của các bậc học giả trí thức. Chính
điều này đã dẫn đến sự thất bại trong các hoạt động của Phan Bội Châu.
Phan Châu Trinh là nhà cách mạng xã hội có tư tưởng dân chủ đầu tiên,
là nhà văn hóa, một nhân cách lớn. Đi đầu phong trào Duy Tân đầu thế kỷ
20, ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Mặc dù rất đau
xót trước cảnh người Pháp ngược đãi người Việt Nam, nhưng quan điểm của
ông là trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia, độc
lập dân tộc, bởi vì ông thấy dân trí nước ta còn quá thấp. Theo ông, trong
tình trạng như vậy thì dầu có giành được độc lập "cũng không phải là điều
hành phúc cho dân". Phan Châu Trinh cho rằng nhiệm vụ cấp bách là phải
“chấn dân khí - khai dân trí - hậu dân sinh”. Ông đi theo con đường ôn hòa,
đàm phán. Phan Châu Trinh yêu cầu chính quyền thuộc địa sửa đổi chính
sách cai trị hiện hành để có thể giúp nhân dân Việt Nam từng bước tiến đến