CÁI ĐÓI – CHỦ ĐỀ ÁM ẢNH
TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA
NAM CAO
- 1 -
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT.
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài.
2. Lịch sử vấn đề.
3. Mục đích, yêu cầu.
4. Phạm vi đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC THUẬT NGỮ:
CHỦ ĐỀ VÀ CHỦ ĐỀ ÁM ẢNH.
1.1. Khái niệm về tính biểu hiện của chủ đề.
1.1.1. Khái niệm về chủ đề.
1.1.2. Biểu hiện của chủ đề.
1.2. Khái niệm về chủ đề ám ảnh.
CHƯƠNG 2
TÁC GIẢ NAM CAO
2.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.
2.1.1. Cuộc đời.
2.1.2. Sự nghiệp sáng tác.
2.2. Quan điểm sáng tác.
2.2.1. Quan điểm sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám – 1945.
2.2.2. Quan điểm sáng tác của Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám – 1945.
2.3. Nam Cao với làng Đại Hoàng.
2.4. Hai loại đề tài trong sáng tác của Nam Cao.
2.4.1. Đề tài về người nông dân nghèo.
2.4.2. Đề tài về người trí thức tiểu tư sản nghèo.
CHƯƠNG 3
chính sách tô cao thuế nặng, Nhật còn đưa ra chương trình “kinh tế chỉ huy” nhằm thực
hiện một cách triệt để chủ trương phát xít của mình. Để phục vụ chiến tranh, phát xít Nhật
còn cần rất nhiều nhiên liệu từ những cây trồng có sợi, có dầu như: đay, gai, bông, thầu
dầu,… nên chúng đã bắt rất nhiều vùng quê nhổ lúa trồng đay và các loại cây trên. Chiến
tranh làm cho nhu cầu nhiên liệu như: than, dầu, điện của Nhật tăng cao, chúng đã lấy ngô,
vừng, lạc và cả lúa gạo để thay thế những nhiên liệu này phục vụ mưu đồ phát xít, đẩy
người dân vào thảm hoạ chết đói năm 1945.
Trong tất cả những thảm họa gây ra cái chết cho con người, có lẽ chết đói là một
trong những cái chết thê thảm và đau đớn nhất. Cũng chính vì vậy mà biết bao người trong
hoàn cảnh ấy đã cố níu lấy sự sống bằng tất cả những gì có thể ăn được kể cả gốc củ ráy,
cây choóc (những loại cây ngứa vô cùng), cám và khô dầu (không phải thức ăn cho người),
khô dầu ăn nhiều tức bụng, ăn ngày này qua ngày khác có thể sưng bủng ra mà chết, không
phải chết đói mà là chết…no. Đói khát và giặc giã, đó là hai thứ nạn khủng khiếp, hai nỗi
lo sợ bao giờ cũng có sẵn trong tiềm thức người Việt Nam trước cách mạng.
Thiên nhiên khắc nghiệt, hoàn cảnh khó khăn, chiến tranh triền miên trở thành
nguồn cảm hứng sáng tác đặc biệt, mang đậm chất nhân văn. Vì thế mà nhiều nhà thơ, nhà
- 4 -
văn ngày xưa thường viết về nạn hạn hán, lụt lội, mất mùa đói kém, đặc biệt là các nhà văn
hiện thực phê phán trước Cách mạng tháng Tám lại có nguồn cảm hứng đặc biệt về miếng
ăn của con người, họ băn khoăn trước trước nỗi vinh nhục của miếng ăn và công việc làm
ra miếng ăn của các nhân vật. Trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng
Phụng, Ngô Tất Tố và Nam Cao, đề tài miếng ăn, đúng hơn là cái khổ và cái nhục của
miếng ăn được lặp đi lặp lại rất nhiều. Theo Giáo Sư Nguyễn Đăng Mạnh, Nam Cao là
“cây bút viết về cái đói và miếng ăn nhiều hơn cả và viết một cách sâu sắc, cay đắng, day
dứt hơn cả” (Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. NXB giáo dục, Hà Nội,
1996 trang 180).
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của dòng văn học hiện
thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Những tác phẩm của ông rất có giá trị về
tình yêu thương, đầy tinh thần trách nhiệm đối với cuộc đời cũng như đối với con người.
Nam Cao xứng đáng với lòng ngưỡng mộ, yêu quý của nhiều thế hệ độc giả. Đó là tất cả
Cao – về tác gia và tác phẩm, 1956), Nguyên Hồng (Đọc những truyện ngắn của Nam Cao,
1960) được công bố thì sự nghiệp văn học của Nam Cao bắt đầu được những người nghiên
cứu văn học quan tâm.
Tập chuyên luận đầu tiên về sự nghiệp văn học của Nam Cao là “Nam Cao – nhà
văn hiện thực xuất sắc” của Hà Minh Đức (NXB văn hóa, Hà Nội, 1961). Với công trình
này Hà Minh Đức đã trở thành một nhà nghiên cứu có đóng góp quan trọng trong việc
khẳng định những thành tựu nghệ thuật của Nam Cao. Trong thời gian này, còn phải kể đến
nhiều bài nghiên cứu về Nam Cao như Huệ Chi – Phong Lê với “Con người và cuộc sống
trong tác phẩm của Nam Cao (Tạp chí nghiên cứu văn học, số 1 – 1961), Lê Đình Kỵ với
“Nam Cao – con người và xã hội cũ (Nam Cao – về tác gia và tác phẩm). Hà Minh Đức
cho rằng: “Qua nội dung những sáng tác của Nam Cao trước cách mạng, ta có thể rút ra
hai loại chủ đề chính: chủ đề về nông dân và và chủ đề về tiểu tư sản thành thị, đặc biệt là
tầng lớp tiểu tư sản trí thức nghèo.
Về loại chủ đề thứ nhất, chủ yếu Nam Cao dựa vào thực tế đời sống ở quê hương
mình.
Về loại chủ đề thứ hai, chủ yếu Nam Cao dựa vào sự khai thác bản thân” (Nam Cao
– nhà văn hiện thực xuất sắc trang 52).
- 6 -
Nói về cuộc sống của những người tiểu tư sản trí thức, Phong Lê trong bài viết
“Sống mòn và tâm sự của Nam Cao” (Tạp chí văn học, số 9_1986 trang 38-47) cho rằng:
“Họ là những người “xo ro” trong cuộc sống cá nhân, trong quan hệ xã hội và “xo ro”
trong mục đích cuộc sống”.
Bên cạnh đó, một bài viết trong thời kì này còn khai thác chủ đề quan hệ giữa con
người và xã hội thực dân phong kiến trong tác phẩm của Nam Cao. Lê Đình Kỵ trong bài
“Nam Cao – con ssngười và xã hội cũ” cho rằng: “Có những chủ đề Nam Cao và có
những nhân vật Nam Cao, Nam Cao còn bị ám ảnh bởi cái cảnh tượng cuộc sống vô lí,
những con người bị tha hóa, bị biến chất, bị hóa thành cái ngược lại với nó. Ngòi bút của
Nam Cao đặc biệt sắc sảo khi vẽ lại con người quặt quẹo, méo mó, đần độn, cục súc, táng
tận lương tâm”. (Báo văn nghệ số 54 – 1964)
Trong những năm 90, việc xác định về chủ đề Nam Cao có nhiều bước chuyển đổi.
này, người viết hy vọng sẽ góp một phần nhỏ công sức của mình vào công trình nghiên cứu
về “Cái đói – chủ đề ám ảnh trong tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám
1945”.
3. Mục đích yêu cầu.
Trong luận văn này người viết muốn phần nào giúp mọi người thấy được cái đói
chính là một thảm họa mà con người trong thời điểm lịch sử xã hội đương thời mà Nam
Cao đang sống phải gánh chịu. Thảm họa ấy được nhà văn khắc họa hết sức rõ nét và đáng
sợ. Trong thảm họa ấy, Nam Cao chỉ rõ đâu là hung thủ, đâu là nạn nhân. Chính ở điểm này
đã diễn ra sự gặp gỡ tuyệt vời giữa trí tuệ và trái tim nghệ sĩ.
Những tác phẩm là nỗi niềm trăn trở của Nam Cao về tương lai của dân tộc, về cuộc
sống của con người, đồng thời đó cũng là ý thức về trách nhiệm, về lương tâm của người
cầm bút. Thấy được “Cái đói – chủ đề ám ảnh trong tác phẩm của Nam Cao trước Cách
mạng tháng Tám 1945” tức là thấy được cái nhìn sắc sảo của Nam Cao đối với những vấn
đề nóng bỏng trong xã hội cũng như tấm lòng đồng cảm thương xót đối với người lao động
nghèo phải chật vật trước sự cực khổ, vinh – nhục của miếng ăn.
Thông qua luận văn, người viết muốn phần nào giúp mọi người có một góc nhìn sâu sắc
hơn về nạn đói và hiểu được nguyên nhân vì sao đồng bào ta lại lâm vào nạn đói 1945. Đồng
- 8 -
thời giúp chúng ta hình dung một cách rõ néts cuộc sống cơ cực, đói khổ, lầm than của nhân
dân và hiểu thêm về hiện thực xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Ngoài ra, nghiên cứu đề tài này còn giúp người viết có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn
với những tác phẩm của Nam Cao, cũng như là hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời và sự nghiệp
sáng tác của ông.
4. Phạm vi đề tài.
Do số lượng tác phẩm của Nam Cao khá nhiều, cùng với tư tưởng của nhà văn cũng
thay đổi trước và sau cách mạng, người viết chọn đề tài: “Cái đói – chủ đề ám ảnh trong
tác phẩm Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945”. Ở đề tài này, người viết xin được
giới hạn phạm vi đề tài nghiên cứu tập trung vào “cái đói” được phản ảnh trong tác phẩm
của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Do thời gian làm luận văn có hạn mà số lượng tác phẩm của Nam Cao trước cách
Phương pháp đối chiếu, so sánh.
- 10 -
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC THUẬT NGỮ:
CHỦ ĐỀ VÀ CHỦ ĐỀ ÁM ẢNH
1.1. Khái niệm và tính biểu hiện của chủ đề.
1.1.1.Khái niệm về chủ đề.
Về khái niệm chủ đề, người viết tiếp thu những luận điểm về chủ đề đã được trình
bày trong bộ “Lí luận văn học” của Phương Lựu (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997), đặc biệt là
các luận điểm:
- Chủ đề là vấn đề cơ bản, là phương diện chính yếu của đề tài.
- Chủ đề thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng, khả năng thâm nhập vào bản
chất đời sống của nhà văn.
- Chủ đề có vai trò lớn trong việc làm cho tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng.
- Chủ đề của những tác phẩm lớn thường là những vấn đề khái quát vượt lên trên đề
tài.
- Về bản chất, chủ đề văn học không bao giờ là vấn đề đơn nhất.
Bên cạnh đó, người viết xin nhấn mạnh ở khái niệm chủ đề luận điểm sau: Khái
niệm chủ đề (Tema – tiếng Nga) hàm chứa hai phương diện khách quan và chủ quan. Chữ
“Tema” tùy theo văn cảnh có thể được dịch là đề tài hoặc chủ đề. Ở phương diện khách
quan, chủ đề là hiện thực đời sống được nhà văn tái hiện trong tác phẩm. Ở phương diện
chủ quan, chủ đề là sự cảm nhận có tính độc đáo của nhà văn trước hiện thực. Phương diện
chủ quan của chủ đề được cụ thể hóa, khát quát hóa một cách chính xác và đầy đủ qua luận
điểm: “Trong nghiên cứu văn học hiện đại, chủ đề còn được xem là phạm vi quan tâm chủ
quan của nhà văn đối với thế giới, là hằng số tâm lý của nhà văn, gắn liền với quan niệm
thới giới của anh ta” (Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Lê Bá Hán – Trần Đình Sử. Từ điển
thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, 1997, trang 53).
1.1.2.Biểu hiện của chủ đề.
Về hình thức biểu hiện của chủ đề, có thể nắm bắt chủ đề của tác phẩm văn học qua
các phương diện sau:
được chấp nhận. Một người trong họ mở trường tư ở Hà Nội, cần một giáo viên có bằng
trung học, Nam Cao được mời lên dạy học. Cuộc sống của một thầy giáo khổ trường tư
đã giúp Nam Cao hiểu sâu sắc thân phận của người trí thức nghèo, trong một xã hội ngột
ngạt, bế tắt. Khi phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, trường bị đóng cửa, Nam Cao sống
chật vậst bằng nghề viết văn, làm gia sư, có khi thất nghiệp phải về quê “ăn bám” vợ.
Năm 1943, Nam Cao gia nhập nhóm văn hóa cứu quốc bí mật cùng với một số nhà
văn như: Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi… Khi cơ sở văn
hóa cứu quốc và phong trào cách mạng ở Hà Nội bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê
tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương.
Thời kì Cách mạng tháng Tám, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý
Nhân, và được bầu làm chủ tịch xã. Sau đó ít lâu, Nam Cao được điều lên Hà Nội và công
tác ở Hội Văn hóa cứu Quốc. Có thời kì, Nam Cao làm thư kí tòa soạn tạp chí Tiên Phong,
cơ quan của Hội.
- 13 -
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao theo đoàn quân Nam tiến vào vùng Nam
Trung Bộ. Năm 1947, ông lên Việt Bắc. Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
Nam Cao vừa làm biên tập cho các báo cứu quốc Việt Bắc, cứu quốc Trung Ương, vừa làm
mọi công việc của một cán bộ thông tin tuyên truyền. Thời gian này, Nam Cao được vinh
dự gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương (1947).
Tháng 11/1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu Liên Khu Ba, Nam Cao bị
địch phục kích và bắn chết gần bốt Hoàng Đan (Ninh Bình). Năm 1996, Nam Cao được
nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh – đợt I năm 1996.
2.1.2. Sự nghiệp sáng tác.
Nam Cao hy sinh giữa lúc ngòi bút đang ở giai đoạn trưởng thành và chín muồi để
chuyển hướng từ chủ nghĩa Hiện thực phê phán sang chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ
nghĩa. Sự ra đi của Nam Cao không chỉ để lại khoảng trống cho nền văn học dân tộc mà
còn mất đi một nhân tài của tổ quốc.
Chỉ với mười lăm năm cầm bút (1936 – 1951) nhà văn liệt sĩ Nam Cao đã để lại một
sự nghiệp văn chương tuy không thật đồ sộ về khối lượng nhưng lại luôn ẩn chứa một sức
sống khỏe khoắn, bền lâu của một giá trị văn chương đích thực, có sức vượt lên trên “các
2.2.1. Quan điểm sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám – 1945.
Trong cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn suy nghĩ về “sống và viết”. Ban đầu, ông
chịu ảnh hưởng sâu của phong trào lãng mạn đương thời, đã sáng tác những bài thơ,
chuyện tình lâm li dễ dãi. Nhưng ông đã dần nhận ra thứ văn chương đó rất xa lạ với đời
sống lầm than của đông đảo quần chúng nghèo khổ xung quanh và ông đã đoạn tuyệt với
nó đề tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh”. Trong truyện ngắn “Trăng
sáng” (1943), được coi là một tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng, ông
viết: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng
lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”.
Theo Nam Cao, người cầm bút không được trốn tránh” sự thực, mà hãy “cứ đứng trong
lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời…”.
Lên án văn chương thoát li, Nam Cao cũng không tán thành loại sáng tác “chỉ tả
được cái bề ngoài của xã hội”. Trong truyện ngắn “Đời thừa” (1943), Nam Cao cho
- 15 -
rằng một tác phẩm “thật giá trị” thì phải có nội dung nhân đạo sâu sắc: “Nó phải chứa
đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng
lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”. Đồng thời,
nhà văn đòi hỏi cao sự tìm tòi sáng tạo trong nghề văn và lương tâm người cầm bút.
Ông viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu
mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi,
khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa). Ông coi
sự cẩu thả trong nghề văn chẳng những là “bất lương” mà còn là “đê tiện”.
2.2.2. Quan điểm sáng tác của Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám –
1945.
Sau Cách mạng tháng Tám, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao càng đạt tới trình
độ giác ngộ cao hơn, đồng thời được phát huy trên lập trường mới. Truyện ngắn “Đôi
mắt” là một tuyên ngôn về thái độ mới của nhà văn Nam Cao. Nhà văn Tô Hoài gọi “
Đôi mắt là một thứ tuyên ngôn nghệ thuật chung của lớp nghệ sĩ các anh hồi ấy”. Nếu
gọi “Đôi mắt” là bản tuyên ngôn nghệ thuật, thì trước hết đó là bản tuyên ngôn về lập
trường cách mạng, lập trường kháng chiến của lớp văn nghệ sĩ tiểu tư sản quyết tâm từ
để bao chiếm công điền, công thổ, cho vay nặng lãi. Rồi bốc lột bằng sưu thuế, bằng bắt
nợ, bán thứ vị trong làng, ăn tiền trong những ngày bắt phu… Chúng còn dung tay chân
chuyên đi bỏ rượu lậu vu oan cho những người mà chúng muốn ăn tiền hoặc trị tội. Có khi
bọn cường hào trực tiếp đánh đập đàn áp nông dân. Điển hình cho sự đàn áp là Phó
Nguyên. Hắn đã từng đánh chết ba mươi người vào năm đói, khi họ đi trộm ngô.
Bọn cường hào lí dịch càng giàu có bao nhiêu thì ngược lại, người nông dân lao
động càng khổ cực bấy nhiêu. Họ quá ít hoặc không có ruộng đất. Họ phải nộp tô nặng nề,
làm phu sai tạp dịch. Nhiều người nông dân ở đây phải làm nghề phụ như dệt vải. Những
năm trước Cách mạng, họ mua vé sợi của nhà máy sợi Nam Định. Gần như cả làng dệt vải.
Một số không ít phải chạy chợ, mang hoa quả xuống Nam Định bán.
Làng Đại Hoàng là đất bồi nên có kinh tế vườn, đặc sản là mía xương gà và chuối
ngự. Nông dân ở Đại Hoàng phải tha phương cầu thực. Nhu cầu cấp thiết bậc nhất của
- 17 -
người nông dân ở đây là cái ăn. Nhiều người phải bán hết tài sản của mình để cứu đói. Anh
Tín bán nhà cho Nam Cao và sau khi bán thì không còn chỗ nương náo. Ông Trần Đức San
phải bán con chó mà ông yêu quý và cũng là tài sản cuối cùng của ông. Nhiều người không
còn gì bán để ăn nữa thì phải chịu nhận cái chết thê thảm, như ông Đào ăn bả chó mà chết.
Tháng 3/ 1945, làng Đại Hoàng có đến 857 người chết đói, 27 gia đình đi mất tích. Vì đói
khổ và bị áp bức, một số nông dân đã bị đẩy vào con đường lưu manh hóa như kiểu Chí
Phèo, Binh Chức, Năm Thọ trong tác phẩm của Nam Cao.
Người nông dân làng Đại Hoàng còn khổ cực vì nhiều nguyên nhân khác như hủ
tục, dốt nát, rượu chè, cờ bạc. Bọn cường hào ở đây cố duy trì và phát triển những tệ nạn
đó để dễ bề cai trị. Dân Đại Hoàng đến 97% mù chữ, chỉ có hai lớp học nhỏ trên 4400
người dân.
Sống trong hoàn cảnh ấy, không phải người nông dân lúc nào cũng chịu ép một bề.
Có lúc họ cũng có những phản ứng nhất định. Họ viết trần ngôn, đặt vè để vạch mặt hoặc
cảnh cáo bọn cường hào. Cá biệt có người đánh trả chúng rồi vào tù.
Đến những năm tháng gần Tổng khởi nghĩa, do phong trào Cách mạng lan rộng và
do sự tuyên truyền cách mạng của Đảng, người nông dân làng Đại Hoàng dần dần giác ngộ
và hòa nhập với phong trào Cách mạng đang phát triển trong toàn quốc, chuẩn bị cho Tổng
nhà văn hiện thực khác như: đời sống khó khăn, thóc cao gạo kém, con người phải vật lộn
để kiếm sống. Nhưng trong tác phẩm của Nam Cao, cái đói như một sức mạnh vô hình thít
chặt lấy số phận của các nhân vật từ “Nghèo” đến “Lão Hạc”, “Quái dị”… Chúng ta đều
bắt gặp một hoàn cảnh chung: nông thôn xơ xác, tiêu điều. “Nhà cửa lưa thưa. Toàn những
nhà tre úp xúp giữa những khu vườn rộng nhưng xấu lắm: mía đốt như lau hoặc khẳng
khiu như chân gà, chuối lè tè như những cây rau diếp ngồng, dĩ chỉ đến cây khoai, cây ráy
cũng không lên được. Người xấu xí và rách rưới. Cái số trẻ bụng ỏng mắt toét ngoài
đường sẵn lắm.” (Quái dị).
Xuyên suốt trong những truyện ngắn viết về người nông dân của Nam Cao là hình
ảnh những con người vật vã, giằng co với miếng ăn hàng ngày. Đó là những quá trình vật
lộn với cái nghèo, cái đói. Cái nghèo, cái đói luôn đeo đẳng đã làm cho những người nông
dân khốn khổ phải tìm mọi cách để vượt qua. Và cái chết là phương thuốc hữu hiệu nhất để
cắt rời họ với đói nghèo. Đó là cái chết đau đớn, xót xa của bà cái Đĩ (Một bữa no), anh Đĩ
Chuột (Nghèo), lão Hạc (Lão Hạc)… “Số phận các nhân vật của Nam Cao trước sau đều
- 19 -
kết thúc môt cách hết sức bi thảm. Cái chết vật vã, dữ dội của lão Hạc, cái chết ai oán đau
thương của bà cái Đĩ, cứ dội lên như những tiếng nấc, những tiếng thở dài não nuột. Trong
những ngày còn sống, cuộc đời đã dành cho họ biết bao cay đắng, lúc qua đời họ lại phải
nhận một cái chết thảm thê” (Hà Minh Đức – Nam Cao đời văn và tác phẩm – Nxb Hội
nhà văn, 1997, tr 45 – 46). Mỗi người môt hoàn cảnh, nhưng chung quy lại là cảnh nghèo
đói và chết đói của họ mang một ý nghĩa tố cáo xã hội sâu sắc. Cái đói làm thui chột nhân
cách của con người, làm mất đi những giá trị truyền thống, những tình cảm thiêng liêng. Vì
miếng ăn mà người cha luôn nhìn vào cái bụng căng tròn của con mình và khẳng định rằng:
“Trẻ con không biết đói” (Trẻ con không biết đói). Vì miếng ăn mà người cha đã tìm cách
làm thịt con chó và cùng bạn bè ăn nhậu no say trong khi vợ con mình đang đói khát (Trẻ
con không được ăn thịt chó).
Cuộc sống nghèo đói làm con người bị dồn vào cửa tử, ngõ cùng. Họ đã cố gắng
chóng chọi lại với cái đói bằng mọi cách nhưng cuối cùng họ vẫn bị tha hóa về diện mạo và
nhân phẩm, đạo đức. Họ đã bị chế độ xã hội cũ, sự nham hiểm của bọn thống trị đẩy vào
cuộc sống bế tắc. Cu Lộ (Tư cách mỏ) và Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam
vật, điêu đứng tầm thường bởi miếng cơm và manh áo. Với vẻ bề ngoài, những nhân vật
của Nam Cao họ sống, hành động, dằn vặt lo âu, quằn quại trong bế tắt và tuyệt vọng.
“Truyện Nam Cao đã ghi lại chân thực cái hình ảnh bi hài của cuộc sống nghèo khổ, tủi
cực của người tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ, vốn vừa bi vừa hài; đồng thời, đã phản
ánh được cuộc sống oi bức bế tắc của xã hội đang đứng trước vực thẳm đói rét chiến
tranh, đã đe dọa cuộc sống vốn bấp bênh của tầng lớp tiểu tư sản”. (Nguyễn Hoàng Khung
– Nam Cao trong lịch sử văn học Việt Nam tập V (1930 – 1945) Phần II – Nxb Giáo dục,
1993, tr 40).
Khi lí tưởng của họ không thực hiện được thì những con người tiểu tư sản càng rơi
dần vào bi kịch chết mòn. Họ cùng có chung hoàn cảnh, họ luôn luôn ở trong tâm trạng
ngao ngán, tuyệt vọng và những nhân vật của ông thì không mấy có niềm vui. Những
khuôn mặt nhợt nhạt, gầy gò vì đói, những nếp nhăn hằn sâu và những đôi mắt mệt mỏi,
chán chường vì lo lắng, những thái độ thô lỗ, cục cằn trái với tâm tính của những người “có
học”… Tất cả hiện lên sinh động trước mắt người đọc. Tiếc từng đồng tiền mua thuốc cho
con, tàn nhẫn với vợ, tập “quen điều độ” với sự nghèo đói và chết dần chết mòn trong cảnh
- 21 -
đói nghèo – đó không chỉ là số phận riêng của từng con người mà còn là thân phận chung
của cả một tầng lớp người đang bế tắc, tuyệt vọng.
Người trí thức của Nam Cao luôn trải qua sự đấu tranh, giằng co giữa thiện và ác,
giữa ước mơ và hiện thực. Mặc dù có lúc họ rơi vào bi kịch, tuyệt vọng chán chường nhưng
họ kông hoàn toàn thụ động và cam chịu. Họ vẫn cố gắng chống chọi với những trở ngại để
mà sống, để tồn tại. Họ không bó tay chịu chết mặc dù thực tế rất phủ phàn. Họ phải
“chung lưng đấu vật với nhau, làm thế nào cho được sống (…), được ngước mắt lên, được
hít thở tự do cùng với tất cả mọi người (Sống mòn). Con người tri thức tiểu tư sản không
chỉ bị Nam Cao phơi trần tất cả những gì xấu xa với một thái độ hoài nghi, tuyệt vọng. Mà
Nam Cao đã mang vào trong tác phẩm của mình những hình ảnh của chính mình với niềm
rung động sâu sắc của những con người biết xót đau, biết tự trào, biết yêu thương triều
mến. Đó là những cảnh thực của người tiểu tư sản trí thức nghèo.
CHƯƠNG BA
- 22 -
con chị đĩ Chuột: “ – Bu ơi con đói…Thằng cu chừng đói quá không chịu được, lại há
mồm ra. Mẹ nó đút cho nó một xêu nhỏ nữa. Nó nhắm mắt, duỗi cổ, cố nuốt cho trôi.
Nhưng cũng như lần trước, nó lại ọe ra, và khóc òa lên… Rồi hai mẹ con lẳng lặng ăn, cố
nuốt những bát cám đặt khè cho đỡ đói.” Trong khi đó, anh đĩ Chuột do phải “ ốm luôn
mấy tháng trời” cho nên trông anh rất đáng sợ: “Mái tóc dài xòa xuống tai và cổ, hai con
mắt ngơ ngát và lờ đờ, những chiếc răng dài và thưa ở cái mồm hé ra để cho dễ thở khiến
anh có cái vẻ đáng sợ của một con ma đói.” Từ đói xuất hiện 4 lần trong truyện Nghèo, 5
lần trong truyện Trẻ con không biết đói : “ Có lẽ trẻ con nó không biết đói. Không biết đói
thì không đói. Không đói thì không cần phải ăn”. Hắn sờ bụng những đứa con đang ngủ và
nghĩ thế. Rồi hắn ra đi, hắn tự cho mình có quyền ăn uống no say thỏa thích: “ Uống rượu
đã. Uống rượu lúc đói mới thấy ngon. Tội gì mà chẳng uống”.
Trong truyện Trẻ con không được ăn thịt chó thì từ đói xuất hiện đến 8 lần. Khi
“thị” đi chợ về thấy chồng đang làm thịt con chó và hắn bắt “thị” đi đong gạo, mua rượu,
mua nước mắm chịu thì “thị” tức lắm, nhưng biết làm gì hơn vì “thị” biết rằng: “Nó cục
như con chó vậy. Ương với nó, nó thượng cẳng chân, hạ cẳng tay là thường. Thiệt thân,
mà kết cục cũng vẫn phải đủ gạo cho nó thổi.” Cho nên: “ Thị rên lên như vừa bị mất
cướp. Nhưng nó đã muốn thế thì mặc nó. Thị cứ mua cho nó. Rồi bán gì đi mà trả nợ thì cứ
bán. Còn thì ăn, hết thì nhịn. Bố ăn lắm thì con chết đói”. Khi thịt chó đã chín rồi thì họ “
chẳng cần múc làm gì cho rếch bát” vì “ họ cũng thừa biết cả cửa nhà cơ nghiệp nhà hắn
chỉ có hai cái bát chậu ấy thôi. Nhưng có gì. Miễn là được uống rượu sớm hơn một chút.
Anh nào anh ấy đói ngầu”. Trong khi đó thì vợ con hắn đang quay quần với nhau trong xó
bếp và “ Thị biết rằng chúng đói. Khi người ta đã đói mà ngửi thấy mùi thịt chó, thì bụng
càng đói thêm. Thế mà bữa rượu của người bố với ba ông khách cứ kéo dài ra mãi. Nghĩ
mà bực quá! Cái thể không chết được, chứ giá chết được, thì thị chỉ thắt cổ mà chết đi cho
rồi… Thị dỗ con:
- Cố mà nhịn lúc nữa, các con ạ. Đợi trên nhà ăn xong, còn thừa thì ta ăn.
Rồi muốn cho chúng quên đi, thị xổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy... Nhưng chỉ
được một lúc là chúng chán. Thằng cu con ra hiệu đình công trước. Nó lăn vào lòng mẹ,
oằn oại vừa hụ hị kêu:
- Đói ! Bu ơi ! Đói…
xanh bủng như người ngã nước. Cái Gái lấy tay di một cục “chè”. Rồi bỗng nói to lên:
- 25 -