mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã đạt đợc
những thành tựu rất quan trọng. Một trong những thành tựu đó là sự đổi
mới nhận thức về CNXH và con đờng đi lên CNXH ở nớc ta. Đi lên CNXH
từ một nớc còn lạc hậu về kinh tế, tất yếu phải thực hiện sự quá độ gián
tiếp. Để thực hiện sự quá độ gián tiếp đó, đòi hỏi chúng ta phải ra sức tìm
tòi và sử dụng đúng đắn những hình thức kinh tế trung gian, tìm ra những
"chiếc cầu nhỏ" xuyên qua chủ nghĩa t bản nhà nớc để tiến lên CNXH. Do
đó, cần thiết phải tìm hiểu và nghiên cứu khâu trung gian trong sự phát triển
xã hội với tính cách là cơ sở lý luận cho việc xây dựng và phát triển nền
kinh tế quá độ. Nhng, nh Lênin đã nói, đó cũng là vấn đề hết sức khó khăn
và phức tạp.
Trong những năm vừa qua, nhiều nhà khoa học thông qua nhiều đề
tài, chơng trình khoa học khác nhau đã tập trung nghiên cứu vấn đề trên đây
và đã đạt đợc những kết quả nhất định. Việc vận dụng những kết quả nghiên
cứu đó vào thực tiễn đã góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ
vững ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân, đa đất nớc ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội và bớc vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề có liên quan tới việc nắm vững và
sử dụng những hình thức trung gian trong quá trình đổi mới kinh tế hiện
nay đều đã đợc giải quyết. Thực tiễn công cuộc đổi mới - nhất là đổi mới
kinh tế ở nớc ta trong những năm gần đây, những biểu hiện "tả" và "hữu"
khuynh do nhận thức và vận dụng không đúng lý luận về khâu trung gian
vẫn cha hoàn toàn đợc khắc phục. Cho nên, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu
vấn đề khâu trung gian và vận dụng nó một cách có hiệu quả vào quá trình
1
đổi mới kinh tế ở nớc ta vẫn là một đòi hỏi bức thiết cả từ phơng diện lý
luận lẫn phơng diện thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là:
Trên cơ sở làm sáng tỏ bản chất và vai trò của khâu trung gian trong sự phát
triển xã hội nhất là trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đề xuất một số vấn đề có ý
nghĩa phơng pháp luận trong việc nhận thức và sử dụng khâu trung gian đối với sự
nghiệp đổi mới kinh tế ở nớc ta hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
- Làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò của khâu trung gian trong quá
trình vận động và phát triển nói chung, sự thể hiện của chúng trong quá
trình chuyển hóa từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã
hội khác nói riêng, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế.
- Luận chứng sự cần thiết phải vận dụng các hình thức kinh tế trung
gian trong quá trình đổi mới kinh tế nớc ta từ sản xuất nhỏ lên CNXH; làm
rõ tính trung gian của một số hình thức kinh tế; những thành tựu và hạn chế
của việc vận dụng chúng trong quá trình đổi mới vừa qua và những vấn đề
đặt ra hiện nay.
- Phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan để đảm bảo định
hớng XHCN trong quá trình nhận thức và vận dụng những hình thức kinh tế
trung gian nhằm tiếp tục thực hiện quá trình đổi mới ở nớc ta.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận án đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp lý luận và phơng
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm của Đảng ta qua các văn kiện, các tác phẩm, các công trình nghiên
cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nớc. Ngoài ra chúng tôi cũng
kế thừa thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nớc.
3
Trong luận án, tác giả sử dụng tổng hợp các phơng pháp, nhng chủ
yếu là các phơng pháp: lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, phơng pháp
tiếp cận hệ thống để nghiên cứu và trình bày.
5. đóng góp mới của luận án
động qua lại với nhau.
Theo nghĩa hẹp hơn, khâu trung gian (tiếng Nga là , tiếng Anh là
Intermediary Stage) đợc xét đến nh một trạng thái "đặc biệt" nằm trong quá trình
chuyển hóa từ sự vật này thành sự vật khác. Mỗi một sự vật, hiện tợng đều có quá
trình phát sinh, phát triển và mất đi theo qui luật; sự mất đi của sự vật cũ và sự ra
đời của sự vật mới không phải chỉ là sự gián đoạn, mà còn là sự chuyển hóa liên tục
từ sự vật này thành sự vật khác. Do vậy, trong sự quá độ từ chất cũ sang chất mới có
tồn tại trạng thái "đặc biệt", đợc gọi là khâu trung gian. Nó là một vấn đề quan trọng
trong phép biện chứng duy vật, có nhiều ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng
ta ngày nay.
1.1.1. Khái niệm khâu trung gian
Là một nhà biện chứng kiệt xuất trớc Mác, nhà triết học duy tâm vĩ đại ngời
Đức G.V.Ph. Hêghen (1770 - 1831) đã vạch ra "một cách bao quát và có ý thức những hình
thái vận động chung của phép biện chứng" [59, 35]. Ông cho rằng, sự thay thế, sự phụ
thuộc lẫn nhau của tất cả các khái niệm, sự chuyển hóa của khái niệm này sang một
khái niệm khác, trong sự thay thế, sự vận động vĩnh viễn của những khái niệm đều
phải trải qua sự "trung gian hóa", rằng "Các dạng khác nhau của tồn tại đòi hỏi những
dạng trung gian hóa của chính chúng hoặc chứa đựng trong bản thân chúng những
dạng ấy" [39, 157].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác không chỉ cải tạo phép biện chứng
duy tâm của Hêghen, kế thừa "hạt nhân" hợp lý của nó, mà còn dựa trên những thành
tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội để đi đến những quan niệm đúng đắn hơn
về bản chất, vai trò của khâu trung gian đối với sự phát triển của các sự vật, hiện tợng
trong tự nhiên, xã hội và t duy của con ngời. Ăngghen viết: "Phép biện chứng thừa
5
nhận, trong những trờng hợp cần thiết, là bên cạnh cái "hoặc là hoặc là" "thì có cả
cái "cả cái này lẫn cái kia" nữa, và "thực hiện sự môi giới giữa các mặt đối lập" [57,
696].
Từ những quan điểm trên, bớc đầu cho thấy, vấn đề khâu trung gian có liên
quan mật thiết với sự quá độ từ sự vật này thành sự vật khác. Nói cách khác, khâu
Mỗi một sự vật là một kết cấu gồm nhiều thành phần, trong đó, các
mặt, các bộ phận cấu thành có liên hệ với nhau ít nhiều bền vững, song
chúng có vai trò, vị trí không nh nhau. Có những mặt, những bộ phận giữ
vai trò thứ yếu, không cơ bản; ngợc lại, có bộ phận, có những mặt lại giữ
vai trò chi phối, ảnh hởng quyết định trực tiếp đến quá trình phát sinh, phát
triển của sự vật. Cho nên, sự biến đổi xảy ra ở những mặt, những bộ phận
này sẽ gây ảnh hởng lan tỏa đến những mặt, những bộ phận khác, chi phối
khuynh hớng vận động của toàn bộ hệ thống. Điều này cũng có nghĩa là,
khi hoàn thành sự chuyển hóa sẽ có sự đổi mới toàn diện ở cấp độ bản chất;
nhng xét về trình độ, vị trí của sự thay đổi, thì những thay đổi chất ở cấp độ
toàn thể chỉ đợc thực hiện thông qua sự thay đổi ở cấp độ bộ phận. Chẳng
hạn, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ diễn ra trên
nhiều lĩnh vực khác nhau, song những biến đổi trong lĩnh vực kinh tế sẽ có
vai trò quyết định sự biến đổi các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, nhân
tố kinh tế đợc hình thành sẽ ảnh hởng trực tiếp đến khuynh hớng phát triển
chung của xã hội.
Kết quả của bất cứ quá trình thay đổi chất nào cũng là cái mới ra đời, thay
thế cái cũ; nhng, ở mỗi giai đoạn cụ thể, khuynh hớng biến đổi của sự vật sẽ trở nên
rất phức tạp, có cả khuynh hớng phát triển đi lên, có cả khuynh hớng thoái bộ, thụt lùi.
Khoa học gọi đây là hiện tợng "thăng giáng quá độ" [11]. Lý do của sự thăng giáng quá
độ, một mặt, do cái mới còn đang "thoát thai" dần khỏi cái cũ, còn rất non yếu, ngợc
lại cái cũ, lúc đầu còn rất mạnh, cản trở sự phát triển của cái mới, khiến cho cái mới cha
7
khẳng định đợc mình ngay lập tức trong quá trình phát triển. Mặt khác, nh chúng ta
biết, một hệ thống không thể vận hành khép kín, mà chỉ là một bộ phận của hệ
thống lớn hơn bao trùm lên nó. Trong sự quá độ sang chất mới, những biến đổi bên
trong kết cấu hệ thống làm cho sự vật trở nên rất nhạy cảm đối với những tác động từ
bên ngoài. Mức độ nhạy cảm ở đây lớn hơn, bất thờng hơn so với mức nhạy cảm bình
thờng. Điều này làm cho vận động của sự vật trong quá trình biến đổi chất trở nên
phức tạp hơn.
khoảng 10 phút, sau đó mới chuyển sang trạng thái chết hoàn toàn - chết sinh học [1,
41].
Hai là, trong khâu trung gian, các yếu tố của chất mới và chất cũ mặc dù tồn
tại đan xen, kết hợp với nhau trong một chỉnh thể, nhng sự đấu tranh giữa các mặt
đối lập, giữa cái mới và cái cũ vẫn còn gay gắt. Bởi vì, cái mới đang "thoát ra" dần từ
cái cũ, nên lúc đầu còn nhỏ bé và non yếu; ngợc lại, cái cũ lúc đầu còn rất mạnh, nên
còn cản trở sự ra đời và phát triển của cái mới. Hơn nữa, trong lúc cái mới vừa nảy sinh
thì cái cũ, trong một thời gian nào đó, còn mạnh hơn cái mới, cản trở sự phát triển của
cái mới. Sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ trong trạng thái "đặc biệt" ấy làm cho cái
mới ra đời và chiến thắng cái cũ rất khó khăn. Do đó, khuynh hớng phát triển của sự
vật ở khâu trung gian là rất phức tạp, có cả sự thụt lùi, thoái bộ, lẫn sự phát triển tiến
lên. Mặc dù ở khâu trung gian, khuynh hớng vận động của sự vật còn cha ổn định,
còn "chòng chành, nghiêng ngả", nhng mang trong mình tất yếu "thép" của quy luật
khách quan nên cuối cùng cái mới sẽ chiến thắng cái cũ. Chẳng hạn, cuộc cách mạng t sản
Anh, lần đầu thắng lợi vào năm 1649, sau đó đổ vỡ và phải làm lại vào năm 1688 -
1689, nhng lại tiếp tục thất bại, mãi đến 1832 (nghĩa là sau 143 năm) mới giành đợc
thắng lợi hoàn toàn. Cuộc cách mạng t sản Pháp cũng có tình hình tơng tự, lần đầu
thắng lợi vào năm 1789, nhng sau đó lại diễn ra cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt
giữa giai cấp phong kiến phản động và giai cấp t sản đang lên, cho mãi tới 82 năm sau,
vào năm 1871 mới giành đợc thắng lợi triệt để. Điều đó nói lên, trong các cuộc cách
9
mạng ấy, cái mới tiêu biểu cho xu thế cách mạng, xu hớng tiến lên, cho dù phải trải qua
những khó khăn, thử thách, song nhất định nó sẽ chiến thắng và trở thành vô địch.
Ba là, trong khâu trung gian có sự thống nhất giữa sự định hớng và sự định
hình. Do mang bản chất của cái tất yếu, cái mới bao giờ cũng thể hiện ra nh là nhân
tố định hớng cho sự phát triển của sự vật ở khâu trung gian. Nhân tố định hớng thể
hiện ở những mặt, những bộ phận đại diện cho xu hớng phát triển của sự vật, có tác
động ảnh hởng "lan tỏa", chi phối sự biến đổi các bộ phận khác. Chẳng hạn, trong quá
trình hình thành và phát triển các hình thái kinh tế - xã hội, nhân tố định hớng tiêu
biểu cho xu thế tất yếu của lịch sử là phơng thức sản xuất đang lên. Phơng thức sản
Theo chúng tôi, cả hai định nghĩa trên có những điểm hợp lý, đều xem quá
độ là một quá trình vận động của sự vật trong điều kiện đặc biệt để chuyển hóa
từ chất này sang chất khác. Song, hạn chế của định nghĩa thứ hai là cha phân biệt
rõ đợc nội hàm khái niệm quá độ với khái niệm khâu trung gian. Chúng tôi cho rằng,
khái niệm quá độ phản ánh một quá trình vận động từ chất cũ sang chất mới của sự
vật, ở đó, chất cũ từng bớc bị phá hủy và chuyển hóa thành chất mới. Sự quá độ nh
vậy bao giờ cũng diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định, đó là thời kỳ
quá độ. Trong lĩnh vực xã hội, thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử diễn ra những
biến đổi về chất của xã hội [99].
Liên quan đến khái niệm quá độ còn có khái niệm "hình thức quá
độ". Một số tác giả coi hình thức quá độ là khái niệm phản ánh một quá
trình khách quan của sự thay thế một sự vật, hiện tợng này bằng một sự vật,
hiện tợng khác [47]. Nhng khái niệm này không phải đơn giản chỉ biểu đạt
một quá trình vận động cụ thể từ chất này sang chất khác, mà còn phản ánh
một trạng thái chuyển hóa từ sự vật cũ sang sự vật mới. Chúng có sự kết
hợp một chất đang tiêu vong nhng cha bị tiêu diệt hẳn và một chất mới đang
phát sinh, nghĩa là về bản chất nó mang đặc điểm của khâu trung gian. Về
phơng diện này, giữa " hình thức quá độ" và " hình thức trung gian" là
11
những khái niệm gần gũi nhau, cho nên, trong sách báo đôi khi ngời ta th-
ờng đồng nhất chúng với nhau.
Sự phân tích trên đây cho thấy, khâu trung gian và quá độ là những khái
niệm có quan hệ mật thiết, "họ hàng" với nhau, nhng không phải là những khái niệm
đồng nhất. Chúng có vai trò nhất định trong cùng một quá trình vận động và phát
triển của sự vật. Nếu " khâu trung gian" là khái niệm dùng để chỉ một trạng thái
đặc biệt trong quá trình chuyển hóa chất này thành chất khác, thì quá độ là khái
niệm dùng để chỉ bản thân quá trình ấy. Khái niệm quá độ nhấn mạnh sự chuyển
hóa từ cái này sang cái khác, khái niệm khâu trung gian nhấn mạnh đến trạng thái sự
vật nằm ở khâu nối liền giữa cái này với cái kia, trong sự liên hệ và chuyển hóa giữa
chúng, nó vừa mang đặc trng của cái này, vừa mang đặc trng của cái kia. Cho nên,
nhảy vọt bao giờ cũng gắn liền với khâu trung gian.
Trớc đây, có quan điểm đồng nhất khâu trung gian với hình thức nhảy
vọt dần dần. Quan điểm đó cho rằng: "Khâu trung gian là quá trình nhảy
vọt cách mạng, nhng không phải là nhảy vọt lập tức, mà là nhảy vọt dần
dần, từng bớc, từ thấp đến cao, là sự biến đổi liên tục chất lợng cũ, theo thời
gian" [76, 105]. Trớc kia, do trình độ khoa học còn bị hạn chế, cha có điều
kiện tiếp cận những quá trình nhảy vọt mà biến đổi dờng nh diễn ra tức thời,
nên nhiều ngời vẫn lầm tởng rằng, một số hiện tợng chuyển hóa nh từ nớc
đá thành nớc lỏng, từ "sống thành chết" là sự nhảy vọt ngay lập tức và
không trải qua một bớc quá độ, một khâu trung gian nào cả. Thực ra không
phải nh vậy.
Mặc dù giữa nhảy vọt và khâu trung gian có quan hệ mật thiết với nhau, song
lại có vai trò không giống nhau đối với quá trình thay đổi chất của sự vật. Nhảy vọt là
quá trình tất yếu để chuyển hóa chất cũ thành chất mới, trên cơ sở đã tích lũy đủ l-
ợng. Nhảy vọt là sự đứt đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật. Còn khâu
trung gian với tính cách là trạng thái tồn tại của sự vật đang trong quá trình nhảy vọt lại
là điều kiện tất yếu để cho sự nhảy vọt đợc thực hiện. Cho nên, nếu nhảy vọt diễn
13
ra mà không trải qua khâu trung gian thì sự nhảy vọt nh vậy chỉ còn là một "phép
lạ".
Đối với những ngời siêu hình, do chỗ, hoặc là họ tuyệt đối hóa những
biến đổi về lợng, tính chất tiệm tiến, hoặc tuyệt đối hóa những biến đổi về
chất, sự gián đoạn trong sự phát triển, nên tất nhiên họ sẽ không hiểu và không
bao giờ thừa nhận sự tồn tại khách quan cũng nh vai trò của khâu trung gian
trong sự phát triển, trong những bớc nhảy vọt cách mạng, do đó, họ càng
không có khả năng vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn cụ thể.
Trên quan điểm duy vật biện chứng, chúng ta còn thấy tính chất
phong phú, đa dạng của những khâu trung gian trong quá trình thực hiện b-
ớc nhảy vọt từ chất này sang chất khác. Bởi vì:
Thứ nhất, sự vật không phải chỉ có một chất, mà có vô vàn chất, tơng ứng với
Đồng nhất - khác nhau - mâu thuẫn [39, 142]. ở giai đoạn mâu thuẫn, các mặt đối
lập ở tình trạng loại trừ nhau đến mức gay gắt cần phải đợc giải quyết. Hình thức
lôgíc của sự giải quyết này là phạm trù căn cứ, nghĩa là mâu thuẫn đợc giải quyết
trong căn cứ (một cách giải quyết duy tâm theo quan điểm của Hêghen). "Căn cứ" chứa
đựng cả sự đồng nhất, cả sự khác biệt, là sự "điều hòa", sự "dung hợp" mâu thuẫn
[78]. Cải tạo, kế thừa và phát triển phép biện chứng về mâu thuẫn của Hêghen trên
lập trờng duy vật, trong bộ "T bản", Mác đã vạch ra quá trình phát sinh, phát triển và
giải quyết mâu thuẫn trong quá trình vận động của sản xuất hàng hóa trong CNTB.
Từ công thức T - H - T', Mác cho rằng: "Sự phát triển của hàng hóa không xóa bỏ đợc
các mâu thuẫn đó nhng lại tạo ra một hình thái trong đó các mâu thuẫn ấy có thể vận
động đợc. Nói chung, đó là phơng pháp giải quyết các mâu thuẫn hiện thực. Chẳng
hạn, đây là một mâu thuẫn: một vật thể không ngừng rơi vào một vật thể khác và đồng
thời cũng lại không ngừng tránh xa vật đó. Hình bầu dục là một trong những hình thái
vận động nhờ nó mà mâu thuẫn ấy đồng thời vừa đợc thực hiện lại vừa đợc giải quyết"
[59, 160]. Theo Mác thì sự "dung hợp" chính là một hình thức giải quyết mâu thuẫn
15
hiện thực, nhng lại đợc Hêghen diễn đạt dới hình thức lôgíc là hợp đề với tính cách là
sự tổng hợp của chính đề và phản đề.
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên", khi nghiên cứu những
hình thức vận động trong tự nhiên (chẳng hạn, sự tiến hóa của các giống
loài sinh vật), Ăngghen đã cho rằng: "Tất cả các mặt đối lập đều thông qua
những khâu trung gian mà chuyển hóa lẫn nhau" và "thực hiện sự môi giới
giữa các mặt đối lập " [57, 696].
Đặc điểm của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập khi mâu
thuẫn đã trở nên chín muồi là ở chỗ có "sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt
đối lập này thành mặt đối lập kia" [57, 694]. Nhng, để có thể thực hiện đợc sự
chuyển hóa "từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia", các mặt đối lập lại không thể
tồn tại tách rời nhau, mà phải "dung hợp" với nhau trong những hình thức nhất định. Có
thể coi khâu trung gian là những trạng thái mang mâu thuẫn, trong đó, sự dung hợp của
các mặt đối lập là những tiền đề, những điều kiện khách quan để các mặt đối lập
trò và vị trí khách quan, tất yếu của nó.
Sự phủ định, theo quan điểm biện chứng không phải là sự xóa bỏ
giản đơn cái này để có cái khác. Sự phủ định nh vậy có sự liên hệ, có sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa cái cũ và cái mới; cái mới ra đời không phải từ h
vô, mà trên cơ sở kế thừa, lọc bỏ cái cũ để phát triển; còn cái cũ không phải
biến mất một cách ngẫu nhiên, không để lại "vết tích" nào trong quá trình
phát triển. Cho nên, khâu trung gian sẽ đóng vai trò là "mắt khâu" tất yếu
trong quá trình phủ định của phủ định. ở đây, cái cũ và cái mới - cái khẳng
định và cái phủ định nối tiếp, làm thành vòng khâu của những "liên hệ",
những "vòng khâu của sự phát triển".
Sự phủ định của phủ định là quá trình thay đổi chất cũ bằng chất mới,
sự thay đổi ấy tất yếu phải thông qua những khâu trung gian. Trong quá
trình phủ định của phủ định, sự phủ định lần thứ nhất sẽ tạo ra khâu trung
17
gian giữa cái khẳng định với cái phủ định của phủ định. Bởi vì, về bản chất,
cái phủ định lần thứ nhất vừa có những yếu tố của cái phủ định của phủ
định dới dạng những mầm mống, cái đang phát triển, đồng thời còn có cả
những yếu tố cái cũ, cái bị phủ định đang bị lọc bỏ, đang bị mất đi; thông
qua đó, chúng chuyển hóa cho nhau, để sự vật mới thay thế sự vật cũ. Theo
Hêghen, sự phủ định biện chứng "là một sự vận động thông qua những vòng
khâu khác nhau, là sự trung gian tuyệt đối với bản thân nó" [39, 142].
Trong bộ "T bản", khi phân tích nền sản xuất hàng hóa TBCN, Mác chỉ ra sự
vận động của nền sản xuất này theo công thức T - H - T'. Đó là quá trình phủ định
của phủ định, đồng thời cũng là quá trình đợc thực hiện thông qua khâu trung gian.
Trong công thức trên, t bản ban đầu T phải chuyển thành hàng hóa H dới hình thức
những yếu tố của sản xuất (t liệu sản xuất, sức lao động) - tức là thực hiện sự phủ
định T. Tiếp theo là sự phủ định của T' đối với H để trở về trạng thái ban đầu
trong lu thông, nhng ở trình độ cao hơn. Trong quá trình này, H sẽ là khâu trung
gian trong sự chuyển hóa từ T đến T'.
Nh vậy, phủ định của phủ định là quá trình thông qua khâu trung gian để
Theo quan điểm mác-xít, xã hội là bộ phận đặc thù của thế giới khách quan,
vừa có sự thống nhất với thế giới tự nhiên, vừa có sự khác biệt với thế giới đó. Vì vậy,
khâu trung gian trong sự phát triển xã hội là bộ phận đặc thù của khâu trung gian
trong sự phát triển của thế giới nói chung. Việc làm rõ những hình thức và đặc
điểm của khâu trung gian trong quá trình phát triển xã hội giúp chúng ta nhận thức
đúng đắn quá trình phát triển xã hội, xác định rõ nội dung, tính chất, hình thức
biểu hiện và khuynh hớng vận động của những hình thức trung gian để vận dụng có
hiệu quả trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Có thể nói, lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác là cơ sở lý
luận và phơng pháp luận để nhận thức bản chất của lịch sử xã hội một cách khoa học
nhất. Đồng thời, nó còn là công cụ để phân tích sự thay đổi của các thời đại lịch sử
19
khác nhau, từ đó, để chúng ta xác định đúng những hình thức và đặc điểm của
những khâu trung gian trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội.
Chủ nghĩa Mác đã vạch ra rằng, sự phát triển của lịch sử xã hội loài
ngời vừa có sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, đồng thời, lại vừa có
sự phát triển liên tục giữa các hình thái kinh tế - xã hội ấy. Sự chuyển hóa từ
hình thái này lên hình thái khác của lịch sử là một quá trình thống nhất giữa
tính liên tục và tính gián đoạn. Đó là quá trình đợc thực hiện thông qua
những khâu trung gian. Vì vậy, Mác viết: "Tôi coi sự phát triển của những
hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên" [59, 21].
Thừa nhận quá trình phát triển tự nhiên của lịch sử là thừa nhận lịch sử xã hội
phải trải qua những nấc thang lịch sử khác nhau, trong mỗi nấc thang ấy có sự hình
thành, phát triển đi lên và có sự suy tàn, vận động đi xuống. Sự nối tiếp, liên tục giữa
giai đoạn suy tàn của nấc thang cũ và giai đoạn hình thành của nấc thang mới đợc
thực hiện bằng mắt khâu trung gian - đó là thời kỳ quá độ giữa các nấc thang phát
triển. Dấu hiệu đặc trng của xã hội ở thời kỳ quá độ là một hệ thống cha ổn định,
sự cùng tồn tại đan xen của các nhân tố tiêu biểu cho cả cái mới và cái cũ [71].
Về mặt kinh tế, xã hội ở nấc thang phát triển hoàn chỉnh, chín muồi
đợc đặc trng bởi một kết cấu kinh tế - xã hội tơng đối thuần nhất, với sự tồn
đặc trng cho tình trạng trung gian, giao thời trong quá trình chuyển từ nấc thang này
lên nấc thang khác của lịch sử xã hội. Đó là thời kỳ của những chuyển biến cách mạng
cải tạo căn bản đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Mặt khác, xã hội là một cơ thể sống động, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều
mặt, nhiều lĩnh vực có liên hệ với nhau trong một chỉnh thể và biến đổi không
ngừng. Cho nên, sự thay đổi của mỗi yếu tố, mỗi mặt, từng lĩnh vực cụ thể trong cả
hệ thống xã hội cũng đợc thực hiện thông qua những hình thức đặc thù có tính chất
trung gian. Trên lĩnh vực kinh tế, sự thay đổi các quan hệ kinh tế đợc thực hiện
trong những hình thức kinh tế trung gian, kết hợp những quan hệ cũ và mới, để vừa
21
phát triển lực lợng sản xuất, vừa tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất mới thay thế dần
quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu. Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, khâu trung gian biểu
hiện là những hình thức tổ chức chính trị - xã hội, các thiết chế chính trị, các hình
thức tổ chức nhà nớc khác nhau. Những hình thức ấy là thể hiện những mâu thuẫn
và các hình thức giải quyết mâu thuẫn giữa các các giai cấp, các tầng lớp tiêu biểu
cho xã hội cũ với các giai cấp, các tầng lớp tiêu biểu cho xã hội mới đang từng bớc nắm
địa vị thống trị xã hội. Trong lĩnh vực ý thức xã hội, sự biến đổi của những quan hệ
tinh thần và các hình thái ý thức, t tởng cũng không có những biến đổi đột ngột, mà
bao giờ cũng đợc thực hiện thông qua những khâu trung gian. Hình thức biểu hiện
của chúng bao gồm: hệ thống pháp quyền, các qui phạm đạo đức, các thiết chế văn
hóa, lối sống trong đó, những yếu tố của đời sống tinh thần xã hội cũ và mới quyện
chặt với nhau.
Sự phân tích trên cho thấy, khâu trung gian biểu hiện trong sự phát
triển xã hội tồn tại với những hình thức đa dạng, nhiều mặt, nhiều cấp độ
khác nhau. Trên bình diện kết cấu của toàn bộ hệ thống xã hội, thời kỳ quá
độ từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác là một
khâu trung gian. Lịch sử xã hội loài ngời đã trải qua bốn hình thái kinh tế -
xã hội: Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, T bản chủ
nghĩa và ngày nay đang quá độ lên hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ
nghĩa. Nh thế, lịch sử xã hội đã trải qua bốn khâu trung gian khác nhau,
"tính khách quan của những mối quan hệ của con ngời, thông qua các hoạt động của
con ngời với môi trờng xã hội, các quan hệ của con ngời trong lĩnh vực vật chất, quan
hệ của con ngời trong lĩnh vực tinh thần, quan hệ giữa cá nhân với nhau và quan hệ
giữa cá nhân với xã hội" [31, 48]. Sự thay đổi chất trong xã hội chính là thay đổi tính
chất các mối quan hệ xã hội nói trên. Trong tự nhiên, khâu trung gian đợc thực hiện bởi
những nhân tố vô ý thức, còn trong lĩnh vực xã hội, con ngời với ý thức của mình là
nhân tố nội tại của khâu trung gian. Khâu trung gian trong sự phát triển xã hội là sự thống
23
nhất giữa điều kiện, khuynh hớng phát triển khách quan của xã hội với nhân tố chủ
quan. Trong đó, nhân tố chủ quan có vai trò tạo điều kiện cho sự chín muồi của
những mâu thuẫn và sự giải quyết chúng, quy định phơng hớng, phơng thức giải quyết
mâu thuẫn; quy định phơng thức, phơng hớng của các bớc nhảy vọt trên cơ sở tạo ra
những điều kiện khách quan cho sự tích lũy không ngừng về lợng; đồng thời, nhân tố
chủ quan quy định phơng thức lọc bỏ, kế thừa cái cũ để phát triển cái mới trong quá
trình phủ định biện chứng. Nói cách khác, hoạt động của con ngời tham gia vào cơ
chế chuyển hóa về chất trong xã hội. Cho nên, nhân tố chủ quan đóng vai trò là nhân
tố định hớng và định hình của những khâu trung gian trong sự phát triển xã hội.
Đặc điểm trên cho thấy, trong khi tiến hành những cải biến cách
mạng không chỉ đòi hỏi phải nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy
luật của hiện thực khách quan, mà còn phải biết phát huy vai trò nhân tố
chủ quan, chủ động, tự giác vận dụng những khâu trung gian, các bớc quá
độ để rút ngắn thời kỳ "đau đẻ" kéo dài. Mác viết: "Một xã hội, ngay cả khi
đã phát hiện đợc quy luật tự nhiên của sự vận động của nó cũng không thể
nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ
những giai đoạn đó. Nhng nó có thể rút ngắn - làm dịu bớt đợc những cơn
đau đẻ "[59, 21].
Có thể coi đây là đặc điểm của sự phát triển xã hội nói chung, nhng nó còn
khẳng định một trong những đặc trng bản chất nhất của khâu trung gian trong sự
phát triển xã hội, nói lên sự khác nhau căn bản về chất giữa khâu trung gian trong tự
nhiên và khâu trung gian trong xã hội.
ợc khâu trung gian còn là điều kiện để có biện pháp giải quyết có hiệu quả
những mâu thuẫn đang trở nên chín muồi. Lênin viết: "Tình trạng các mâu
thuẫn trở nên gay gắt là động lực mạnh nhất của thời kỳ lịch sử quá độ" [38,
535].
Sự hiện hữu của một kết cấu xã hội đan xen giữa cái cũ và cái mới, sự chi phối
25