Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Tục ngữ Việt Nam có câu: Có thực mới vực đợc đạo. Nh vậy là cha ông
ta từ xa đã thấy rõ con ngời khi làm bất cứ điều gì nếu thiếu đi cái thực thì dù
cho có những đạo lý đúng đắn soi đờng cũng không bao giờ làm đợc. Giống nh
Mac-Anghen đã tìm ra quy luật phát triển của con ngời: Trớc khi con ngời
muốn làm một điều gì đó từ những việc giản đơn cho đến những việc lớn hơn
nh hoạt động chính trị, nghệ thuật, khoa học v.v... thì đầu tiên họ phải tồn tại,
phải có những nhu cầu cơ bản ăn mặc ở của con ngời.
Nhng nếu con ngời cứ mãi chú tâm vào cái thực chỉ đuổi theo những
điều kiện vật chất bình thờng thì đơng nhiên khó tránh khỏi lầm đờng lạc lối.
Cũng vì vậy mà trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay khi điều kiện sản xuất
phát triển cũng nh cơ hội làm giàu đã mở ra cho mỗi cá nhân có khả năng sáng
tạo và tầm nhìn chiến lợc thì việc tìm hiểu mối liên hệ, sự liên quan mật thiết
giữa lý luận và thực tiễn để có thể vận dụng cái này để phát triển cái kia rồi từ
đó mà phát triển kinh tế là điều hết sức quan trọng và cấp thiết.
Nh đã nói ở trên, lý luận và thực tiễn luôn đòi hỏi phải đợc xem xét trong
sự thống nhất biện chứng nghĩa là tuy thực tiễn quyết định lý luận nhng khi
quay trở lại thì lý luận sẽ chỉ đạo thực tiễn. Việc đảm bảo tính thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn sẽ thúc đẩy hoạt động của con ngời, tạo ra những chuyển
biến lớn, những bớc ngoặt trong cả lý luận và thực tiễn.
Nếu nh việc nghiên cứu về mối liên hệ gia lý luận và thực tiễn đã quan
trọng thì vấn đề đổi mới t duy và đổi mới kinh tế lại càng quan trọng hơn bởi vì
xét đến cùng mục đích của chúng ta là phát triển nền kinh tế - nền tảng của xã
hội và cũng là trung tâm của các hoạt động xã hội khác. Chúng ta hiểu rằng đổi
mới kinh tế phải là một quá trình chuyển biến có tính chất bớc ngoặt về đờng
lối và chính sách kinh tế-xã hội. Xét nớc ta, mặc dù mới đợc thực hiện trong
thời gian gần đây nhng công cuộc đổi mới kinh tế đã tạo nên những thay đổi
căn bản trong đời sống xã hội nớc ta. Quá trình đổi mới ở nớc ta diễn ra từng b-
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
1.1. Vai trò của thực tiễn đối với lý luận là vai trò mang tính quyết định.
Trớc tiên chúng ta hãy tìm hiểu quan điểm duy vật biện chứng về thực
tiễn. Thực tiễn là gì?
Trong lịch sử triết học, phạm trù thực tiễn đã từng xuất hiện trớc triết học
Mác. Chẳng hạn trong triết học Phoi ơ Bắc và cả trong triết học duy tâm của
Hêghen đã đề cập đến phạm trù thực tiễn nhng ở Phoi ơ Bắc và chủ nghĩa duy
vật trớc Mác nói chung đều quan niệm thực tiễn chỉ thuần tuý là hoạt động kiếm
miếng ăn, là hoạt động con buôn bẩn thỉu. Họ không thấy đợc vai trò sáng tạo,
vai trò cải tạo thế giới của thực tiễn. Theo Hêghen thì thực tiễn là hoạt động có
ý chí của t tởng. Vì triết học của Hêghen đặt trên nền tảng sự vận động của ý
niệm tuyệt đối. Do đó thực tiễn chỉ đợc ông xem xét nh 1 phạm trù logic thể
hiện 1 giai đoạn phát triển của ý niệm tuyệt đối mà thôi.
Triết học Mác đã thừa nhận mặt vật chất, mặt cảm tình trực tiếp của hoạt
động thực tiễn trong quan niệm triết học của Phoi ơ Bắc, đồng thời cũng thấy
mặt hoạt động có ý chí trong quan niệm của triết học Hêghen. Nhng cao hơn,
triết học Mác còn thấy vai trò sáng tạo, vai trò cải tạo thế giới, vai trò nền tảng
phát triển xã hội của hoạt động thực tiễn. Vậy thực tiễn là gì?
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch sử-xã hội của
con ngời nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Trong hoạt động thực tiễn, con ngời sử dụng những công cụ vật chất tác
động vào những đối tợng vật chất, làm biến đổi chúng theo mục đích của mình.
Những hoạt động nh vậy đợc thực hiện một cách tất yếu khách quan. Thực tiễn
là hoạt động đặc trng, bản chất của con ngời, không ngừng phát triển bởi các
thế hệ loài ngời.
Nh vậy, thực tiễn không chỉ là những hoạt động vật chất của từng con ng-
ời cá biệt mà là dạng hoạt động cơ bản của loài ngời trong quá trình phát triển
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lịch sử của mình. Xét từ nội dung cũng nh phơng thức thực hiện, hoạt động thực
thực tế con ngời không thể hiểu biết đợc. Rõ ràng là một tay thợ lành nghề sẽ dễ
dàng trong lao động sản xuất còn một ngời lúc nào cũng chỉ chăm chú học
thuộc lý thuyết sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Và đôi khi chính kinh nghiệm lại
giúp cho ta phát hiện, sửa chữa những sai lầm của lý luận. Chẳng phải là nhiều
ngời giàu kinh nghiệm, từng trải luôn đợc tôn trọng, hỏi ý kiến và họ cũng luôn
cho ta những lời khuyên sáng suốt đó sao.
Tất cả những điều trên đã cho thấy thực tiễn phải là yếu tố quyết định của
lý luận. Nhng lý luận cũng tác động đến thực tiễn với 1 vai trò không nhỏ: chỉ
đạo thực tiễn.
1.2. Khi lý luận quay trở lại thực tiễn nó sẽ chỉ đạo thực tiễn
Ta hiểu rằng lý luận là trình độ cao của nhận thức, là một hệ thống những
tri thức đợc khái quát từ thực tiễn, phản ánh nhiều mối liên hệ bản chất, quy luật
của thế giới khách quan. Mà ta đã biết theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật
biện chứng: quá trình nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào
bộ óc con ngời. Nó không phải là sự phản ánh giản đơn máy móc mà là sự phản
ánh có tính chất biện chứng. Nó là quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích
cực và sáng tạo. Nh vậy lý luận đã nâng nhận thức lên 1 tầm cao hơn.
Tuy rằng tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu đợc trong cuộc
sống hàng ngày của con ngời nhng tri thức kinh nghiệm lại có hạn chế bởi trình
độ tri thức kinh nghiệm cha thể nắm bắt cái tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ
bản chất giữa các sự vật, hiện tợng. Anghen trong cuốn sách biện chứng về tự
nhiên đã nhận xét: "Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có
thể chứng minh đợc đầy đủ tính tất yếu". Nh vậy lý luận là 1 trình độ cao hơn
về chất so với kinh nghiệm. Nếu nh kinh nghiệm chỉ là những kiến thức đợc tích
luỹ đơn thuần từ hoạt động thực tiễn thì tri thức lý luận là tri thức khái quát từ
tri thức kinh nghiệm, nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy
luật của lý luận.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lý luận đợc hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm
phải sống".
Nh vậy khả năng chỉ đạo thực tiễn của lý luận đã rõ ràng. Chúng ta cần
phải hiểu rõ lý luận của mình mà từ đó dùng nó nh 1 "kim chỉ nam" cho hành
động. Có thế mới đảm bảo hiệu quả và tính đúng đắn về mục đích của công
việc.
1.3. Sự cần thiết phải đặt lý luận và thực tiễn trong mối quan hệ thống
nhất biện chứng
Rõ ràng là vai trò của lý luận cũng quan trọng không kém vai trò của
thực tiễn. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải nhìn nhận mối quan hệ này nh thế
nào.
Chủ nghĩa Mác-Lê nin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất
biện chứng-đó là nguyên tắc cơ bản trong chủ nghĩa Mác-Lê nin. Hoạt động của
con ngời đợc chia làm hai loại: một là hoạt động thực tiễn tức là hoạt động vật
chất và một là hoạt động nhận thức lý luận là hoạt động tinh thần. Hai hoạt
động này không thể tách rời vì chúng song song diễn ra, bổ sung cho nhau.
Thực tiễn tuy có vai trò quyết định đối với lý luận nhng nếu không có lý
luận dẫn dắt sẽ trở thành thực tiễn mù quáng. Bởi vậy, mặc dù chúng ta cần coi
trọng những kinh nghiệm do thực tiễn của bản thân đa lại song nếu chỉ dựa vào
kinh nghiệm của bản thân, tuyệt đối hóa nó, coi thờng lý luận thì sẽ mắc bệnh
kinh nghiệm chủ nghĩa. Đúng nh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Có kinh
nghiệm mà không có lý luận cũng nh một mắt sáng một mắt mờ".
Hơn nữa, chúng ta đều biết rằng mặc dầu những vấn đề bức bách do cuộc
sống, do hoạt động thực tiễn đặt ra bao giờ cũng là những vấn đề hết sức cụ thể,
nhng để giải quyết những vấn đề hết sức cụ thể ấy một cách có hiệu quả thì
không một ai có thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, là cơ sở cho
việc giải quyết những vấn đề cụ thể đó.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
V.I.Lênin đã từng nhận xét: "Ngời nào bắt tay vào những vấn đề riêng trớc
khi giải quyết các vấn đề chung thì kẻ đó, trên mỗi bớc đi sẽ không sao tránh
ớc ta
2.1. Quá trình đổi mới kinh tế ở nớc ta đã đa đến sự phát triển, đổi mới về
t duy
2.1.1. Thực trạng nền kinh tế nớc ta những năm đầu khi cha có đổi mới t duy
Sau khi ra khỏi chiến tranh, cùng với quá trình thống nhất đất nớc về thể
chế chính trị, việc nhất thể hoá nền kinh tế cũng đã đợc triển khai một cách tích
cực. Mô hình kinh tế đã từng bớc đợc hình thành từ những năm 50 ở miền Bắc
theo kiểu mẫu nền kinh tế kế hoạch tập trung, mặc dù trải qua mấy chục năm
chiến tranh đã bị biến dạng nhiều nhng vẫn mang một số đặc trng lớn của nó.
Thứ nhất là, nhà nớc trực tiếp điều khiển các hoạt động kinh tế quan
trọng trong cả nớc thông qua hệ thống các kế hoạch sản xuất và phân phối hàng
hoá, thông qua hệ thống giá cả, tỉ giá, lãi suất đợc quy định nghiêm ngặt. Với
mong muốn sớm làm cho sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể chiếm vị trí chủ đạo
trên phạm vi toàn nền kinh tế; nhà nớc trực tiếp đầu t qua tín dụng để trợ giúp
cho các thành phần kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể để ngày càng chiếm tỉ
trọng lớn. Kinh tế t nhân quy mô lớn không đợc khuyến khích phát triển và là
đối tợng của sự cải tạo để dần dần trở thành kinh tế nhà nớc hay kinh tế tập thể.
Trong khi đó, cơ chế thị trờng chỉ hoạt động trong phạm vi kinh doanh
nhỏ và kinh tế gia đình, tức là ở một phần nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
bán lẻ hàng tiêu dùng, dịch vụ. Phần lớn t liệu sản xuất đợc coi không phải là
hàng hoá, không đợc phép mua bán tự do trên thị trờng mà đợc phân phối theo
hệ thống kế hoạch hoá của nhà nớc. Nhà nớc còn độc quyền trong hoạt động
ngoại thơng. Do hoàn cảnh lịch sử, hầu hết các quan hệ mậu dịch quốc tế của
Việt Nam là với Liên Xô và Đông Âu. Các công ty ngoại thơng của Nhà nớc
thực hiện những hiệp định buôn bán đó. Lãi hay lỗ của hoạt động ngoại thơng
đều đợc đa vào ngân sách Nhà nớc. Còn t nhân không hề đợc tham gia vào hoạt
động này.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài ra, ngân sách Nhà nớc còn bù đắp các khoản lỗ của doanh nghiệp