Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra - Pdf 27

Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt ra
PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi
Trường Đào tạo PTNNL VietinBank
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia.
Diễn biến của TGHĐ giữa USD với Euro, giữa USD/JPY cũng như sự biến động tỷ giá giữa
USD/VND trong thời gian qua cho thấy, tỷ giá luôn là vấn đề thời sự, rất nhạy cảm. Ở Việt Nam,
TGHĐ không chỉ tác động đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư
trực tiếp, gián tiếp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng. Khi TGHĐ biến
động theo chiều hướng không thuận, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện nhiều
giải pháp như: nới rộng biên độ +/-5% (3/2009); hạ biên độ xuống +/- 3% (2/2010), đồng thời với
việc điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng 3,36% ; 4/2010 NHNN yêu cầu các Tổng công ty, Tập
đoàn có thu ngoại tệ phải bán cho ngân hàng và kiểm kiểm soát chặt chẽ các giao dịch mua bán
ngoại tệ tại các địa điểm mua bán ngoại tệ. Gần đây nhất vào ngày 18/8/2010, NHNN đã điều
chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng lên hơn 2% (từ 18.544VND/USD lên 18.932 VND/USD) và giữa
nguyên biên độ. Với những giải pháp này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã từng bước bình
ổn, tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, từng bước lành mạnh hóa
các giao dịch vốn trong xã hội.
Trong thời gian tới, TGHĐ biến động theo hướng nào, quả thật không dễ dự đoán. Sự biến động
của tỷ giá sẽ khó lường, bởi nhiều nhân tố tác động như: nhập siêu còn lớn không chỉ trong ngắn
hạn mà cả trong trung hạn; thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao (trên dưới 6%/GDP); giá vàng
trong nước và thế giới luôn tăng mạnh (do khủng hoảng chi tiêu công tại một số quốc gia Châu Âu,
châu Mỹ); nhu cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng vào những tháng cuối năm sẽ tăng cao do
khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng; do nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước của các nhà
đầu tư nước ngoài; do kinh tế ngầm vẫn phát triển rất mạnh, khó có khả năng ngăn chặn, nên đôla
hóa nền kinh tế còn ở mức cao; do thực hiện chính sách đồng tiền mạnh/ hay yếu của một số
quốc gia trong khu vực… Như vậy sẽ có vài vấn đề đặt ra đối với TGHĐ:
Một là, có thể điều chỉnh TGHĐ theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trong bối cảnh một số nước Châu
Âu đang rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công, còn Trung quốc lại nâng giá đồng nhân dân tệ?
Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công từ một số nước Châu Âu đang có chiều hướng lan
rộng.Trong 7 tháng đầu năm 2010, Euro đã giảm giá 15,7% so với USD, giảm 8,5% so với đồng
GBP và thậm chí giảm 20% so với đồng JPY.i Trung quốc nâng giá Nhân dân tệ, ít nhiều tác động

nhập khẩu). Như vậy sự phụ thuộc của giá cả trong nước vào giá cả thị trường quốc tế khá lớn.
Do đó, các ý kiến cho rằng cần xử lý tỷ giá theo hướng tăng để khuyến khích xuất khẩu, chủ động
nhập khẩu là trực tiếp hoặc gián tiếp thu hẹp vai trò của tỷ giá iii, trong khi TGHĐ còn liên quan
đến hàng loạt vấn đề như cán cân thanh toán, nợ quốc gia, thị trường tiền tệ, thị trường chứng
khoán và bất động sản. Chỉ xét riêng mối quan hệ giữa tỷ giá với nợ quốc gia cũng cho thấy cần
rất thận trọng trong việc nâng hay giảm giá của tiền đồng. Nợ quốc gia của Việt Nam chủ yếu là nợ
nước ngoài (khoảng 40% GDP), nếu giảm giá tiền tệ thì ảnh hưởng không nhỏ đến nợ quốc gia.
Với cơ cấu nợ công iv của Việt Nam nghiêng về nợ nước ngoài, thì khi tỷ giá điều chỉnh tăng lên,
sẽ dẫn đến rủi ro nợ công do lãi suất biến động theo xu hướng tăng. Như vậy sẽ dẫn đến chênh
lệch lãi suất quá lớn giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế, sẽ làm gia tăng mức độ đôla
hóa và tiếp tục tạo áp lực lên TGHĐ. Vì vậy, khi cần điều chỉnh tỷ giá không chỉ đặt nó trong mối
quan hệ với xuất, nhập khẩu, mà còn phải xem nó trong mối quan hệ với đầu tư, lãi suất và vay
nợ nước ngoài v.v… trong chiến lược chung là nâng cao uy tín và vị thế của VND, hướng đến
một đồng tiền tự do chuyển đổi trong khu vực.
Ba là, có khắc phục được yếu tố kỳ vọng VND mất giá?
Khi người dân và doanh nghiệp luôn kỳ vọng VND mất giá, sẽ làm giảm niềm tin của người dân
vào điều hành chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ, NHNN, tiếp tục gây ra những bất ổn
trên thị trường. Điều này đã và đang xảy ra trong dân chúng. Khi tỷ giá trên thị trường tự do biến
động tăng, người dân nghĩ ngay đến việc NHNN sẽ điều chỉnh tỷ giá theo hướng VND giảm giá.
Khi giảm giá VND thì giá một số hàng hóa dịch vụ tăng, lãi suất cho vay và huy động cũng bị đẩy
lên cao, các giao dịch ngắn hạn trở lên phổ biến hơn lúc nào hết (gửi tiền cũng chỉ chấp nhận kỳ
hạn ngắn từ tuần, đến tháng; nếu có gửi kỳ hạn 6 tháng hay 1 năm thì các NHTM lại phải áp dụng
theo kiểu “rút ra trước hạn ở thời điểm nào sẽ được hưởng lãi suất ở kỳ hạn đó”. Nếu vẫn cứ tiếp
cách hành xử này, VND luôn đặt trong xu thế điều chỉnh giảm. Điều này là rất bất ổn trong trung
hạn. Vậy có khắc phục được vấn đề này không? Theo chúng tôi có thể khắc phục được bằng cách
trong ngắn hạn cần chấp nhận một tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn hiện tại (trên dưới 5%), duy trì một
tỷ lệ lạm phát thấp (trên dưới 6%), đồng thời với nó là dùng các biện pháp để nâng giá tiền đồng,
tạo một sự thay đổi từ nhận thức của người dân. Việc làm này sẽ tạo yếu tố tâm lý rất quan trọng,
đặc biệt trong bối cảnh niềm tin của người dân bị suy giảm về sự không ổn định sức mua của tiền
đồng, họ có tiền nhàn rỗi sẽ nhanh chóng chuyển sang vàng và ngoại tệ nắm giữ v.

cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ
yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những tiến bộ nhanh chóng về
khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc
gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá cao độ. Trong bối cảnh
đó, việc quản lý nền kinh tế của một nước không thể quyết định một cách
biệt lập, và Việt Nam không phải một ngoại lệ.
Thực trạng điều hành tỷ giá ở Việt Nam thời gian qua là một nội dung
quan trọng. Khái quát sự đổi mới hệ thống tài chính trên lĩnh vực tỷ giá
nhằm làm sáng tỏ những ưu nhược điểm để từ đó có những điều chỉnh thích
hợp.
Góp phần vào những nghiên cứu, phân tích, trong bài tiểu luận này
chúng em cũng xin được trình bày về một vấn đề đa dạng, phức tạp và cũng
vô cùng quan trọng này thông qua đề tài: “Tỷ giá và chính sách tỷ giá ở
Việt Nam hiện nay “. Với kiến thức còn nhiều thiếu sót, cơ sở số liệu thống
kê không đầy đủ và tính phức tạp của đề tài nên trong bài viết không tránh
khỏi khiếm khuyết rất mong được sự góp ý của thầy giáo và các bạn.
B.Nội dung:
I. Một số vấn đề chung về tỷ giá:
1.Tổng quan về tỷ giá:
a.Khái niệm tỷ giá: Tỷ giá là giá cả một đơn vị tiền tệ của một nước tính
bằng tiền tệ của nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai
đồng tiền.
b.Biểu diễn và niêm yết tỷ giá: Trong tỷ giá có hai đồng tiền, một đồng tiền
đóng vai trò đồng tiền yết giá, còn đồng kia đóng vai trò là đồng định giá.
Đồng tiền yết giá là đồng tiền có số đơn vị cố đinh và bằng 1 đơn vị.
Đồng tiền định giá là đồng tiền có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ
cung cầu trên thị trường ngoại hối. Ví dụ 1USD =19000 VND thì USD là
đồng tiền yết giá và VND là đồng tiền định giá.
Theo tập quán kinh doanh ngoại tệ, tỷ giá thường được yết giá theo hai
phương pháp:

trở nên cân bằng. Khi đó, lãi suất thực tế của VND và USD tương đương
nhau.
Khi có ảnh hưởng của lạm phát, mặc dù lãi suất danh nghĩa tăng, nhưng
lãi suất thực tế giảm, lúc này ngược lai- VND sẽ giảm giá so với USD, dẫn
tới tỷ giá tăng.
Ngược lại, khi đồng USD tăng giá, để tạo cân bằng trên thị trường ngoại
hối, NHTW sẽ chủ động tăng lãi suất đồng nội tệ(VND) thông qua đẩy
mạnh lượng cung ngoại tệ ra nền kinh tế đồng thời hút bớt đồng nội tệ về.
Điều này làm cho cung cầu ngoại hối trở nên cân bằng.
2. Các nhà kinh doanh cần dự đoán chính xác về các biến kinh tế nhằm
có những bước đi đúng đắn. Vậy việc dự đoán như vậy có ảnh hưởng gì tới
tỷ giá không?
Nếu một nhân tố nào đó làm cho tỷ giá tương lai dự tính của nội tệ(VND)
sụt xuống thì làm cho mức tăng giá dự tính của VND giảm xuống và như
vậy làm cho mức tămg giá dự tính của đôla tăng lên. Kết quả là một khoản
lợi tức dự tính cao hơn về tiền gửi đôla, và dẫn tới việc giảm xuống của tỷ
giá. Ngựơc lại, một sự tăng lên của tỷ giá tương lai dự tính sẽ làm cho đồng
nội tệ tăng giá.
Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lạm phát tăng trong khi lãi suất thực tế
không đổi thì mức tăng giá dự tính của VND giảm xuống (mức tăng giá của
USD cao hơn). Kết quả là, với một tỷ giá đã cho bất kỳ lợi tức dự tính về
tiền gửi nước ngoài tăng nhiều hơn lợi tức dự tính trong nước, như vậy tỷ giá
sẽ giảm.
Nếu lãi suất danh nghĩa dự tính tăng do lãi suất thực tế tăng trong khi lạm
phát dự tính không đổi thì đồng nội tệ sẽ tăng.
3. Ảnh hưởng của những cú sốc về kinh tế, chính trị
Kinh tế và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.
Nếu như trong nước xảy ra khủng hoảng chính trị thì sẽ làm đồng nội tệ sụt
gía do người dân mất niềm tin vào chính phủ. Nếu nền kinh tế bị suy thoái
thì cung ngoại tệ giảm dẫn tới sự thiếu hụt đồng ngoại tệ và điều tất yếu là

tiếp đến tỷ giá hối đoái. Trên thế giới, việc phá giá đồng tiền thường được sử
dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế dồi dào, nhưng phải đối đầu với suy
thoái kinh tế đi đôi với lạm phát trầm trọng.
*Nhân tố tác động trong dài hạn:
Những nhân tố tác động đến cán cân vãng lai qua đó tác động đến xu hướng
biến động của tỷ giá trong dài hạn chính là cán cân bộ phận thuộc
CA(current account).Các nhân tố chính ảnh hưởng đến từng cán cân bộ
phận, qua tác động đến tỷ giá trong dài hạn bao gồm:
+) Cán cân thương mại và dịch vụ: Với các nhân tố khác không đổi, cán
cân thương mại và cán cân dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi: tương quan lạm phát
giữa hai đồng tiền , thu nhập của người cư trú và người không cư trú, thuế
quan và hạn ngạch, tâm lý của người dân.
Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền :Nếu như mức độ lạm phát
giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, dẫn đến
giá cả của hai nước sẽ có những biến động khác nhau, làm cho ngang giá sức
mua của hai đồng tiền bị phá vỡ, khi đó sẽ làm thay đổi tỷ giá. Vì tỷ lệ lạm
phát thường ít thay đổi trong ngắn hạn, chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn, vì
vậy tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động
của tỷ giá trong dài hạn.
Thu nhập của người cư trú và người không cư trú: nếu thu nhập
của người cư trú tăng tương đối so với người không cư trú, kích thích tăng
nhập khẩu dòng, làm tăng cầu nội tệ khiến tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá.
Nếu thu nhập của người không cư trú tăng tương đối so với người cư trú,
kích thích tăng xuất khẩu dòng,làm tăng cung ngoại tệ, khiến tỷ giá giảm.
Thuế quan và hạn ngạch:
Nếu là trong nước : một quốc gia tăng thuế quan hoặc áp dụng
hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giảm cầu ngoại tệ , tác dụng làm tỷ
giá giảm. Nếu quốc gia đó giảm mức thếu quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối
với hàng nhập khẩu , tăng cầu ngoại tệ tỷ giá tăng.
Nếu là ở nước ngoài : Phía nước ngoài tăng mức thuế quan

chính quốc gia đó. Khi đồng tiền của một quốc
gia tăng giá (Tăng trị giá so với đồng tiền khác)thì hàng hoá
nước đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn và hàng hoá nước
ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn.Ngược lại khi đồng tiền một
nước sụt giá,hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ
hởn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt
hơn(các yếu tố khác không đổi). Tỷ giá tác động đến hoạt
động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh
toán quốc tế,gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân.
Thứ hai - TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát:
Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại
thương, mà thông qua đó tỷ giá sẽ có tác động đến các khía
cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước,
lạm phát khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất
nghiệp…
Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994
thấp hơn mức 1USD = 13500VND của năm 1998, tức tiền Việ
Nam sụt giá và nếu giả định mặt bằng giá thế giới không
đổi ,thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính thành tiền
Việt Nam tăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập
khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự và trong đó có cả
nguyên vật liệu ,máy móc cho sản xuất. Nếu các yếu tố khác
trong nền kinh tế là không đổi,thì điều này tất yếu sẽ làm
mặt bằng giá cả trong nước tăng lên. Nếu tỷ giá hối đoái tiếp
tục có sự gia tăng liên tục qua các năm (đồng nội tệ Việt
Nam liên tục mất giá) có nghĩa lạm phát đã tăng. Nhưng bên
cạnh đó, đối với lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn
lực trong nước, thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp
tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này, giúp phát
triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm,

có tác động làm cho mức giá chung giảm.
II. Thực trạng tỷ giá ở Việt Nam trong thời gian qua:
I THỰC TRẠNG
Năm 2009 có thể coi là năm “tiền tệ” tại Việt Nam. Tỷ giá USD/VND
tăng mạnh, nhập siêu cao, lạm phát đứng trước áp lực tăng trở lại
vào năm 2010, khan hiếm cục bộ USD, giá vàng sốt nóng, lãi suất
ngân hàng lên kịch trần…
Tỷ giá chính thức giữa USD và VND trong năm 2009 đã trải qua hai lần
điều chỉnh, một lần vào tháng 3 (+2%) do tăng biên độ giao dịch từ 3%
lên 5% và lần gần nhất là vào tháng 11 (+3,4%). Mặc dù sau mỗi lần
điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trần nhưng tỷ giá trên thị
trường không chính thức (tỷ giá thị trường tự do) vẫn luôn nằm ngoài
biên độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước.Trên thực tế, điều này đã xảy
ra từ đầu năm tới nay, cho thấy thị trường ngoại hối luôn căng
thẳng(theo dõi biểu đồ dưới).
Diễn biến tỷ giá USD/VNĐ 2008-2009
Biểu đồ cho thấy càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh,
thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng
thì thừa, USD thương mại thì thiếu. Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán
cho doanh nghiệp và nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần
do NHNN quy định. Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối
đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn
nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát trong nước do giá hàng
nhập khẩu tăng mạnh.
Để thấy rõ sự biến động của chúng thi so sánh ở ba góc độ của thị trường là
thị trường liên ngân hàng, thị trường tự do, tỷ giá bình quân liên ngân hàng
trong 4 giai đoạn
tháng 1 - tháng 3;
tháng 4 - tháng 9;
tháng 10 - ngày 24/11

Giai đoạn 2, từ 18.180 đồng - 18.250 đồng nhưng từ nửa cuối tháng 6/2009,
tăng lên mức 18.450 đồng - 18.500 đồng.
Sang giai đoạn 3, tỷ giá thị trường tự do tăng rất nhanh, đạt đỉnh 20.000
đồng rồi giảm nhanh về 18.700 đồng trước khi tăng trở lại và duy trì ở mức
19.000 đồng - 19.300 đồng
Đến giai đoạn 4, tỷ giá thị trường này giảm mạnh.
Nếu như tỷ giá hai thị trường trên biến động mạnh thì biến động của tỷ
giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ
sở cho tỷ giá thị trường biến động rất ít. ở giai đoạn 1, chúng biến động
nhỏ và xoay quanh mức 16.980 đồng. Giai đoạn 2, sau khi nới biên độ, tỷ
giá giảm từ 16.980 đồng xuống 16.935 đồng (- 0,26%) và duy trì đến hết
tháng 5/2009. Từ tháng 6/2009, mặc dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh
tăng dần nhưng mức tăng thấp. Giai đoạn 3, nhịp độ tăng của tỷ giá bình
cán cân thương mại là số liệu ước tính lấy từ bản tin hàng tháng của tổng cục Thống kê)
2.HAN CHE VA NGUYEN NHAN.
2.1 han che
Trong cơ chế hai tỷ giá này Nhà nước sẽ mất một khoản thu thuế do sự chênh lệch tiền
mua bán ngoài hóa đơn này. DN mua USD bị thiệt do chỉ được xuất hóa đơn với tỷ giá
thấp hơn thực tế phải trả. Cái thiệt lớn nhất là sự mất cân đối trong cung cấu ngọai tệ của
nền kinh tế, vô tình cổ vũ cho thị trường USD tự do mặt sức tung hòanh.. Sự khan hiếm
USD vô tình được thổi phồng quá mức, mà trước hết là do sự chênh lệch quá lớn giữa tỷ
giá USD giữa hai thị trường.
Theo các chuyên gia kinh tế, cách điều hành tỷ giá, chính sách tỷ giá của
Ngân hàng Nhà nước hơi bảo thủ, cứng nhắc; việc minh bạch thông tin cũng
không được thực hiện.
- Về cách điều hành bảo thủ, cứng nhắc:
Công cụ duy nhất để điều hòa thị trường ngoại tệ là tung ngoại hối ra và nới
lỏng biên độ hoặc sử dụng các biện pháp kỹ thuật về tiền tệ. Có thể nói,
NHNN chỉ sử dụng các công cụ trực tiếp để thực hiện chính sách tỷ giá.
Ngân hàng còn đề ra mức khống chế lượng bán ra trong ngày đối với từng

Khi thiếu, một mặt ngân hàng không có nguồn bán cho doanh nghiệp, khiến
doanh nghiệp tăng cường “vét” trên thị trường tự do, đẩy tỷ giá ở thị trường
này tăng chóng mặt; mặt khác, họ hối thúc Ngân hàng Nhà nước phải bán ra.
Thực tế, Ngân hàng Nhà nước đã hành động theo hướng này và mỗi lần thực
hiện “bơm” ra, thị trường bình ổn trở lại nhưng khi hết đợt, tỷ giá lại tăng.
Có những thời điểm, Ngân hàng Nhà nước bán ra bao nhiêu, hết bấy nhiêu,
hệt như đổ vào “hố đen” không đáy.
2. ở một quốc gia bị “Đô la hóa” từ lâu như Việt Nam, khi Chính phủ có chủ
trương hỗ trợ lãi suất đã làm cho lãi suất cho vay của đồng Việt Nam giảm
xuống. Tuy nhiên, vì Chính phủ không song song hỗ trợ lãi suất đồng USD
nên đã làm cho khoảng cách của chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND
bị thu hẹp lại. Khi khoảng cách này càng gần thì nghiễm nhiên, VND trở nên
mất giá và đồng USD bị tăng giá cục bộ ở Việt Nam một cách giả tạo.
Từ đó, một lượng lớn ngoại tệ bị rút khỏi lưu thông, nằm dưới dạng “tài sản
để dành”, “găm giữ” của doanh nghiệp và dân chúng trên tài khoản hoặc ở
két sắt, chờ tỷ giá tăng để săn tìm lợi nhuận.
Dĩ nhiên, tác động phụ này sẽ không xảy ra nếu Chính phủ đồng thời làm
hai việc vừa tài trợ lãi suất cho tín dụng nội tệ, vừa tài trợ lãi suất cho tín
dụng ngoại tệ, nhằm phản ánh đúng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam so với tỷ lệ
lạm phát của Mỹ cũng Bên cạnh đó, chúng ta thiếu công cụ phòng ngừa rủi
ro dẫn đến quản lý thị trường ngoại hối cũng có những hạn chế nhất định
trong việc chuyển đổi tiền tệ, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn.như uy tín của
VND so với USD.
3.Tac dong của chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã dẫn đến một số hệ lụy quan trọng.
Việc định giá VND cao so với USD trong một thời gian dài đã góp phần làm
giảm năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu, đồng thời khuyến khích nhập
khẩu. Điều này được chứng minh bằng một thực tế là nhập siêu của Việt
Nam tăng nhanh liên tục trong mấy năm trở lại đây, từ 2,8 tỷ USD trong
năm 2006 lên 8,2 tỷ USD năm 2007 và 17,5 tỷ USD trong năm 2008,năm

thì sẽ làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp.
Và một tác động đặc biệt quan trọng khác là tạo tâm lý đầu cơ, găm giữ
ngoại tệ và chuyển đổi từ VND sang USD, làm gia tăng thêm tình trạng đô
la hoá nền kinh tế.
Qua việc tìm hiểu về chính sách tỷ giá trong thời gian qua, nhóm chúng tôi
đề xuất một số giải pháp như sau:
1. Chấm dứt hỗ trợ lãi suất 4% vì bên cạnh tác động thắt chặt tín
dụng, nó còn khuyến khích các doanh nghiệp có USD chuyển một phần dự
trữ USD sang VND để đáp ứng các nhu cầu vốn lưu động, nhờ đó giảm áp
lực cho thị trường ngoại hối.
2. Thực hiện chính sách đa ngoại tệ: Hiện nay trên thị trường ngoại tệ,
mặc dù USD có vị thế mạnh hơn hẳn các ngoại tệ khác, song nếu trong quan
hệ tỷ giá chỉ áp dụng một loại ngoại tệ trong nước sẽ làm cho tỷ giá ràng
buộc vào ngoại tệ đó, cụ thể là USD. Khi có sự biến động về giá cả USD
trên thế giới, lập tức sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tỷ giá của USD đến VND mà
thông thường là những ảnh hưởng rất bất lợi.

Trích đoạn Một số giải pháp cho chính sách tỷ giá VND nhằm cải thiện cán cân thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status