Các trung gian tài chính tại Việt Nam
cafephutho
Gửi
email Bả
n in
09:55' AM -
Thứ hai,
26/10/2009
Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính
thực hiện chức năng dẫn vốn từ người có vốn tới người cần
vốn. Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp người cần
vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường
tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn
thông qua một cầu nối. Nghĩa là người cần vốn muốn có
được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ
chức tài chính gián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì hiện Việt nam có: 5
Ngân hàng thương mại lớn (Ngân hàng Ngoại thương, Ngân
hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng
Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân hàng
chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên doanh;
36 Ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng
nước ngoài; 10 Công ty tài chính; 13 Công ty cho thuê tài
chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các
công ty chứng khoán, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín
dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính...
Tại Việt Nam, hiện có đầy đủ các loại hình tổ chức tài chính
trung gian bao gồm:
• Ngân hàng thương mại
• Công ty chứng khoán
trong khu vực lần lượ
t là 1,18% và 16,47%. Tỷ lệ NPL của toàn hệ thống ngân
hàng trong đã giảm từ 14% trong năm 2006 xuống 3% trong
năm 2007, tính theo chuẩn quốc tế (IFRS) tỷ lệ này lần lượt
là 30% năm 2006 và 6% năm 2007.
Tuy tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh nhưng hiện vẫn cao hơn nhiều
so với mức 0,06% của các chi nhánh Ngân hang nước ngoài
tại Việt Nam.
b. Loại hình: Công ty Chứng khoán
Tính từ khi ra đời, số lượng các công ty Chứng khoán không
ngừng tăng nhanh về số lượng. Nếu như năm 2000 khi thị
trường Chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động
với 4 công ty Chứng khoán thì đến thời điểm năm 2007 đã
có tới 61 công ty Chứng khoán với tổng số vốn điều lệ đạt
5735 tỷ đồng. Và đến nay đã có hơn 100 công ty Chứng
khoán đang hoạt động.
Các công ty Chứng khoán trong quá trình phát triển luôn
đồng thời tăng vốn điều lệ, nhằm đáp ứng được khả năng tài
chính và sự phát triển. Các công ty chứng khoán đã góp phần
tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp. Tính đến cuối năm 2008, tỷ lệ vốn hóa thị trường
chứng khoán đạt gần 40% GDP quốc dân. Điều này chứng
tỏ, Các công ty chứng khoán đã giúp các doanh nghiệp niêm
yết có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn từ công chúng đầu
tư, ổn định và với chi phí vốn thấp, mang tính dài hạn.
c. Loại hình: Công ty Tài chính
Khi thị trường tài chính Việt Nam phát triển, nó sinh ra một
nhu cầu lớn về vốn. Khi này, các Ngân hàng với những điều
kiện chặt chẽ về hạn mức cho vay, kỳ hạn vay, điều kiện giải
ngân... sẽ rất khó đáp ứng hết được nhu cầu vốn lớn này. Sự
như đã đáp ứng được những nhu cầu bảo hiểm phong phú từ
khách hàng. Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một
lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm
có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ
mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.
Theo số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Quốc gia thì tính đến
tháng 6 năm 2009, tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ năm giữ là 250,43 ngàn tỷ đồng. Các công ty Bảo
hiểm tham gia tích cực khi tham gia đầu tư, tài trợ dự án, giải
ngân vốn cho các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế vay
vốn. Và với lợi thế ngành, các doanh nghiệp Bảo hiểm còn tư
vấn cho các khách hàng vay vốn của mình nên mua bảo hiểm
để giảm thiểu rủi ro và cũng là giảm thiểu rủi ro cho các
doanh nghiệp Bảo hiểm.
Theo số liệu chưa kiểm toán thì tính đến thời điểm tháng 6