Đánh giá và tìm hiểu vai trò và tiềm năng của đinh mức tín nhiệm đối với ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 27

I/ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊNH MỨC TÍN NHIỆM
1/ Một số khái niệm
1.1/ Định mức tín nhiệm (ĐMTN)
ĐMTN được dùng để đo lường mức độ rủi ro gắn liền với một
khoảng đầu tư nào đó. ĐMTN là việc đánh giá về khả năng của một đơn
vị phát hành trong việc thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài
chính.
Nghĩa vụ tài chính gồm trái phiếu, thương phiếu, cổ phiếu, các khoảng nợ
và các khoảng tiền vay ngân hang.
Có nhiều loại ĐMTN khác nhau. ĐMTN đợt phát hành trái phiếu
và ĐMTN của đơn vị phát hành. Thông thường, người ta quan tâm nhiều
đến đợt phát hành vì nó không chỉ tính tới độ tín nhiệm của đơn vị phát
hành mà còn tính tới độ tín nhiệm của những tài sản thế chấp.
Ngoài ra còn có ĐMTN trong nước hay toàn cầu. Các tổ chức
ĐMTN trong nước sẽ ĐMTN các DN trong nước. Trong khi đó, các tổ
chức ĐMTN quốc tế sẽ định mức những đơn vị phát hành trên toàn cầu
phục vụ cho các nhà đầu tư lớn.
1.2/ Tín nhiệm DN
Tín nhiệm DN là ý kiến về khả năng của DN trong việc thực hiện
các nghĩa vụ tài chính được đưa ra bởi một tổ chức . Ý kiến này tập trung
vào việc đánh giá khả năng và mong muốn của DN trong việc thực hiện
cam kết tài chính khi chúng tới hạn. Ý kiến này không nhằm cung cấp
1 | P a g e
đảm bảo khả năng trả nợ của DN được xếp hạng với bất cứ một nghĩa vụ
tài chính cụ thể nào. Tín nhiệm DN có thể tăng hoặc giảm theo khả năng
mà DN có đáp ứng được nghĩa vụ tài chính của mình hay không.
2/ Công ty ĐMTN (CRA)
2.1/ Khái niệm
Công ty ĐMTN hay một tổ chức ĐMTN (còn được gọi là CRA) là
công ty chuyên cung cấp quan điểm của họ về độ tín thác của một DN
trong nghĩa vụ thanh toán tài chính.

2.3/ Các mô hình của CRA
Trên thế giới, hiện có ba loại hình CRA:
● Thứ nhất: Mô hình CRA 100% vốn nước ngoài.
Đây là loại hình do các CRA nước ngoài thành lập và hoạt động
dưới dạng mở chi nhánh tại nước sở tại hoặc đăng ký thành lập công ty.
Mô hình này thường chỉ có một pháp nhân đứng ra thành lập hoặc có hai
pháp nhân nước ngoài.
3 | P a g e
Để mô hình này có thể đi vào hoạt động đòi hỏi phải có một thị trường
trái phiếu phát triển nhất định và có sự đầu tư lớn từ trong nước cũng như
quốc tế.
● Thứ hai: Mô hình công ty liên doanh với nhà đầu tư nươc ngoài
Mô hình này do các CRA nội địa và CRA nước ngoài cùng thiết
lập liên doanh để khai thác một số dịch vụ của ĐMTN. Để xây dựng mô
hình thì đối tác trong nước phải là một tổ chức tài chính hoặc một DN đã
rất am hiểu về hoạt động của CRA mới phát huy được vai trò của nó và
tránh không bị đối tác nước ngoài chi phối.
● Thứ ba: Mô hình công ty cổ phần có sự tham gia của các cổ đông
chiến lược nước ngoài.
Với mô hình loại này thì CRA đóng vai trò là một công ty cổ phần,
trong đó ngoài các cổ đông trong nước còn có sự tham gia của các cổ
đông chiến lược nước ngoài. Họ là những nhà đầu tư lớn, có vai trò đặc
biệt quan trong trong việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân sự và cử
người điều hành DN. Trong mô hình này không có sự phân biệt đối xử
giữa cổ đông trong nước và nước ngoài về tỷ lệ sở hữu. Nguyên tắc phan
bổ tỷ lệ sở hữu là tùy thuộc vào vai trò của từng nhà đầu tư trong việc
hình thành sự ra đời và hoạt động của CRA.
3/ Các hình thức của ĐMTN
Kinh doanh thông tin tín nhiệm từ lâu đã không còn xa lạ trên thế
giới. Hoạt động của các tổ chức ĐMTN rất đa dạng với nhiều hình thức

nghĩa và nó bao gồm những thông tin bổ sung cho ĐMTN đã công bố
trước đó. Cập nhật ĐMTN và công bố ĐMTN sẽ “thăng hạng”, “xuống
hạng” hoặc bị hủy bỏ.
3.2/ Đánh giá tín nhiệm và xếp hạng DN
Đây là một trong những dịch vụ chính của loại hình kinh doanh tín
nhiệm DN. Đánh giá tín nhiệm là một dịch vụ rất phổ biến trên thế giới.
Ở hầu hết các nước phát triển và nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á
đã có các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này. Đây là một dịch vụ hết
sức cần thiết đối với nền kinh tế thị trường, đặc biệt là đối với các NH.
Đánh giá tín nhiệm hay xếp hạng tín nhiệm DN là việc đánh giá
khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ của một công ty, hay đánh giá mức độ
rủi ro gắn liền với các loại đầu tư khác nhau. Các loại đầu tư này có thể
dưới dạng các công cụ cho vay như vay và gửi tiền tại NH, hay có thể
dưới dạng các chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu, thương phiếu…
Xếp hạng DNlà một phần của quá trình cung cấp thông tin tín
nhiệm DN thôngqua các khâu thu thập, sàng lọc, chia nhóm, phân tích,
6 | P a g e
đánh giá, so sánh và cho điểm các thông tin tín nhiệm để xếp hạng các
DN theo các cấp độ khác nhau. Mục đích của việc xếp hạng DN là đưa ra
ý kiến về khả năng thực hiện một nghĩa vụ tài chính của DN ví các DN
thường sử dụng vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, từ các nhà
đầu tư, các NH hay từ nguồn vốn của các nhà cung cấp. Vì vậy mà nó rất
cần thiết cho nền kinh tế, đặc biệt là đối với hoạt động của NH.
Khi tham gia đánh giá tín nhiệm, DN sẽ được nhận những thông tin
đánh giá độc lập, khách quan về tình hình tài chính, khả năng thanh toán
nợ. Mặt khác, các DN còn nhận được dich vụ tư vấn tài chính, quản lý,
quan hệ công chúng (PR)… Tuy nhiên, để có thể đánh giá tín nhiệm của
một DN, các CRA phải dựa trên hai chỉ tiêu là tài chính và phi tài chính.
Có hơn 100 chỉ tiêu tính điểm và các phương pháp kiểm tra chéo phức tạp
để có thể đưa tới việc xếp hạng từ AAA, AA, BB… cho mức độ tín

Trong điều kiện hiện nay, con người là vấn đề quan trọng hàng
đầu. Các CRA phải có một đội ngũ chuyên gia thực sự giỏi cùng với việc
8 | P a g e
xây dựng một qui trình đánh giá khoa học, khách quan và chính xác, phù
hợp với từng điều kiện của mỗi nền kinh tế. Kết quả xếp hạng phải được
thực hiện bởi một đội ngũ chuyên gia về các lĩnh vự tài chính và phi tài
chính. Từ việc thu thập thông tin đến việc kiểm tra, thẩm định phải được
tiến hành một cách đầy đủ, chính xác và được đánh giá theo đúng tiêu
chuẩn quốc tế. Cuối cùng các chuyên gia đầu ngành sẽ họp và đưa ra kết
quả cuối cùng, đó là sự tổng hợp của tất cả các bước trên.
Một điều kiện cũng rất quan trọng đối với một CRA là công tác
quảng bá ra công chúng. Một tổ chức muốn đánh giá DN và muốn khẳng
định mình thì trước hết phải tạo dựng được vị thế và uy tín trong cộng
đồng DN.
Tóm lại, điều kiện để một tổ chức định mức tín nhiệm hoạt động
thành công là được tin cậy, độc lập, không thiên vị, có năng lực về kỹ
thuật - nhân lực, đầy đủ về cả số lượng lẫn chất lượng, tiếp cận được với
những thông tin đáng tin cậy về tổ chức được định mức và tạo dựng được
hình ảnh của mình trong cộng đồng DN .
II/ TIỀM NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐMTN DOANH NGHIỆP
1/ Tổng quan về hoạt động của NHTM Việt Nam
Qua gần 15 năm hình thành và chuyển đổi từ tập trung bao cấp sang
kinh doanh thị trường, hệ thống NHTM Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ
và có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế. Mặc dù đã
có nhiều cố gắng trong việc đổi mới nhưng cho đến nay, thực trạng về
9 | P a g e
hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam vẫn còn có rất nhiều bất cập và
hạn chế, gây khó khăn cho việc phát triển của hệ thống NHTM nói riêng
và của cả nền kinh tế nói chung.
1.1/ Về khả năng huy động vốn

Cho vay Tỷ lệ
(%)
Cho vay Tỷ lệ
(%)
NHTM VN
NH Cổ phần
NH Nước
ngoài
123.840
18.920
29.240
72
11
17
156.950
27.950
30.100
73
13
14
206.535
40.745
33.720
73,5
14,5
12
Tổng cộng 172.000 100 215.000 100 281.000 100
Nguồn: NHnhà nước
Như vậy, với gần 75% thị phần cho vay là của hệ thống NHTM Việt
Nam đã cho ta thấy, NHTM Việt Nam đang giữ vai trò chủ đạo trong việc

9,4%. Nhưng nhìn chung, tỷ lệ này giảm không nhiều, từ năm 1999 đến
tháng 8/2001 chỉ giảm có 2,7%. Tuy nhiên, đây cũng là một dấu hiệu tốt
của hệ thống NH.
Riêng đối với các NHTM Việt Nam trong giai đoạn này, ta có thể
thấy rõ chênh lệch về tỷ lệ Nợ quá hạn / Tổng dư nợ từ năm 1998 là 11%
đến tháng 8/2001 chỉ còn là 5,5%, tức là số nợ quá hạn đã giảm được đến
50%, nhưng vẫn còn lớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ an toàn là 5%.
Một trong những nguyên nhân chính gây ra sự kém hiệu quả của
hoạt động NHTM Việt Nam chính là quyền tự chủ của các NH chưa được
tôn trọng. Việc cho vay của các NH này chịu ảnh hưởng của những yếu tố
kinh tế, đặc biệt là các khoảng cho vay đối với các DNnhà nước (DNNN).
Chẳng hạn như cho phép cung ứng các khoản vay mà không phải thế chấp
các tài sản cũng như gia hạn thêm đối với một số khoản nợ, chuyển các
khoản nợ NH thành vốn ngân sách cấp. Tình hình trên là một trong những
tồn tại còn hạn chế của hệ thống NHTM Việt Nam.
Bảng : Dư nợ cho vay của 4 NHTM Việt Nam với các DNNN
ĐVT: Tỷ đồng
13 | P a g e
DNNN (Theo các ngành sản xuất) Tổng dư nợ NH
Mía đường
Sắt thép
Phân bón
Xi măng
Giấy
3.881
896
858
2.900
746
TỔNG CỘNG

và chất lượng còn chưa phù hợp theo chuẩn quốc tế. Một điểm hạn chế rất
lớn trong hệ thống NHTM Việt Nam đó là sự thiếu minh bạch trong hoạt
động tài chính của các NH. Điều đó gây khó khăn không nhỏ trong việc
xác minh chắc chắn điều kiện và tình trạng thật sự của chất lượng tín dụng
NH. Hậu quả là lợi nhuận báo cáo của các NHdường như bị thổi phồng
nhưng không thể xác định chắc chắn là đến mức nào.
2/ Vai trò của ĐMTN đối với hoạt động của hệ thống NHTM Việt nam
2.1/ Sự cần thiết:
15 | P a g e
Hiểu biết và quản lý rủi ro là chìa khóa để dẫn đến thành công của
NH. Đối với một khoảng lợi tức tiềm năng đều có sự rủi ro tương ứng.
Cho đến nay, rủi ro tín dụng là rủi ro chính yếu nhất, nó chiếm đến 80%
tổng rủi ro mà NH phải gánh chịu. Lịch sử đã cho thấy nhiều NH thất bại
vì không hiểu chính chắn về khách hàng của mình. Vì vậy, việc phân tích
hoạt động kinh doanh và đánh giá, xếp loại DN được coi là yếu tố quan
trọng hàng đầu của các NHTM Việt Nam hiện nay.
Ở các nước trên thế giới, một trong những kỹ thuật quản lý rủi ro tín
dụng của NH là phương thức sử dụng kỹ thuật phân tích để xét duyệt khả
năng và mặt uy tín về mặt tín dụng của khách hàng một cách thường
xuyên. Nếu khách hàng được sự tín nhiệm tín dụng cao thì được vay nhiều
hơn. Đó là tiến trình xét duyệt tín dụng. Các NH sẽ đưa ra các chỉ tiêu và
kèm theo các thang điểm cơ bản để đánh giá, xếp loại tín dụng theo A, B,
C… Các thông tin tín dụng của NHTW để cho các NH tham khảo.
Ở Việt Nam hiện nay, trong xu thế cạnh tranh và hội nhập tạo nên
thời cơ và thách thức mới, đối với hệ thống NHTM Việt Nam cần phải có
sự đột phá vững mạnh, đởi mới công nghệ, đa dạng hóa và nâng cao chất
lượng sản phẩm. Nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, giảm bơt tỷ lệ nợ quá
hạn hiện nay tại các NH còn khá cao, khoảng ( … ), các NH cần thận
trọng, am hiểu rõ khách hàng của mình là người đang kinh doanh như thế
nào. Vì vậy, việc phân tích tài chính, xếp loại DN là kỹ thuật nghiệp vụ

trường trong đó sự minh bạch là điều kiện thiết yếu để chủ động hội nhập
và phát triển. TTCK là một kênh huy động vốn rất quan trọng nhưng hiện
nay vẫn phát triển một cách chậm chạp với quá nhiều biến động và rủi ro.
Một trong những nguyên nhân của sự trì trệ này là chưa có một tổ chức
đánh giá tín nhiệm. Như vậy, để TTCK phát triển, việc thành lập một tổ
chức đánh giá tín nhiệm là vấn đề hết sức cần thiết. Việc xúc tiến hình
thành CRA tại Việt Nam đồng nghĩa với việc xây dựng và hoàn thiện cơ
sở hạ tầng của thị trường vốn ở Việt Nam mà trên thực tế đang đòi hỏi
phải có nhiều loại định chế trung gian có uy tín và hoạt động độc lập.
► Tầm quan trọng thứ hai của các CRA chính là sự toàn cầu hoá.
Các quỹ đầu tư giờ đây vươn ra khắp thế giới, các quan hệ tín dụng theo
đó cũng bị ảnh hưởng bởi các CRA. Họ không chỉ xếp hạng các tổ chức
phát hành mà còn xếp hạng cả các quốc gia. Bởi vì sản phẩm của các CRA
chính là việc cung cấp cho thị trường một hệ thống xếp hạng các công cụ
tài chính, đặc biệt là các chứng khoán nợ, từ đó giúp cho các nhà đầu tư có
cơ sở để tham khảo, so sánh đối chiếu kỹ càng trước khi đưa ra quyết định
đầu tư cuối cùng của mình, đó là nên đầu tư vào những công cụ nào? Điều
18 | P a g e
này có nghĩa là chính hệ thống xếp hạng mà các CRA đưa ra đóng vai trò
làm người bảo vệ các nhà đầu tư giảm bớt rất nhiều rủi ro khi đầu tư vào
chứng khoán. Bảng xếp hạng của các CRA cũng chính là một trong những
phương tiện báo hiệu sự vận động của TTCK bên cạnh những chỉ báo
khác.
Hệ thống xếp hạng của các CRA không chỉ có lợi về phía các nhà
đầu tư, mà còn mang lại lợi ích to lớn cho các công ty chứng khoán. Chính
hệ thống xếp hạng đã làm nền tảng vững chắc cho việc lựa chọn một danh
mục đầu tư lý tưởng đối với các công ty quản lý, các công ty chứng khoán
cho nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư và nghiệp vụ tự doanh. Các CRA
còn là nhân tố kích hoạt TTCK thêm sôi động, tạo thêm công ăn việc làm,
nâng cao và chuẩn hoá kiến thức về phân tích kinh tế, tài chính, kế toán

thấy yên tâm hơn khi gửi tiền hay đầu tư vào các cổ phiếu hoặc dự án của
NH. Lúc này, việc huy động vốn đối với các NH sẽ không còn quá khó
khăn như trước đây. Và khi vốn được huy động càng ngày càng nhiều,
20 | P a g e
nghĩa là nó đã cung cấp cho nhu cầu của thị trường vốn Việt Nam đang
ngày càng tăng, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của cả nền
kinh tế.
► Thứ năm, trong bối cảnh chung như hiện nay, khi mà các NHTM
Việt Nam đang được cổ phần hóa ngày càng nhiều và chuẩn bị được đưa
lên các sàn giao dịch chứng khoán, thì đây có thể sẽ là một kênh huy động
vốn rất lớn của các NH trong tương lai, không chỉ có các nhà đầu tư trong
nước mà còn có sự tham gia của cả các tập đoàn đầu tư tài chính nước
ngoài. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam hiện nay vẫn còn rất non trẻ. Vấn đề
thông tin luôn là một nhu cầu không bao giờ đáp ứng đủ cho các nhà đầu
tư. Vì vậy, việc nắm giữ thông tin sẽ là một yếu tố rất quan trọng giữ vai
trò quyết định đối với các nhà đầu tư Việt Nam. Trong điều kiện mức độ
hiểu biết của công chúng đầu tư còn hạn chế, các kênh cung cấp thông tin
và đánh giá đúng rủi ro còn rất ít hoặc chưa có, sự xuất hiện của các CRA
sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin cho cộng đồng đầu tư, và chính bảng xếp
hạng của các CRA sẽ làm cho nhà đầu tư yên tâm hơn khi tiếp cận với thị
trường (nghĩa là giúp họ có cơ sở và tự tin hơn khi thực hiện quyết định
đầu tư vào một loại chứng khoán nợ nào đó). Việt Nam đã có TTCK, song
hoạt động của các tổ chức định mức tín nhiệm vẫn chưa xuất hiện. Nhưng
vì vai trò của tổ chức này là rất quan trọng, trong khi đó Việt Nam lại đang
trong quá trình hội nhập quốc tế, tự do hoá tài chính và phát triển triển
TTCK, nên việc thành lập và đưa tổ chức ĐMTN vào hoạt động tại Việt
21 | P a g e
Nam là vấn đề hết sức cấp thiết.
Tóm lại, hiệu quả hoạt động và chất lượng tín dụng của một NH
được chứng minh bằng khả năng huy động vốn, hoạt động cho vay và tình

 Báo cáo tổng hợp chi tiết.
Hiện nay, hoạt động của C&R cũng đã được mở rộng thông qua
cổng thông tin của trang web “Doanh nhân Việt Nam”
(www.doanhnhanvietnam.com). Khi là thành viên của website này, các
DN có quyền cung cấp thông tin về mình và cũng có quyền tiếp cận các
thông tin tín nhiệm về các DN khác trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế ở
Việt Nam và trên thế giới.
Cho đến nay, VN mới có hai DN hoạt động trong lĩnh vực ĐMTN.
Một là Công ty Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng DN (C&R) - được tách
ra từ Công ty Giải pháp VN năm 2004. Hai là Trung tâm đánh giá tín
nhiệm Vietnamnet (Credit Ratings Vietnamnet Center - CRVC) thuộc
công ty phần mềm truyền thông VASC, vừa đi vào hoạt động trong gần
23 | P a g e
một năm qua. (Bắt đầu hoạt động chính thức từ ngày 4/6/2005)
Những dịch vụ chủ yếu của C&R là cung cấp thông tin tín nhiệm,
xếp hạng tín nhiệm DN và điều tra thị trường theo ngành kinh tế. Trong
khi đó, dù mới ra đời, CRVC cũng đã cung cấp khá nhiều dịch vụ đa dạng
liên quan đến loại hình ĐMTN. CRVC sẽ là tổ chức chuyên cung cấp cho
DN các dịch vụ thu thập thông tin, đánh giá xếp hạng, ĐMTN các tổ chức
tài chính, xếp hạng DN .
Đồng thời, đơn vị này cũng nhận tư vấn, hỗ trợ DN trong việc tạo
dựng uy tín trên thị trường, xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh; thẩm
định lại các thông tin; xây dựng cơ sở dữ liệu về các DN, doanh nhân, từ
đó phát triển dịch vụ tư vấn tài chính, môi giới đầu tư
Đối tượng phục vụ chính của C&R và CRVC là các nhà đầu tư, các
DN hay hệ thống các NHtrong nước và quốc tế. Thông tin tín nhiệm và
đánh giá tín nhiệm DN là một loại hình kinh doanh đặc biệt, liên quan mật
thiết đến hình ảnh và uy tín của các DN . "Nguyên tắc hoạt động của C&R
là những thông tin đưa ra phải hoàn toàn mang tính khách quan và được
điều tra trực tiếp trên nguyên tắc ý thức trách nhiệm như của chính mình.

Trích đoạn Vận động các nhà đầu tư tham gia thành lập các công ty ĐMTN Vai trò của ĐMTN trong nền kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status