Cơ chế quản lý lãi suất tín dụng đối với ngân hàng thương mại và tín hiệu quả của nó - Pdf 29

Nhóm 5_DH8NH Môn: Tiền Tệ - Ngân hàng
Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của Thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước đi lên và đạt
được những thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Với đà thắng lợi của đất nước
trong công cuộc đổi mới nền kinh tế ngành ngân hàng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
và mục tiêu đổi mới của mình đã tiến được những bước quan trọng trong hệ thống các
công cụ quản lý lãi suất được coi là nhạy cảm nhất nó thực sự là vấn đề nóng bỏng nhất
thu hút được nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội.
Lãi suất với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ được nhiều
nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và từ lâu được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng như
một công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế. Đặc biệt là trong cơ chế thị trường lãi suất trở
thành công cụ đắc lực để NHNN thực thi chính sách tiền tệ nhằm ổn định và phát triển thị
trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả
các nguồn vốn trong nền kinh tế. Trong từng thời kỳ nhất định cho nên việc thi hành một
cơ chế lãi suất thích hợp là vô cùng phức tạp mà vai trò đó thuộc ngân hàng nhà nước. Để
đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường các nghiệp vụ của ngân
hàng thương mại đã không ngừng đổi mới và phát triển để phù hợp với điều kiện thực tiễn
của đất nước. Với trọng trách to lớn đó NHNN đã thường xuyên điều chỉnh lãi suất cho
phù hợp phát triển khả năng linh hoạt của các Ngân hàng thương mại.
Trước những xáo trộn của thị trường tiền tệ, cơ chế quản lý lãi suất tín dụng của
Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã và đang đem lại những kết quả tích cực, góp
phần ổn định nền kinh tế. Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự của lãi suất trên cơ
sở những kiến thức đã học cùng với những kiến thức trong khuân khổ tài liệu cho phép,
chúng em xin trình bày đề tài: “Cơ chế quản lý lãi suất tín dụng đối với ngân hàng
thương mại và tín hiệu quả của nó”.
1
Nhóm 5_DH8NH Môn: Tiền Tệ - Ngân hàng
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Những vấn đề chung về lãi suất:
- Quan niệm về lãi suất:
• Lãi suất có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia tuy

tiền gửi ở mức độ lớn không chỉ ảnh hưởng đến quy mô của NH mà còn ảnh hưởng
đến khối tiền M1 và qua đó tới lạm phát. Chính vì vậy, việc áp dụng chính sách tăng
mạnh lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao trong kiềm chế, đẩy lùi lạm phát.
 Lãi suất tiền vay được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả cho ngân
hàng. Sự thay đổi lãi suất tiền vay có tác động đến quy mô cho vay và khả năng cung
2
Nhóm 5_DH8NH Môn: Tiền Tệ - Ngân hàng
ứng tiền của hệ thống NHTG. Vì cơ chế này mà NHNN có thể thực hiện mục tiêu nới
lỏng hoặc thắt chặt cung ứng tiền bằng cách ảnh hưởng tới lãi suất tiền vay của các
ngân hàng áp dụng với nền kinh tế.
 Lãi suất chiết khấu là một lãi suất cho vay áp dụng cho NHTG, cho khách hàng vay
dưới hình thức chiết khấu giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và thỏa mãn các
điều kiện chiết khấu theo quy định. Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của các
giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng.
Mức chiếu khấu được quy định bởi cung cầu vốn trên thị trường tín dụng.
 Lãi suất tái cấp vốn áp dụng khi NHNN tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thức
chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng
hoặc cho vay cầm cố các giấy tờ có giá.
 Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị
trường liên ngân hàng.
 Lãi suất cơ bản là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi
suất kinh doanh của mình, lãi suất cơ bản được hình thành tùy theo từng nước có thể
do NHNN ấn định hoặc do bản thân các ngân hàng tự xác định tùy vào tình hình hoạt
động cụ thể của ngân hàng mình và đó là mức lãi suất được áp dụng cho khách hàng
có mức rủi ro thấp nhất…
 Lãi suất tín dụng nhà nước áp dụng khi nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau
trong xã hội dưới hình thức phát hành trái phiếu hoặc tín phiếu. Loại lãi suất này có
thể do nhà nước ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng và các
yếu tố khác: sự biến động của lạm phát, nhu cầu cấp thiết về vốn của nhà nước…
hoặc được hình thành thông qua hoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu nhà nước.

1.2.4. Phân loại theo cách đo lường lãi suất:
- Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suất kỳ hạn vay
Công thức tính : I = C
o
. i . n
( trong đó I số tiền lãi , C
o
vốn gốc , i là lãi suất , n số kỳ )
Trong đó thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất
- Lãi suất kép là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời
hạn sử dụng tiền vay. Nó thường được áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiểu kỳ hạn
thanh toán trong đó lãi suất của kỳ trước được nhập vào vốn gấp để tính lãi suất kỳ sau.
Công thức : C = C
o
x ( 1-i)
n
Trong đó: C số tiền thu được theo lãi gộp sau n kỳ, C
o
vốn gốc ban đầu, i lãi suất n
số kỳ gửi vốn
1.3. Vai trò của lãi suất :
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp vai trò của lãi suất
được nhìn nhận một cách hết sức mờ nhạt và lệ thuộc nhiều khi được hiểu như là một sự
phân phối cuối cùng của sản phẩm giữa những người sản xuất và người cho vay
Chuyển sang nền kinh tế thị trường lãi suất giữ vai trò hết sức quan trọng là một
trong những đòn bẩy kinh tế .Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân
nói chung vai trò của lãi suất được thể hiện ở nội dung sau đây .
1.3.1. Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết kiệm
của các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

- Lãi suất thấp → kích thích đầu tư , kích thích tiêu dùng → tăng tổng cầu → sản lượng
tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm→ nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ.
- Lãi suất cao → hạn chế đầu tư , hạn chế tiêu dùng → giảm tổng cầu → sản lượng giảm
→giảm giá → thất nghiệp tăng → nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.
Như vậy, bằng cách tăng lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể làm giảm khả năng
cho vay của Ngân hàng Thương mại do đó thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt giảm bớt
khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu
dùng . Cũng như vậy, bằng cách hạ thấp lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể tạo điều kiện
cho các hoạt động kinh tế phát triển hoặc muốn kìm hãm tốc độ phát triển một nghành
nghề nào đó, Ngân hàng Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay để thu hẹp hoặc
mở rộng đầu tư của các nghành nghề .
Từ năm 1989 đến nay ,chính sách lãi suất luân được sử dụng để điều chỉnh kinh tế
ở Việt Nam .Sau khi kiềm chế và giữ được lạm phát ở mức độ tương đối ổn định , Ngân
hàng Nhà nước danh thực hiện hạ thấp dần khung lãi suất để khuyến hích huy động đầu tư
và mở rộng sản xuất kinh doanh khôi phục kinh tế .
1.3.4. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân
hàng thương mại:
Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lượng nguồn vốn huy động đồng thời
để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng mức lãi suất tiền gửi
và hạ lãi suất cho vay. Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa các NHTM. Thực chất của
quá trình này là phân chia khối lượng tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ngân
hàng ra thị trường. Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi NHTM đều có chiến lược khách
hàng của mình. Chiến lược này được thực hiện bằng lãi suất ưu đãi. Muốn vậy các NHTM
đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý. Sự cạnh tranh
lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
5
Nhóm 5_DH8NH Môn: Tiền Tệ - Ngân hàng
1.3.5. Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế:
Người ta thấy rằng trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế lãi suất có xu hướng

và các gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ.
*Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: khi ngân hàng trung ương lo sợ
sắp có suy thoái sẽ tăng mức cung tiền tệ bằng cách bơm tiền vào lưu thông qua các công
cụ của chính sách tiền tệ, lãi suất có xu hướng giảm xuống. Tín dụng trở nên dồi dào hơn,
lãi suất giảm. Kết quả là việc tiến hành các dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn, số tiền
chi tiêu về nhà máy, thiết bị, kho hàng tăng lên, người tiêu dùng có khuynh hướng mua
nhiều hàng hơn…Vốn đầu tư tăng, tổng mức cầu tăng lên tạo ra thăng bằng trên thị
trường.
Ngoài ra những thay đổi dự định trong cầu tiền tệ (không phải do sự thay đổi trong mức
giá cả, tổng sản phẩm, hoặc lãi suất gây ra) cũng ảnh hưởng đến lãi suất cân bằng.
Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một ý nghĩa quan
trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ. Khi nào thì ngân hàng trung ương
6
Nhóm 5_DH8NH Môn: Tiền Tệ - Ngân hàng
bơm tiền ra lưu thông, khi nào thì hút tiền từ lưu thông về để điều chỉnh lãi suất thị
trường một cách hợp lý, trên cơ sở đó ổn định thị trường, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền
kinh tế, giảm lạm phát.
1.4.2. Lạm phát:
Khi lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất, yếu tố kích
thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiền
lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát. Trong tình hình ấy những người có
khả năng cho vay không muốn giữ tiền mặt, đổ xô đi mua hàng hóa dự trữ vàng, ngoại tệ.
Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm, dẫn đến lãi suất tăng. Hoặc khi lạm phát tăng,
không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ
cho vay. Bởi với lãi xuất danh nghĩa cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực
của việc vay tiền giảm xuống , kích thích người ta đi vay hơn là cho vay. Người đi vay sẽ
kiếm được khoản thu lợi do giá hàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên, lãi suất
tăng.
Theo Friedman, ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực
kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực

-Tạo ra sản lượng cao, tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân.
-Đạt tỷ lệ người có công ăn việc làm cao, tỷ lệ thất nghiệp thất.
-Đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động.
Để đạt được mục tiêu trên, Nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng các chính sách có
thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạt động kinh tế. Quá trình thực hiện các
chính sách của Nhà nước đều tác động lãi suất cân bằng trên thị trường.
*Chính sách tài chính: bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khóa. Chi tiêu của
chính phủ là một nhân tố then chốt định mức tổng chi tiêu.
Khi nhà nước thực hiện một chính sách tài chính bành trướng (tăng chi tiêu của Chính
phủ và giảm thuế) sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của thị trường hàng hóa và thị trường
tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất.
Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu, đường cầu dịch chuyển về
bên phải, khi chính phủ giảm thuế, làm cho nhiều thu nhập hơn được sẵn sang để chi tiêu
và làm tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chi tiêu, tiêu dùng. Mức cao hơn của tổng sản
phẩm làm tăng lượng cầu tiền tệ, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất tăng.
Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng, chẳng hạn việc giảm
thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư làm cho các ngành tăng đầu tư vào máy móc, nhà máy,
tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên, tăng lượng cầu tiền tệ, đường cầu dịch chuyển
về bên phải, lãi suất tăng lên.
*Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung
ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia. Với
công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động của nền kinh tế vĩ mô
bằng các phương pháp sau:
- Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường, chủ động điều chỉnh lãi suất để điều
chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, hạn chế hoặc mở rộng hoạt động tín
dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời
kỳ.
- Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu: ngân hàng trung
ương tái chiết khấu các chứng từ do ngân hàng thương mại xuất trình với điều kiện ngân
hàng phải trả một lãi suất nhất định do ngân hàng trung ương đơn phương quy định.

Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một
nước. Khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu, dẫn đến tăng
chi phí đầu vào của các xí nghiệp, giá hàng hóa trong nước tăng lên, lợi nhuận giảm, nhu
cầu đầu tư giảm, cầu tiền tệ giảm, lãi suất giảm. Mặt khác, khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng
tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên, lãi suất giảm.
Vì vậy khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá, ngân hàng trung ương sẽ theo đuổi một
chính sách tiền tệ thặt chặt hơn, giảm bớt cung tiền tệ, năng lãi suất trong nước, làm cho
đồng tiền của mình vững mạnh.
Khi tỷ giá ngoại tệ giảm, đồng tiền tăng giá, không kích thích xuất khẩu, nền công nghiệp
trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên, kích thích nhập khẩu. Lượng
tiền tệ tăng do với một tỷ giá thấp, với một lượng vốn đầu tư nhất định, tài sản đầu tư sẽ
nhiều hơn, kích thích đầu tư vào sản xuất, lãi suất tăng lên. Như vậy khi có một sự cạnh
tranh giữa nền công nghiệp trong nước với công nghiệp nước ngoài tăng lên, có thể gây
áp lực buộc ngân hàng trung ương phải theo đuổi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn
nhằm hạ thấp tỷ giá.

Chương 2: CƠ CHẾ QUẢN LÝ LÃI SUẤT
TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
9
Nhóm 5_DH8NH Môn: Tiền Tệ - Ngân hàng
2.1. Giai đoạn Từ ngày 01/6/2002 – 19/5/2008:
Các NHTM thực hiện theo cơ chế lãi suất thoả thuận theo quyết định số 546/2002/QĐ-
NHNN ngày 30/5/2002 lãi suất cho vay được hoàn toàn thả nổi theo nguyên tắc tự do
thỏa thuận giữa bên đi vay và NHTM. Thị trường tài chính ngân hàng ổn định, nền kinh
tế phát triển tốt, lạm phát thấp, DN làm ăn có hiệu quả.
Lần đầu tiên, lãi suất cơ bản được giữ vững trong khoảng thời gian khá dài ở mức
8,25%/năm từ 1/12/2005 đến cuối tháng 1/2008 đã giúp ngành ngân hàng đã có bước tiến
dài về môi trường pháp lý. Cơ chế tín dụng, cơ chế bảo đảm tiền vay được hoàn thiện
theo hướng một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp vay vốn.
Mặt khác, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, bảo đảm

Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số
02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này. Đặc biệt, trong lần điều
chỉnh ngày 19/5 (lên 12%), lãi suất cơ bản được trả lại đúng chức năng của nó, trở thành
một cơ sở để xác định hành lang pháp lý cho lãi suất cho vay của các ngân hàng thương
mại, thay vì xơ cứng và mờ nhạt trước đó.
2.2. Giai đoạn từ 19/05/2008 đến nay:
Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. Cơ chế này linh hoạt hơn cơ chế lãi
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status