Trang 1
MỤC LỤC
WX
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, đồ thị
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: LÃI SUẤT CHO VAY VÀ VÀI TRÒ CỦA LÃI SUẤT CHO VAY ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM .............................................................................6
1.1 Hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nền kinh tế thị trường ở VN:.....6
1.1.1 Định nghĩa NHTM:..............................................................................................6
1.1.2 Các chức năng truyền thống của NHTM: ............................................................6
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM:.....................................................................6
1.1.4 Lợi nhuận của NHTM:.........................................................................................8
1.2 Lãi suất cho vay và vai trò của lãi suất cho vay đối với hoạt động kinh doanh
của NHTM........................................................................................................................8
1.2.1 Bản chất của lãi suất:............................................................................................8
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất cho vay:.....................................................11
1.2.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường: ...............................................12
1.3 Ý nghĩa của việc đánh giá tín dụng doanh nghiệp vay vốn .................................14
1.3.1 Bản chất của việc đánh giá tín dụng đối với doanh nghiệp vay vốn..................14
1.3.2 Phương pháp đánh giá........................................................................................14
1.3.3 Ý nghĩa của việc đánh giá ..................................................................................14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT
CHO VAY TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM ......................................................................
16
2.1. Nghiệp vụ tín dụng một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM.............................................................................................................................16
2.1.1. Sự hình thành và phát triễn hệ thống NHTM Việt Nam qua các thời kỳ..........16
3.5.1 Xếp hạng DN theo chỉ tiêu đánh giá DN: ..........................................................53
3.5.2 Xếp loại khoản vay theo chỉ tiêu đánh giá rủi ro khoản vay:.............................54
3.5.3 Công thức xác định lãi suất cho vay: .................................................................56
3.5.4 Xác định lãi suất cho vay đối với DN theo mô hình phân tích rủi ro tín dụng: .57
3.5.5 Các chính sách lãi suất cho vay của NHTM: .....................................................58
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................................62
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3
PHẦN MỞ ĐẦU
" *** #
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây vai trò của lãi suất ngân hàng rất mờ
nhạt, lãi suất thường được đưa ra bởi các quyết định mang tính chất chủ quan. Sau
khi chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, NHNN đã
từng bước sử dụng và điều hành công cụ lãi suất ngày một phù hợp, chuy
ển từ kiểm
soát lãi suất trực tiếp sang cơ chế lãi suất thỏa thuận.
Cơ chế tự do hóa lãi suất làm cho lãi suất thực sự là giá cả tiền tệ hình thành chủ
yếu thông qua quan hệ cung cầu vốn trên thị trường. Lãi suất là yếu tố quan trọng,
tác động từ yếu tố "đầu vào" đến yếu tố "đầu ra" trong hoạt động của NHTM, là
công cụ quan trọng để nâng cao tính cạnh tranh theo
đặc điểm riêng có của từng
NHTM. Việc tự do hóa lãi suất giúp NHTM nâng cao tính chủ động trong việc định
– Đối với các NHTM: Giúp các NHTM Việt Nam nhìn lại những mặt còn tồn
tại trong việc xác định lãi suất cho vay của mình. Việc nghiên cứu m
ột cách
có hệ thống sẽ giúp các bộ phận liên quan trong NHTM hiểu rõ về bản chất,
các nhân tố cấu thành lãi suất cho vay cũng như phương pháp xác định lãi
suất cho vay một cách hợp lý, khoa học để vận dụng trong thực tiễn.
– Đối với các nghiên cứu tiếp theo: Kết quả của đề tài góp phần tạo thêm cơ sở
lý luận cho việc nghiên cứu về quản trị lãi suất trong hoạt động kinh doanh
NHTM.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Lấy chính sách lãi suất cho vay của hệ thống NHTM, các cơ sở lý luận về lãi suất
làm tiền đề và các khoản cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp làm phạm vi
nghiên cứu.
4. Phương pháp luận nghiên cứu:
Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và các lý thuyết về lãi suất làm
phương pháp nghiên cứu. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng tại các NHTM,
thông qua phân tích đánh giá doanh nghiệp và khoản vay để đưa ra mô hình xác
Trang 5
định lãi suất vay phù hợp và mang tính ứng dụng thực tiễn cao trong hoạt động của
các NHTM Việt Nam.
5. Kết cấu của luận văn:
Với mục tiêu và phương pháp luận trình bày ở trên, luận văn gồm 61 trang (chưa
tính phần phụ lục), có 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận, trong đó phần nội dung
được chia làm 03 chương lớn:
A. Phần mở đầu – giới thiệu ý nghĩa, mục
đích, phạm vi cũng như phương
pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài.
B. Phần nội dung – bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lãi suất cho vay và vay trò của lãi suất cho vay đối với hoạt
động kinh doanh của các NHTM.
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau
1
.
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các hình thức khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động
vốn. 1
Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM.
Trang 7
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức
tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hảng Nhà nước.
- Các hình thực huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
1.1.3.2 Nghiệp vụ tín dụng.
- Cho vay: Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và
phục vụ đời sống.
Cho vay trung hạn, dài hạ
n để phục vụ các dự án đầu tư.
- Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các hình thức bảo lãnh khác bằng uy tín và
khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh.
- Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác đối với tổ chức cá nhân và có thể tạ
i chiết khấu các thương phiếu
và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
- Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải
thành lập công ty cho thuê tài chính riêng.
cho vay. Theo tính toán nguồn thu từ tín dụng chiếm từ 80 – 90% tổng nguồn thu
của các NHTM. Qua đó, có thể thấy được tầm quan trọng của lãi suất cho vay trong
thời gian hiện nay đối với kết quả hoạt động của các ngân hàng.
1.2 Lãi suất cho vay và vai trò của lãi suất cho vay đối với hoạt động kinh
doanh c
ủa NHTM
1.2.1 Bản chất của lãi suất:
Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp và đa dạng. Lãi suất
chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, bên cạnh đó lãi suất tác động đến sự phát triển
của nền kinh tế nên nó mang tính chất tổng hợp. Mặt khác, lãi suất mang tính đa
dạng do xuất phát từ sự đa dạng của các loại tín dụng khác nhau trong nền kinh tế
thị trường như: lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu; lãi suất cầm cố giấy tờ có giá; lãi
suất trái khoán công ty; lãi suất trái phiếu kho bạc; lãi suất huy động tiết kiệm; lãi
Trang 9
suất cho vay ...với những cách thức đo lường khác nhau. Lãi suất là một phạm trù
giá cả, sự biến động của lãi suất chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu.
Lãi suất hội tụ nhiều mối quan hệ, các mâu thuẫn liên quan trực tiếp đến lợi ích
vật chất trong xã hội. Nhà kinh tế học người Pháp A Poial khẳng định "Lãi suất là
công cụ tích cực trong phát triển kinh tế và đồng thời cũng là m
ột công cụ kìm hãm
của chính sự phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại trong việc sử
dụng chúng"
2
.
Khi bàn về bản chất của lãi suất, người ta thường đề cập đến quan niệm của Mác:
Thông qua hình thức biểu hiện, lãi suất là giá cả của vốn cho vay như một loại hàng
hóa, giá cả của hàng hóa biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa còn giá cả của vốn
cho vay biểu hiện trực tiếp bằng lãi suất. Như vậy, lợi tức tín dụng là một phần của
giá trị
thặng dư mà nhà tư bản sản xuất phân chia cho nhà tư bản tài chính dưới hình
thì "Lãi suất là giá cả của
sự thuê tiền, là giá cả của sự vay tiền cho quyền sử dụng sức mua và thường được
biểu hiện bằng một tỷ lệ % của số tiền vay".
Tuy nhiên, quan niệm coi lãi suất chính là một phần thưởng dành cho những ai
biết tiết chế tiêu dùng trong hiện tại để kỳ vọng có được một sự tiêu dùng lớn hơn
trong tương lai không hẳn chính xác hoàn toàn. Không phải tất c
ả hành vi tiết chế
tiêu dùng hiện tại đều có thể có được tiêu dùng lớn hơn trong tương lai. Bởi vì
khoảng thời gian giữa tiết kiệm ở hiện tại và tiêu dùng trong tương lai bị chi phối
bởi nhiều yếu tố khác nhau, có thể làm biến dạng hoặc triệt tiêu hoàn toàn khoản
chênh lệch dương này ví dụ như lạm phát làm giảm sức mua của tiền tệ, rủi ro về
khả năng hoàn trả...
Trong quan hệ vay vốn: lãi suất đối với người cho vay là mức lãi suất mà người
cho vay đồng ý để giao quyền sử dụng vốn cho người vay; lãi suất đối với người đi
vay là mức lãi suất mà người đi vay sẵn lòng trả cho người cho vay để được quyền
sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định hay còn gọi là chi phí sử dụng
vốn. Có 2 cách diễn giải như sau:
- Lợ
i tức hay số tiền phải trả (interest) là chi phí biểu hiện bằng số tuyệt đối. Ví
dụ như số tiền cho vay là là 500 triệu đồng, thời hạn cho vay là 1 năm và số
tiền lãi phải trả là 60 triệu đồng.
- Lãi suất (interest rate) là chi phí phải trả thể hiện theo tỷ lệ phần trăm (%),
đây là quan hệ giữa tiền lãi phải trả, số tiền cho vay và thời hạn cho vay. Ví
dụ trên cho thấy lãi su
ất cho vay là 0,12 hay 12%/năm, lãi suất là tỷ lệ giữa
tổng số tiền lãi thu được so với tổng số vốn đã cho vay trong một thời gian
nhất định. 3
- Trang trải được các rủi ro trong hoạt động cho vay.
- Mang lại phần lợi nhuận hợp lý cho NHTM.
Bên cạnh đó, lãi suất cho vay còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như: sự
cạnh tranh của các ngân hàng khác hoặc các TCTD phi ngân hàng; mối quan hệ, uy
tín giữa ngân hàng và người đi vay; mục đích sử dụng tiền vay (vay công thương
Điểm cân
Đường cung vốn
Đường cầu vốn
Lãi suất
0
Lượng vốn
Trang 12
nghiệp, vay đầu tư kinh doanh bất động sản, vay sản xuất nông nghiệp, vay tiêu
dùng…); kỳ hạn cho vay (kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao do rủi ro trong việc
hoàn trả nợ vay gia tăng); tình hình diễn biến của nền kinh tế (tăng trưởng GDP,
lạm phát, thất nghiệp…)…
Thực tế ở các nước cho thấy lãi suất cho vay thường chịu sự chi phối của thị
trường tiền tệ ngắn hạn và của các NHTM lớ
n. Bên cạnh đó, lãi suất thị trường còn
chịu sự can thiệp của NHTW, tùy theo chính sách tiền tệ là thắt chặt hay mở rộng.
Khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, NHTW sẽ có biện pháp điều tiết để gián
tiếp tăng lãi suất thị trường nhằm hạn chế tín dụng, tăng lượng tiền gởi tiết kiệm; và
ngược lại khi muốn mở rộng tiền t
ệ NHTW sẽ điều tiết để gián tiếp giảm lãi suất thị
trường nhằm thu hút người vay, giảm lượng tiền gởi tiết kiệm.
1.2.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường:
1.2.3.1 Vai trò đối với các NHTM
Có thể thấy rằng lãi suất cho vay đóng một vai trò quan trọng đối với các NHTM
ở Việt Nam, nguồn thu từ tín dụng chiếm khoản 80 -90% doanh thu của các Ngân
hàng. Chính vì lẻ đó lãi suất cho vay có vai trò quyết
cơ hội kinh doanh và NHTM bị ứ đọng nguồn vốn.
Lãi suất là phương tiện trung gian trong điều hành kinh tế vĩ mô: sự thay đổi của
lãi suất tác động đến cân
đối cung cầu hàng hóa.
Điều 16-Luật Ngân hàng nhà nước: “Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
NHNN sử dụng các công cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc,
nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác do Thống đốc quyết định”. Như vậy
lãi suất cũng là một trong những công cụ để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suấ
t là công cụ tác động mạnh mẽ đến lạm phát-thất nghiệp: Để kéo giảm
mức lạm phát trong trường hợp nền kinh tế đang lạm phát cao, NHNN có thể can
thiệp gián tiếp vào các NHTM (quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn) thông
qua đó NHTM nâng lãi suất tiền gởi để thu hút vốn vào NHTM làm tiền trong lưu
thông giảm → nhu cầu tiêu dùng giảm → giá cả hàng hóa giảm. Trái lại, việc giảm
lãi suất sẽ đẩy mạnh tiêu dùng → kích thích sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm
mới → giảm thiểu thất nghiệp.
Lãi suất là công cụ để đo lường sức khỏe của nền kinh tế: Căn cứ các biến động
của lãi suất để dự báo các yếu tố khác như tính sinh lời của cơ hội đầu tư, lạm phát
dự tính, thiếu hụt ngân sách...
Trang 14
1.3 Ý nghĩa của việc đánh giá tín dụng doanh nghiệp vay vốn
1.3.1 Bản chất của việc đánh giá tín dụng đối với doanh nghiệp vay vốn
Như đã đề cập ở trên, lãi suất cho vay đóng một vai trò quan trọng trong kết quả
hoạt động kinh doanh của các NHTM trong giai đoạn hiện nay. Nếu như lãi suất
cho vay thấp sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, trong trường hợp
lãi suấ
t cho vay quá cao khách hàng sẽ chuyển qua các ngân hàng khác có lãi suất
thấp hơn.
Do đó, việc đánh giá tín dụng vay vốn là hết sức cần thiết. Việc đánh giá tín dụng
doanh nghiệp như là một tấm gương nhằm phản ánh thực tế hoạt động khách hàng
vay để được sử
dụng số vốn vay trong một thời gian nhất định.
Trên quan điểm NHTM, lãi suất cho vay cần bao gồm: chi phí huy động vốn, chi
phí quản lý và thực hiện khoản vay, bù đắp được các rủi ro trong hoạt động cho vay,
đem lại lợi nhuận hợp lý cho NHTM.
Khi cho vay các NHTM luôn mong muốn cho vay với lãi suất cao để bù đắp
hoàn toàn rủi ro liên quan. Tuy nhiên, việc xác định lãi suất cho vay không thể tuỳ
tiện theo ý chủ quan của ngân hàng. Xác định lãi suất cho vay phải căn cứ trên tình
hình c
ủa từng khách hàng, từng món vay cụ thể. Do đó, việc xây dựng một phương
pháp để xác định lãi suất cho vay là một việc làm hết sức cần thiết
¶·
Trang 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
VÀ XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT CHO VAY TẠI CÁC
NHTM VIỆT NAM
" *** #
2.1. Nghiệp vụ tín dụng một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh
của NHTM.
2.1.1. Sự hình thành và phát triễn hệ thống NHTM Việt Nam qua các thời kỳ.
2.1.1.1 Lịch sử về NHTM:
NHTM được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của xã hội
loài người. NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với khách hàng tổ chức, cá
nhân bằng cách nhận tiền gởi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng tiền
đó để cho vay; chiết
khấu; cung cấp các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác.
Theo Peter S.Rose
5
gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng d
ịch vụ thanh toán".
Như vậy, có thể nói NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng, có
ảnh hưởng đến nhiều mặt và sâu rộng trong nền kinh tế thị trường. Thông qua hệ
thống định chế tài chính trung gian này mà những nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác
trong xã hội được tập trung lại và được sử dụng để cho các tổ chức, cá nhân vay
phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.
2.1.1.2 Sự hình thành và phát triễn hệ thống Ngân hàng
ở Việt Nam
2.1.1.2.1 Thời kỳ kế hoạch hóa tập trung đến trước năm 1986
Khoảng thời gian từ trước Chiến tranh thế giới lần I, tại Việt Nam chỉ có 3 ngân
hàng nước ngoài hoạt động là Hương Cảng ngân hàng (1865), Đông Dương ngân
hàng (1875), và chi nhánh Chartered bank (1904).
Sau Chiến tranh thế giới lần I, một số ngân hàng nước ngoài khác được thành lập
là Đông Á ngân hàng (1921), NHTM Pháp (1922). Năm 1927 một số nhà tư sản
Việt Nam phối hợp góp v
ốn thành lập Ngân hàng Việt Nam-là ngân hàng thuần túy
của người Việt Nam và phục vụ người Việt Nam.
Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, có thêm 3 ngân hàng nước ngoài đăng ký
hoạt động tại Việt Nam là Trung Quốc ngân hàng (1946), Giao thông ngân hàng-
Quốc gia thương mãi (1947) và Kỹ nghệ ngân hàng (1947).
Từ sau 1954, đất nước bị chia cắt thành 2 miền:
Miền Bắc: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập ngày 05/06/1951 theo
sắc lệnh số 15/SL của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Sau đó, Ngân hàng Quốc gia Việt
Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và có hệ thống tổ chức thống
Trang 18
nhất từ Trung ương đến địa phương theo địa giới hành chính do Nhà nước độc
quyền sở hữu và quản lý.
Miền Nam: Ngày 31/12/1954 Bảo Đại ký dụ số 48 thành lập Ngân hàng Quốc
hình thành Hệ thống Kho bạc Nhà nước.
- Thứ hai: thành lập hệ thống Ngân hàng chuyên doanh và tách chức năng kinh
doanh của NHNN giao về cho các ngân hàng chuyên doanh.
Như vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức thành hệ thống ngân hàng
2 cấp bao gồm: NHNN và các Ngân hàng chuyên doanh (Ngân hàng Công Thương
Việt Nam, Ngân hàng Phát Triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Đầu Tư Xây
Dựng Việt Nam và Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam) kinh doanh theo nh
ững
lĩnh vực tương ứng tên gọi.
Tuy nhiên, Nghị định 53/HĐBT vẫn còn bộc lộ những khuyết điểm: độc quyền
Nhà nước, chưa cho phép các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động ngân
hàng; chưa chú trọng đến vai trò hoạt động như một NHTW của NHNN; hệ thống
ngân hàng tổ chức theo kiểu này còn khác nhiều so với hệ thống ngân hàng của các
nước có nền kinh tế thị trường.
Đợ
t cải tổ lần thứ 2 (từ năm 1990 đến năm 2000):
- Yêu cầu chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh doanh tập trung bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước cùng với chủ trương phát triển
nền kinh tế đa thành phần đã tạo nên áp lực phải tiếp tục cải tổ hệ thống
ngân hàng. Ngày 23/05/1990 Hội Đồng Nhà n
ước ban hành pháp lệnh về
NHNN và pháp lệnh về các NHNN đóng vai trò NHTW.
- Các TCTD (gồm NHTM, ngân hàng đầu tư phát triển, công ty tài chính và
hợp tác xã tín dụng) đóng vai trò ngân hàng trung gian.
Những điểm cải tiến:
- Xóa bỏ được tính chất độc quyền Nhà nước trong hoạt động ngân hàng bằng
cách cho phép thành lập NHTM thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Đã
có sự hiện diện và hoạt động của ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân
hàng nước ngoài góp phần hỗ trợ cho việ
c thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Bảng 2.1: Phát triển NHTM giai đoạn từ năm 1991 đến nay
LOẠI HÌNH 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2006
NH TM Quốc doanh 4 4 4 5 5 5 5
NH Chính sách xã hội 1 1 1 1
NH TMCP 4 41 48 51 48 39 37
NH Liên doanh 1 3 4 4 4 4 5
Chi nhánh NH nước ngoài 0 8 18 24 26 26 31
CỘNG 9 56 74 85 84 75 79
Nguồn: website NHNN (www.sbv.gov.vn)
Mặc dù có sự gia tăng mạnh số lượng NHTM Việt Nam kể từ năm 1993, đặc biệt
là NHTM cổ phần, nhưng nhìn chung quy mô ngân hàng còn nhỏ bé nên hiệu quả
hoạt động và sức cạnh tranh không cao. Đứng trước tình hình đó, một số NHTM cổ
phần đã sáp nhập lại. Từ năm 2001 đến nay, các NHTM Việt Nam bước vào thời kỳ
củng cố, nâng cao trình độ nghiệp vụ và công nghệ ngân hàng nhằ
m gia tăng sức
cạnh tranh, chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế ngành ngân hàng.
2.1.2 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam:
2.1.2.1 Huy động vốn nhàn rỗi.
Với thực tế hoạt động tín dụng vẫn chiếm vai trò chủ yếu trong hoạt động của
Ngân hàng thì hoạt động huy động vốn chiếm một vị trí rất quan trọng. Để hoạt
động cho vay mang lại hiệu quả cao thì một trong nh
ững nhân tố chính là nguồn
vốn huy động phải dồi dào.
Với các hình thức đa dạng, tình hình huy động vốn của hệ thống NHTM tăng dần
qua các năm, năm 2004 tổng huy động đạt trên 481 ngàn tỷ đồng, sang năm 2005
đạt trên 611 ngàn tỷ, năm 2006 ước lượng đạt trên 783 ngàn tỷ, có thể tổng kết tình
hình huy động trong thời gian qua như sau:
Trang 22
Tiền gửi của các TCKT và cá nhân
320.896,00
52,50% 393.129,00 50,20%
Tiền gửi tiết kiệm
270.164,00
44,20% 331.262,00 42,30%
Phát hành giấy tờ có giá
20.170,00
3,30% 58.734,00 7,50%
Tổng cộng 611.230,00 100,00% 783.125,00 100,00%
Nguồn: website NHNN (www.sbv.gov.vn)
Tình hình huy động vốn trong thời gian qua vẫn là một bài toán khó đối với các
NHTM mà nhất là các ngân hàng nhỏ, mới thành lập. do đó, để thu hút nguồn tiền
gửi các NHTM thường dùng biện pháp tăng lãi suất tiền gửi, khuyến mãi…Có thể
thấy được tình hình lãi suất huy động trong năm 2006 như sau:
Trang 23
Bảng 2.3: Lãi suất huy động năm 2006
Đơn vị tính: %/năm
Nguồn: website NHNN (www.sbv.gov.vn)
2.1.2.2 Thực trạng tín dụng:
Thời gian gần đây, các NHTM bắt đầu chú ý nâng cao chất lượng tín dụng,
không còn chạy đua tăng trưởng dư nợ vay như giai đoạn trước. Vào thời điểm cuối
Tăng so với
năm 2005
Mức lãi
suất phổ
biến
Tăng so với đầu
năm
Loại kỳ hạn 3 tháng 7,8-8,52 0,02 3,8-4,25 0,75
Loại kỳ hạn 6 tháng 7,8-9,06 0,06-0,4 4-4,4 0,6
Loại kỳ hạn 12 tháng 8,4-9,48 0,16-0,32 4,52-5,2 0,47-1
Loại kỳ hạn 24 tháng 9,3-10,02 0,18-0,9 4,8-5,3 0,3-0,4
Đvt: tỷ đồng
Trang 24
Tỷ lệ nợ xấu cao, tập trung ở khối NHTM quốc doanh. Theo tiêu chuẩn kế toán
Việt Nam, nợ quá hạn so với tổng dư nợ đến cuối năm 2004 ở mức 5%, nhưng theo
chuẩn mực kế toán quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu so tổng dư nợ sẽ cao hơn nhiều.
Bảng 2.4: Tình hình nợ quá hạn tại các TCTD
DANH MỤC 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng dư nợ (tỷ đồng) 232.026 283.535 364.088 462.028 578.456
Dư nợ quá hạn (tỷ đồng) 20.186 22.683 21.117 23.563 31.815
Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ (%) 8,7% 8,0% 5,8% 5,1% 5,5%
Nguồn: website NHNN (www.sbv.gov.vn)
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN về “phân loại nợ,
trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
của TCTD” là bước đột phá để việc đánh giá các khoản nợ tiến dần đến thông lệ
quốc tế. Tỷ lệ nợ quá hạn sau khi phân loại theo quyết định mới này đang có dấu
hiệu gia tăng mạnh. Việc phân loạ
i nợ và trích dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn mới
đòi hỏi các NHTM phải có một cách nhìn linh hoạt hơn trong việc xác định lãi suất
cho vay nhằm bảo đảm bù đắp được rủi ro và có lợi nhuận.
Khi lạm phát đã được kiềm chế và đẩy lùi tương đối thấp, ngân hàng bắt đầu có
điều kiện thực hiện CSLS thực dương, tức là lạm phát < lãi suất huy động < lãi suất
cho vay. Từ tháng 10/1992, NHNN bắt đầu từng bước thực hiện lãi suất thực dương,
tuy nhiên NHNN vẫn quy định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể. Lãi suất
giữ
a các thành phần kinh tế vẫn có sự phân biệt: lãi suất cho vay đối với DN quốc
doanh thấp hơn DN ngoài quốc doanh, lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn lãi suất
cho vay trung dài hạn.
Từ tháng 9/1993, NHNN cho phép thêm các TCTD được cho vay theo lãi suất
thỏa thuận vượt mức lãi suất cho vay cụ thể. Theo quyết định 184/QĐ-NH1 ngày
28/09/1993 thì lãi suất cho vay đối với DNNN là 1,8%/tháng, lãi suất cho vay thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh là 2,1%/tháng. Tuy nhiên, nếu vốn huy động tiết
kiệm và tiền gửi theo các mức lãi su
ất quy định mà không đủ để cho vay thì các
TCTD được phép phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ
hạn tối đa 0,2%/tháng và cho vay với lãi suất cao hơn mức 2,1%/tháng trên cơ sở
thỏa thuận với khách hàng. Các NHTM đã phát huy tích cực yếu tố này làm cho
mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động khá cao, phổ biến từ 0,7-
1,0%/tháng, cho nên hầu hết các NHTM đều đạt lợi nhuận cao, trong khi các DN lại
gặp khó khă
n về tài chính vì gánh nặng trả lãi lớn. Từ thực trạng này, Quốc hội khóa