Phương pháp xác định lãi xuất cho vay qua đánh giá tín dụng Doanh nghiệp - Pdf 94

Trang 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT CHO VAY...............................7
1.1. Khái niệm lãi suất: .........................................................................................7
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất cho vay:..............................................9
1.3. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường:.....................................10
1.4. Quản trị lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM:.....................11
1.4.1. Rủi ro lãi suất: .........................................................................................11
1.4.2. Mục tiêu quản trị lãi suất: .......................................................................12
1.4.3. Các phương thức quản lý lãi suất cho vay:.............................................13
1.4.4. Kỹ thuật phòng chống rủi ro lãi suất:......................................................16
1.5. Những phương pháp xác định lãi suất cho vay của NHTM: ...................16
1.5.1. Lãi suất cho vay dựa trên tổng hợp chi phí:............................................16
1.5.2. Lãi suất cho vay theo lãi suất cơ sở: .......................................................17
1.5.3. Lãi suất cho vay theo chi phí-lợi ích:......................................................19
1.6. Vấn đề tự do hóa lãi suất ở một số quốc gia Châu Á:...............................21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ XÁC ĐỊNH LÃI
SUẤT CHO VAY TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM................................................
24
2.1. Khái niệm về NHTM: ..................................................................................24
2.2. Quá trình hình thành, phát triển hệ thống Ngân hàng Việt Nam:..........25
2.2.1. Giai đoạn đầu của quá trình hình thành: .................................................25
2.2.2. Các đợt cải tổ hệ thống ngân hàng:.........................................................26
2.3. Phân loại các khoản cho vay của NHTM:..................................................29
Trang 2
2.3.1. Theo tính chất rủi ro của khoản vay:.......................................................29
2.3.2. Dựa vào thời gian cho vay. .....................................................................30
2.3.3. Phân loại theo phương thức cho vay:......................................................31
2.4. Hoạt động tín dụng của NHTM Việt Nam: ...............................................32
2.4.1 Thực trạng tín dụng:.................................................................................32

định lãi suất cho vay: ..........................................................................................
64
3.6.1. Xếp hạng DN theo chỉ tiêu đánh giá DN:...............................................64
3.6.2. Xếp loại khoản vay theo chỉ tiêu đánh giá rủi ro khoản vay: .................65
3.6.3. Công thức xác định lãi suất cho vay: ......................................................66
3.6.4. Xác định lãi suất cho vay đối với DN theo mô hình phân tích rủi ro tín
dụng:..................................................................................................................
67
3.6.5. Các chính sách lãi suất cho vay của NHTM:..........................................69
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................72

Trang 4
PHẦN MỞ ĐẦU
" *** #
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây vai trò của lãi suất ngân hàng rất mờ
nhạt, lãi suất thường được đưa ra bởi các quyết định mang tính chất chủ quan. Sau
khi chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, NHNN đã
từng bước sử dụng và điều hành công cụ lãi suất ngày một phù hợp, chuy
ển từ kiểm
soát lãi suất trực tiếp sang cơ chế lãi suất thỏa thuận.
Cơ chế tự do hóa lãi suất làm cho lãi suất thực sự là giá cả tiền tệ hình thành chủ
yếu thông qua quan hệ cung cầu vốn trên thị trường. Lãi suất là yếu tố quan trọng,
tác động từ yếu tố "đầu vào" đến yếu tố "đầu ra" trong hoạt động của NHTM, là
công cụ quan trọng để nâng cao tính cạnh tranh theo
đặc điểm riêng có của từng
NHTM. Việc tự do hóa lãi suất giúp NHTM nâng cao tính chủ động trong việc định
giá sản phẩm của mình, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động cũng đồng thời đòi hỏi
NHTM phải nâng cao trình độ quản lý vì tính phức tạp và biến động thường xuyên
của lãi suất.

các nhân tố cấu thành lãi suất cho vay cũng như phương pháp xác định lãi
suất cho vay một cách hợp lý, khoa học để vận dụng trong thực tiễn.
– Đối với các nghiên cứu tiếp theo: Kết quả của đề tài góp phần tạo thêm cơ sở
lý luận cho việc nghiên cứu về quản trị lãi suất trong hoạt động kinh doanh
NHTM.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Lấy chính sách lãi suất cho vay của hệ
thống NHTM, các cơ sở lý luận về lãi suất
làm tiền đề và các khoản cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp làm phạm vi
nghiên cứu.
4. Phương pháp luận nghiên cứu:
Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và các lý thuyết về lãi suất làm
phương pháp nghiên cứu. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng tại các NHTM,
thông qua phân tích đánh giá doanh nghiệp và khoản vay để đưa ra mô hình xác
Trang 6
định lãi suất vay phù hợp và mang tính ứng dụng thực tiễn cao trong hoạt động của
các NHTM Việt Nam.
5. Kết cấu của luận văn:
Với mục tiêu và phương pháp luận trình bày ở trên, luận văn gồm 68 trang (chưa
tính phần phụ lục), có 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận, trong đó phần nội dung
được chia làm 03 chương lớn:
A. Phần mở đầu – giới thiệu ý nghĩa, m
ục đích, phạm vi cũng như phương
pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài.
B. Phần nội dung – bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về lãi suất cho vay.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và xác định lãi suất cho vay tại
các NHTM Việt Nam.
Chương 3: Xây dựng phương pháp xác định lãi suất cho vay qua đánh giá
tín dụng doanh nghiệp phù hợp với NHTM Việt Nam.

Khi bàn về bản chất của lãi suất, người ta thường đề cập đến quan niệm của Mác:
Thông qua hình thức biểu hiện, lãi suất là giá cả của vốn cho vay như một loại hàng
hóa, giá cả của hàng hóa biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa còn giá cả của vốn
cho vay biểu hiện trực tiếp bằng lãi suất. Như vậy, lợi tức tín dụng là một phần của
giá trị
thặng dư mà nhà tư bản sản xuất phân chia cho nhà tư bản tài chính dưới hình
thức giá cả vốn cho vay nhằm chuyển dịch vốn tiền tệ sang hàng hóa trong thời gian
cho vay. Như là một hình thái đặc biệt của lợi nhuận, lợi tức tín dụng có một độ lớn 1
Ngân hàng thương mại-GS.TS. Lê Văn Tư
Trang 8
nào đó và độ lớn này được biểu hiện thông qua tỷ lệ % mà người ta quen gọi là lãi
suất. Lãi suất được hình thành từ tỷ suất lợi nhuận của nhà sản xuất và trong mối
quan hệ tỷ lệ với sự phân chia tổng số lợi nhuận giữa người vay và người cho vay.
Vì vậy lãi suất có thể mở rộng đến một giới hạn tối đa gần bằng với tỷ
suất lợi
nhuận bình quân của nhà sản xuất hoặc đến một giới hạn tối thiểu mà nhà tư bản
cho vay có thể chấp nhận. Nguồn gốc của lãi suất là giá trị thặng dư, lãi suất là giá
trị của quyền sử dụng vốn.
Theo các nhà kinh tế học hiện đại trên quan điểm kinh tế ứng dụng thì lãi suất là
giá mua và giá bán quyền sử dụng vốn, như lãi suấ
t tiền gởi tiết kiệm chính là phần
thưởng cho sự tiết chế tiêu dùng trong hiện tại để có một sự tiêu dùng lớn hơn trong
tương lai. Quan niệm này xuất phát từ đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính hoàn
trả, dù người đi vay trong hoạt động có tạo được giá trị thặng dư hay không thì việc
trả nợ gốc và lãi vay là trách nhiệm của người đi vay. Khái niệm này có ý nghĩa về
mặ
t kinh tế hết sức quan trọng, nó bổ sung về mặt lý luận cho khái niệm về lãi suất

– Lợ
i tức hay số tiền phải trả (interest) là chi phí biểu hiện bằng số tuyệt đối. Ví
dụ như số tiền cho vay là là 500 triệu đồng, thời hạn cho vay là 1 năm và số
tiền lãi phải trả là 60 triệu đồng.
– Lãi suất (interest rate) là chi phí phải trả thể hiện theo tỷ lệ phần trăm (%),
đây là quan hệ giữa tiền lãi phải trả, số tiền cho vay và thời hạn cho vay. Ví
dụ trên cho thấy lãi su
ất cho vay là 0,12 hay 12%/năm, lãi suất là tỷ lệ giữa
tổng số tiền lãi thu được so với tổng số vốn đã cho vay trong một thời gian
nhất định.
Lãi suất được thể hiện trên thị trường là lãi suất danh nghĩa, trong khi đó lãi suất
thực là lãi suất được điều chỉnh lại đúng theo những thay đổi dự tính về giá. Theo
Fisher thì: lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát. Nh
ư vậy, lãi suất
thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát. Việc phân biệt lãi suất thực và lãi suất
danh nghĩa có ý nghĩa quan trọng vì lãi suất thực phản ảnh chi phí thực của việc vay
tiền. CSLS thực chứ không phải lãi suất danh nghĩa ảnh hưởng đến đầu tư, tái phân
phối thu nhập giữa người vay, người cho vay và sự lưu thông của dòng vốn.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi su
ất cho vay:
Lãi suất đối với một khoản cho vay nào đó được xác định trên cơ sở thị trường
thông qua quá trình tác động qua lại giữa cung và cầu tiền vay. Do đó, trong nền
kinh tế thị trường, lãi suất hay giá cả của khoản vay được xác định tại mức giao
nhau của đường cung vốn vay và đường cầu vốn vay.
Đồ thị 1.1: Lãi suất theo cung-cầu vốn
Điểm cân
Đường cung vốn

ất kinh doanh của DN: Lãi suất hợp lý
và mang tính chất ổn định giúp DN tính toán được lợi nhuận dự kiến thu về từ các
phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư vì vậy nắm bắt và triển khai kịp thời
các cơ hội kinh doanh. Đồng thời với một lãi suất hợp lý, các DN sẽ có lợi nhuận
sau khi trừ đi chi phí trả lãi tiền vay, kích thích các DN mở rộng đầu tư, thực hiện
tái sản xu
ất, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Trái lại, lãi suất bất hợp lý sẽ ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN: lãi suất quá thấp làm
cho DN đẩy mạnh vay vốn quá mức, dẫn đến một số trường hợp không đảm bảo
Trang 11
khả năng trả nợ vay; lãi suất quá cao dẫn đến DN dè dặt, không dám vay vốn, mất
cơ hội kinh doanh và NHTM bị ứ đọng nguồn vốn.
Lãi suất là phương tiện trung gian trong điều hành kinh tế vĩ mô: sự thay đổi của
lãi suất tác động đến cân đối cung cầu hàng hóa.
Điều 16-Luật Ngân hàng nhà nước: “Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
NHNN sử dụng các công cụ tái cấp vốn, lãi suất, t
ỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc,
nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác do Thống đốc quyết định”. Như vậy
lãi suất cũng là một trong những công cụ để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất là công cụ tác động mạnh mẽ đến lạm phát-thất nghiệp: Để kéo giảm
mức lạm phát trong trường hợp nền kinh tế đang lạ
m phát cao, NHNN có thể can
thiệp gián tiếp vào các NHTM (quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn) thông
qua đó NHTM nâng lãi suất tiền gởi để thu hút vốn vào NHTM làm tiền trong lưu
thông giảm → nhu cầu tiêu dùng giảm → giá cả hàng hóa giảm. Trái lại, việc giảm
lãi suất sẽ đẩy mạnh tiêu dùng → kích thích sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm
mới → giảm thiểu thất nghiệp.
Lãi su
ất là công cụ để đo lường sức khỏe của nền kinh tế: Căn cứ các biến động
của lãi suất để dự báo các yếu tố khác như tính sinh lời của cơ hội đầu tư, lạm phát

quản lý nào, các NHTM cũng khó có thể loại bỏ hoàn toàn một trong những rủi ro
tiềm tàng và nguy hiểm nhất đó là rủi ro lãi suất. Khi lãi suất thị trường thay đổi,
NHTM nhận thấy rằng những nguồn thu chính từ danh mục cho vay cũng như chi
phí đối với các loại tiền gởi đều bị tác động, NHTM phải đương đầ
u với ít nhất 2
loại rủi ro lãi suất là:
– Rủi ro về giá: phát sinh khi lãi suất thị trường tăng làm giảm giá trị hầu hết
các khoản cho vay với lãi suất cố định.
– Rủi ro tái đầu tư: xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm khiến NHTM phải
chấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình đã huy động trước đó vào những
Tài sản mức sinh l
ợi thấp hơn.
1.4.2. Mục tiêu quản trị lãi suất:
Quản trị là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản trị
đến đối tượng chịu sự quản trị nhằm phát huy, sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng và cơ
hội để đạt mục tiêu đề ra.
Quản trị ngân hàng là hệ thống hoạt động thố
ng nhất phối hợp và liên kết các quá
trình lao động của các thành viên trong ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu kinh
doanh trong mỗi thời kỳ với phương châm tối ưu hóa chi phí được sử dụng và gia
tăng lợi nhuận. NHTM cũng giống như các DN khác trong nền kinh tế thị trường,
do đó để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất, đạt lợi nhuận tối ưu trong môi trường
NIM =
Thu từ lãi trên các khoản
cho vay và đầu tư
Chi phí trả lãi tiền
gởi và tiền vay
Tổng tài sản sinh lời
_
Thu nhập từ lãi

i đại Hy Lạp):
các ngân hàng đưa ra các thang lãi suất đã lập sẵn để thông báo cho khách hàng.
Khách hàng vay sẽ được áp dụng một mức lãi suất cho vay cố định trong suốt thời
gian vay. Việc cố định lãi suất cho vay chỉ được áp dụng phổ biến từ thập niên 60
Trang 14
của thế kỷ trước trở về trước. Lãi suất cho vay cố định hiện nay thường chỉ áp dụng
đối với các khoản vay ngắn hạn.
– Ưu điểm: Ước tính được khá chính xác thu nhập từ mỗi khoản vay. Chủ động
tính được lãi suất cần đưa ra để huy động tiền gởi và các loại Nợ khác.
– Nhược điểm: Ngân hàng tự hạn chế mình về kh
ả năng cho vay và đầu tư.
Việc cố định lãi suất cho vay dẫn đến đòi hỏi ngân hàng cũng phải cố định
luôn lãi suất huy động nhằm tránh rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, trong thị trường
đòi hỏi tính cạnh tranh cao thì việc cố định lãi suất huy động là khó thực hiện
được do ngân hàng luôn phải điều chỉnh mức lãi suất huy động phù hợp với
diễn biến thực tế trên thị trường.
1.4.3.2. Cho vay với lãi suất có điều chỉnh:
Để giảm thiểu rủi ro khi lãi suất trên thị trường thay đổi mà đặc biệt là các khoản
vay trung-dài hạn, các NHTM thường quy định lãi suất thành 2 phần: phần chi phí
huy động vốn (thường tính bằng lãi suất huy động tiết kiệm kỳ hạn 12 hoặc 24
tháng của NHTM-được điều chỉnh định kỳ để phù hợp lãi suất thị trường) + phần
biên độ (không thay đổi trong su
ốt thời gian vay).
1.4.3.3. Sự linh hoạt trong lãi suất cho vay:
Khi áp đặt mức lãi suất cho vay, NHTM quản lý Tài sản theo hướng lãi suất để
có lợi nhuận nên phải đi tìm khách hàng chấp nhận lãi suất cho vay mà NHTM đưa
ra chứ người vay không thể thương lượng về lãi suất. Khi đó, NHTM quan tâm đến
lợi nhuận trong ngắn hạn mà chưa có sự uyển chuyển đối với từng khách hàng.
Trái lại, khi NHTM linh hoạt trong xác định lãi suất vay theo thị trường và theo
k

những thương vụ vẫn đảm bảo an toàn nhưng lợi nhuận cao như kinh doanh
bất động sản, kinh doanh theo mùa vụ... ngân hàng có thể cho vay với lãi suất
thật cao ví dụ 15%-16%/năm. Đối với phần tiền huy động còn lại, để tránh bị

đọng vốn ngân hàng vẫn có thể cho vay ở mức dưới 6%-7%/năm. Bằng
cách cân đối tỷ lệ vốn vay ứng với từng mức lãi suất, ngân hàng vẫn đảm bảo
đạt mục tiêu đã đề ra, sự bù đắp qua lại giữa các loại Tài sản là chiến lược chủ
chốt để đạt mục tiêu của ngân hàng.
Trang 16
1.4.4. Kỹ thuật phòng chống rủi ro lãi suất:
Các kỹ thuật phòng chống rủi ro lãi suất hiện nay đã bắt đầu được các NHTM
Việt Nam quan tâm như các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau, hợp đồng quyền
chọn và hợp đồng hoán đổi lãi suất (hay còn gọi là các công cụ phái sinh về lãi suất-
Interest Rate Derivatives). Công việc này thường được giao cho tổ nghiệp vụ quản
lý Tài sản-Nợ thuộc phòng kế hoạch nguồ
n vốn của NHTM. Tuy nhiên, trong phạm
vi đề tài này, tác giả sẽ không đi sâu phân tích các kỹ thuật phòng chống rủi ro như
vừa nêu cũng như các công tác quản trị Tài sản-Nợ của NHTM.
1.5. Những phương pháp xác định lãi suất cho vay của NHTM:
Các NHTM khi cho vay luôn mong muốn nhận được lãi suất cao để bù đắp hoàn
toàn rủi ro liên quan đến khoản vay và đảm bảo mức lợi nhuận mong muốn. Tuy
nhiên, lãi suất cũng cần ở mức hợp lý để t
ạo điều kiện cho bên vay có thể thanh
toán nợ gốc, lãi vay mà không phải tìm tới những người cho vay khác hay các
nguồn vốn khác trên thị trường. Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng ngày càng
cao, NHTM càng cần phải duy trì giá của các khoản tín dụng tại mức hợp lý, phù
hợp với mặt bằng chung. Trong thị trường cạnh tranh cao, NHTM chỉ có thể đóng
vai trò là người chấp nhận giá mà không thể là người đặt giá. Như vậy, việc đưa ra
mộ
t mức lãi suất cho vay hợp lý đảm bảo cạnh tranh được, bù đắp được rủi ro từng

phải huy động USD dài hạn trên thị trường với lãi phải trả
là 5%/năm như vậy chi
phí huy động vốn là 5%; chi phí hoạt động là 0,7%; sau khi phân tích đánh giá
khoản vay, NHTM yêu cầu phần bù rủi ro đối với khoản vay này là 2%; mức lợi
nhuận mà NHTM mong đợi là 1,7%. Như vậy, để cho vay khoản vay này, NHTM
sẽ yêu cầu một mức lãi suất đối với khách hàng là = 5%+0,7%+2%+1,7% =
9,4%/năm.
1.5.2. Lãi suất cho vay theo lãi suất cơ sở:
Hạn chế của việc xác định lãi suất cho vay theo phương pháp tổng hợp chi phí là
nó giả thiế
t rằng ngân hàng xác định được chính xác những chi phí trong hoạt động.
Thực tế ngân hàng thường phải đối mặt với những khó khăn trong việc phân bổ chi
phí hoạt động cho rất nhiều dịch vụ khác nhau trong hoạt động ngân hàng. Hơn nữa
phương pháp tổng hợp chi phí giả định rằng ngân hàng có thể định giá khoản vay
mà không cần tính tới yếu tố cạnh tranh trên thị trường tín dụng và bỏ qua yếu tố
thờ
i gian vay. Điều này là khó thực hiện đối với thực tế cho vay hiện nay, do việc
cạnh tranh ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận dự kiến của một khoản vay.
Do vậy, người ta đưa ra khái niệm lãi suất cơ sở (prime rate) hay còn gọi là lãi
suất tham chiếu. Lãi suất cơ sở được xem như là lãi suất thấp nhất mà ngân hàng áp
dụng trên các khoản cho vay ngắn hạn đối với các khách hàng có chất l
ượng tín
dụng cao nhất. Lãi suất đối với từng món vay cụ thể được xác định như sau:
Lãi suất

đi vay thứ hai chất lượng tín dụng thấp hơn phải chịu lãi suất ở mức cao hơn là
12%/năm thì người đi vay thứ hai buộc phải thực hiện chiến lược kinh doanh r
ủi ro
hơn với cơ hội thành công ít hơn để thanh toán một khoản lãi vay cao. Chiến lược
kinh doanh như vậy là khá mạo hiểm, làm suy giảm khả năng trả nợ (gốc và lãi vay)
và từ đó có nguy cơ làm giảm sút lợi nhuận của ngân hàng.
Trên thế giới, lãi suất cơ sở dần bị thay thế bởi lãi suất cho vay trên thị trường
liên ngân hàng LIBOR hay SIBOR vì tính thông dụng và ổn định của loại lãi suất
này [cung cấp cho ngân hàng (c
ả trong nước và ngoài nước) một tiêu chuẩn chung
trong việc định giá các khoản cho vay, giúp người vay có thể so sánh hợp đồng vay
vốn giữa các ngân hàng]. Tại Việt Nam hiện nay hầu hết các khoản cho vay ngoại tệ
NHTM đều sử dụng lãi suất SIBOR (6 tháng hoặc 12 tháng) + biên độ nhất định
(gồm lợi nhuận mong đợi, phần bù rủi ro tín dụng và phần bù rủi ro kỳ hạn) tùy
thuộc vào từng nhóm khách hàng. Bảng 1.2: lãi suất USD ngày 25/11/2005
Trang 19
KỲ HẠN LIBOR SIBOR
01 tháng 4,20% 4,20%
03 tháng 4,40% 4,40%
06 tháng 4,57% 4,58%
12 tháng 4,74% 4,75%
Nguồn: thông tin Reuter Limited
Do vậy, giả sử Công ty cổ phần dầu thực vật Tường An đề nghị vay 10 triệu
USD trong thời gian 5 năm, lãi suất cho vay được xác định như sau:
Lãi suất cho vay = SIBOR 6 tháng + lợi nhuận mong đợi + phần bù rủi ro tín
dụng + phần bù rủi ro kỳ hạn = 4,58% + 1,7% + 2% + 0,7% = 7,98%/năm.
Trong thực tế xác định lãi suất, đối với các khoản vay nhỏ lẻ NHTM cũng cần

của việc phân tích khả năng sinh lời mà khách hàng mang lại cho ngân hàng. Phân
tích này dựa trên giả định rằng ngân hàng nên xem xét toàn b
ộ quan hệ khách hàng
khi tính toán giá của khoản cho vay. Mối quan hệ này được trình bày như sau:

Trong đó:
− Thu từ khách hàng gồm: lãi tiền vay, các khoản phí cam kết, phí cho dịch vụ
quản lý, thanh toán và xử lý dữ liệu.
− Chi phí phục vụ khách hàng gồm: tiền lương nhân viên, lãi phải trả trên các
khoản vốn huy động để phục vụ cho vay, chi phí thẩm định tín dụng, chi phí
quản lý liên quan (quản lý, khấu hao, công cụ dụng cụ...) phân bổ tương ứng
Tỷ lệ thu nhập (trước
thuế) dựa trên tổng
thể các mối quan hệ
với khách hàng
Thu từ khách
hàng
Chi phí phục vụ khách
hàn
g
Giá trị cho vay ròng
=
_
Trang 21
khoản vay. Việc phân bổ một cách hợp lý các khoản chi phí này trong thực tế
là tương đối khó khăn.
− Giá trị cho vay ròng: là giá trị lượng tín dụng mà khách hàng sử dụng.

Rút kinh nghiệm, việc tự do hóa lãi suất sau đó diễn ra từng bước thận trọng hơn
và có thể chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1- từ tháng 10/1991: tự do hóa lãi suất cho vay ngắn hạn, chiết khấu
thương phiếu, tự do hóa các khoản tiền gởi (gồm tiền gởi ngắn hạn có mệnh giá cao,
chứng chỉ tiền gởi, tiền gởi tiết kiệm kỳ hạn trên 3 năm).
Giai đoạ
n 2- từ tháng 12/1993: tự do hóa lãi suất cho vay (trừ các khoản vay
được Chính phủ và NHTW tài trợ), tự do hóa lãi suất huy động tiền gởi có kỳ hạn
lớn hơn 2 năm và lãi suất trái phiếu chính phủ.
Giai đoạn 3- từ tháng 6/1994: tự do hóa hoàn toàn lãi suất cho vay, tự do hóa lãi
suất huy động, thời gian đáo hạn tối thiểu của các giấy tờ có giá trên thị trường như
chứng chỉ tiền gởi, thương phiếu được rút từ 90 ngày xu
ống còn 30 ngày đồng thời
mệnh giá tối thiểu cũng giảm bớt.
Giai đoạn 4- từ tháng 7/1995: bỏ hoàn toàn quy định về thời gian đáo hạn và
mệnh giá tối thiểu của các giấy tờ có giá (trừ mệnh giá tối thiểu chứng chỉ tiền gởi).
Malaysia: Các quy định về kiểm soát lãi suất tiền gởi tối đa và lãi suất cho vay
tối đa được xóa bỏ từ tháng 10/1989.
Singapore: Các quy đị
nh về khống chế mức lãi suất tiền gởi và cho vay được bãi
bỏ từ tháng 7/1976.
Trung Quốc: NHTW hiện vẫn tiếp tục thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản đối với
tiền gởi (không kỳ hạn, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm) và tiền vay
(6 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm) đồng thời cho phép các NHTM ấn định lãi suất cho
vay trong giới hạn biên độ trên là từ 10% đến 30%.
2.1. Khái niệm về NHTM:
NHTM được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của xã hội
loài người. NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với khách hàng tổ chức, cá
nhân bằng cách nhận tiền gởi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng tiền đó để cho vay; chiết
khấu; cung cấp các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác.
Theo Peter S.Rose
6
“Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng
nhất của nền kinh tế, Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu
dùng và với hầu hết các Cơ quan, Chính quyền địa phương. Khi DN và người tiêu
dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa, dịch vụ, họ thường sử dụng séc,
thẻ tín dụng, tài khoản điện tử của Ngân hàng. Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một
trong những thành viên quan trọng nhất trên thị trườ
ng tín phiếu và trái phiếu do
chính quyền địa phương phát hành để tài trợ cho các công trình công cộng, từ
những hội trường, sân bóng đá, sân bay đến đường cao tốc. Ngân hàng cũng là một
trong những tổ chức tài chính cung cấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các DN”.
Theo Edward W.Reed và Edward K.Gill
7
thì "NHTM là một tổ chức kinh doanh
được điều hành một cách chặt chẽ nhất. Ít có lĩnh vực kinh doanh nào bị kiểm tra
thường xuyên và quản trị chặt chẽ bởi các nhà chức trách và các nhà quản trị để
xem chúng có hoạt động phù hợp với những nguyên tắc của luật pháp và những quy
định hay không. Sở dĩ có điều đó là do bản chất cộng đồng của nó".
Theo quy định trong luật các Tổ chức tín dụ
ng 1997 thì "Ngân hàng là loại hình
TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh
khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng
sắc lệnh số 15/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Ngân hàng Quốc gia Việt
Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và có hệ thống tổ chức thống
nhất từ Trung ương đến địa phương theo địa giới hành chính do Nhà nước độc
quyền sở hữu và quả
n lý.

Trích đoạn Vấn đề xác định lãi suất cho vay tại các NHTM Việt Nam: Giai đoạn từ tháng 6/1992 đến tháng 7/2000: Giai đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 5/2002 Giai đoạn từ tháng 5/2002 đến nay Nguyên nhân tồn tại:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status